Dạy học xưa nay với vấn đề “lấy người học làm trung tâm”

Hoạt động dạy học chuyển từ dạy làm chính sang học làm chính. Nguồn: tin247.com

Hoạt động tập huấn tiếp cận quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” kéo dài hai đêm do Dự án Trig hỗ trợ dưới sự hướng dẫn của thầy Giang Văn Phúc và thầy Trần Văn Răng đã thật sự thổi bùng lên lòng nhiệt huyết và phấn đấu hết mình trong công tác giảng dạy ở không ít giảng viên. Sau khi tham khảo tài liệu do Ban tổ chức phát ra, cá nhân người viết ngoài việc thu thập được nhiều kiến thức bỗ ích về phương pháp dạy và học, lí luận dạy học hiện đại, vẫn còn tồn tại những băn khoăn trăn trở, thiết nghĩ nên trình bày thẳng thắn những băn khoăn đó ra đây để mọi người cùng suy nghĩ và thảo luận.

Đầu tiên cần phải khẳng định một điều là “Dạy học lấy người học làm trung tâm” không phải là một phương pháp dạy học mà là một quan điểm chi phối quá trình dạy học. Và như vậy thì không thể nào tồn tại quan điểm: đem quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” kết hợp với các phương pháp dạy học đã có sẽ cho ra đời phương pháp “Dạy học lấy người học làm trung tâm”. Vì vậy, việc cụm từ này được lặp đi lặp lại nhiều lần phải chăng là một sự nhầm lẫn của người viết bài và người báo cáo. Nhà nghiên cứu giáo dục Tim Wentling năm 1993 đã chỉ ra 8 phương pháp dạy học chính, đó là: (1) Phương pháp diễn giảng (thuyết trình), (2) Phương pháp thảo luận nhóm (hội thảo, xêmina…), (3) Phương pháp trình diễn (thực hành, thực tập…), (4) Phương pháp tự học (tự nghiên cứu…), (5) Phương pháp bài luyện (bài tập lớn, ôn luyện…), (6) Phương pháp nghiên cứu điển hình (trường hợp, tình huống…), (7) Phương pháp đóng vai, (8) Phương pháp tham quan thực tế.[1] Có thể thấy rằng, phương pháp dạy học là cách thức tổ chức quá trình dạy học để trao đổi, truyền đạt, tiếp thu, tìm tòi, sáng tạo tri thức giữa người dạy với người học và giữa người học với nhau. Trong khi đó, “Dạy học lấy người học làm trung tâm” chỉ là một quan điểm chi phối toàn bộ quá trình dạy học bằng chính các phương pháp dạy học đó.

Một điều khác cần phải khẳng định nữa là, quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” không phải đến nay mới có mà có thể nói đã tồn tại từ rất xa xưa. Cũng vậy, các phương pháp dạy học không phải đến bây giờ mới hình thành mà nó cũng đã từng được vận dụng từ rất lâu trong lịch sử giáo dục. Vấn đề ở chỗ ở những thời điểm xa xưa ấy, lý luận giáo dục học chưa hình thành nên việc đúc kết quan điểm dạy học và phương pháp dạy học đương nhiên không giống hiện nay. Trong bài viết này, người viết muốn đi sâu lý giải sự tồn tại của quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” trong quá khứ và việc vận dụng các phương pháp dạy học qua các thời. Từ đó, người viết hy vọng có thể làm rõ những nguyên nhân khiến cho quan điểm này không được phát huy mạnh mẽ ở nước ta và nhiều nước cho đến tận ngày nay.

Chúng ta đều biết việc dạy học thời xa xưa ẩn tàng dưới hình thức truyền đạt kinh nghiệm giữa các thế hệ có liên quan về huyết thống hay gần gũi địa bàn cư trú. Đó là những kinh nghiệm đối phó với thiên tai, kinh nghiệm lao động sản xuất, kinh nghiệm đạo đức thẩm mĩ, kinh nghiệm chống chiến tranh xâm lược… mang tính thực dụng cao, thiết thực cho thực tế cuộc sống. Dĩ nhiên khi đó, dạy học đã tồn tại, và không ai dám khẳng định rằng về mặt bản chất, hoạt động truyền đạt kinh nghiệm đó không lấy người học làm trung tâm, mặc dù lý luận giáo dục ở thời điểm đó hoàn toàn chưa ra đời. Con người nhờ tiếp thu những kinh nghiệm sống đó mà tiếp tục tồn tại và tiến bộ đến tận ngày nay.

Nhắc đến giáo dục truyền thống, không thể nào không nhắc đến quá trình dạy học giữa các bậc triết nhân nổi tiếng trong lịch sử loài người cùng với các học trò của mình. Đó là một Socrate ở phương Tây, một Jesus ở Trung Đông, một Khổng Tử ở Trung Hoa, một Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ và rất nhiều bậc vĩ nhân lỗi lạc khác. Không có nhiều thời gian để bàn bạc hết về quan điểm và phương pháp dạy học của các nhà giáo dục trên, người viết chỉ lấy Khổng Tử làm đối tượng chính để phân tích.

Rõ ràng, đến lúc này, hoạt động dạy học đã hiện ra một cách rõ ràng và chuyên nghiệp hơn so với trước đây, bằng chứng là có người chuyên môn là thầy giáo như Khổng Tử, có người lều chõng khăn gói đến trọ học lâu dài như các học trò của Khổng Tử, có nơi tập trung học tập lâu dài như nhà Khổng Tử. Và trong bối cảnh chiến tranh xâu xé quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến cát cứ, trật tự xã hội bị rối tung, đạo lý ở đời bị xem thường, con người chao đảo mất phương hướng… dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc, thì học thuyết Nho giáo với cốt lõi là thuyết chính danh, tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức… đã thật sự là món ăn tinh thần quý giá cho đám môn sinh mất niềm tin vào lẽ phải cuộc đời. Học thuyết của Khổng Tử góp phần thiết lập trật tự xã hội, xây dựng đạo đức và phẩm giá con người, nhờ vậy mà xuất hiện “Thất thập nhị hiền” và hàng loạt những tinh hoa anh tài của xã hội phong kiến. Không phấn trắng bảng đen, không thiết bị máy móc, những lời giảng đầy triết lý, có chiều sâu, xuất phát từ một nhân cách cao đẹp trong sáng, cộng với những phương pháp dạy học tích cực (diễn giảng, thảo luận nhóm, đóng vai, tự học, vấn đáp, tham quan thực tế…) đã thấm sâu vào lòng từng học trò, góp phần tạo nên những con người tài giỏi khác nhau. Khổng Tử không nằm lòng quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm”, nhưng chắc chắn ở ông tồn tại một quan niệm rằng, dạy học phải đi từ nhận thức đến nhận thức, từ tư duy đến tư duy, học trò của ông không phải răm rắp tuân theo những lời thầy dạy, mà nếu đọc Luận ngữ ta sẽ thấy, họ bàn bạc thảo luận thấu tình đạt lý trước khi chấp nhận quan điểm của thầy. Chúng ta không thể phủ nhận rằng cách dạy học đó đã quán triệt sâu sắc quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm”.

Vậy quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học ở phương Đông là từ khi nào? Xin được nói thẳng là từ khi “tri thức” bị độc quyền và biến thành kinh điển.

Người đời sau quá hâm một tư tưởng học thuyết Nho gia, gia công thêm bớt rồi lồng vào tủ kính, xem Tứ thư Ngũ kinh là sách vở của Thánh hiền, là chân lý tuyệt đối đúng bất di bất dịch, và đó cũng là lúc Nho gia chuyển thành Nho giáo. Hán Vũ Đế lên ngôi “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, đưa người học từ chỗ “Học gì cũng được, chỉ trừ sách vở Nho gia” dưới thời Tần Thủy Hoàng “đốt sách chôn Nho” sang chỗ “Không được học gì ngoài sách vở Nho gia”. Thế là chân lý bị độc quyền, người cầm quyền yêu cầu giới học sĩ chỉ cần học thuộc và làm theo, không cần bàn bạc thảo luận chi cả. Tứ thư Ngũ kinh về sau còn trở thành nội dung chủ yếu trong khoa cử, chỉ cần học thuộc chép lại là cũng có thể đỗ đạt, làm quan. Tư tưởng Nho gia từ chỗ là học thuyết xây dựng xã hội, làm người sống ở đời, giờ trở thành những câu sáo ngữ có thể giúp người học thăng quan tiến chức. Người thầy hiểu biết về Tứ thư Ngũ kinh vì vậy cũng được thần tượng hóa, được xem là nơi ngự trị của chân lý, công bằng, lẽ phải. Chính vì vậy, hoạt động dạy học chú trọng việc dạy hơn việc học, người thầy trở thành đối tượng hoạt động chính trong quá trình dạy học, lời thầy dạy trở thành khuôn vàng thước ngọc mà đám học trò không dám bàn cãi trái ngược. Thầy thuyết giảng nhiều hơn, trò ghi chép học thuộc lòng nhiều hơn, các hoạt động mang tính đối thoại giữa hai phía vắng bóng, hoạt động dạy lấn át hoạt động học. Vì vậy, nhiều người đã gọi quá trình dạy học đó “lấy người dạy làm trung tâm” mặc dù không ít người thầy có lương tâm vẫn có gắng “dạy học lấy người học làm trung tâm”.

Một ngàn năm dài đằng đẵng thời trung cổ của phương Tây cũng không khác gì tình trạng trên, tư tưởng thần quyền của nhà thờ dưới sự giúp sức của người cầm quyền đã triệt tiêu tự do tư tưởng con người, đồng nghĩa với việc triệt tiêu sự nhận thức và sáng tạo. Quá trình dạy học của họ vì vậy cũng không thoát khỏi cảnh “Dạy học lấy người dạy làm trung tâm”, những người thầy dám nói tiếng nói của sự thật và lẽ phải như Galile thì chuốc lấy cái chết thảm hại, huống hồ chi là học trò. Đến khi chế độ liên mình nhà thờ – chính quyền sụp đổ, người dân giành lại được quyền lực và tự do, khoa học kĩ thuật mới có điều kiện nảy nở và phát triển, phương Tây vượt mạnh qua mặt và bỏ xa các đế chế phong kiến vốn từng thịnh vượng một thời ở phương Đông.

Lý luận dạy học hiện đại nêu bật vai trò của người học trong quá trình dạy học. Người học được tự do suy nghĩ và phát biểu, lại được hỗ trợ bởi các phương tiện dạy học hiện đại và phương pháp dạy học linh hoạt, nên tư duy sáng tạo được phát huy, trí tò mò và óc phán đoán được kích thích. Trẻ con phương Tây ngay từ nhỏ đã được rèn luyện thói quen phát biểu chính kiến, tự do bày tỏ quan điểm cá nhân, trong khi, đó còn là mơ ước của người dân ở một vài nước phương Đông vốn chịu ảnh hưởng sâu nặng các mặt tiêu cực của lối giáo dục cổ xưa, lười biếng tư duy, ù lì trì trệ. Quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” không phải là một quan điểm mới, nó được phục hoạt và chi phối nền giáo dục ở nhiều nước phương Tây từ vài thế kỉ trở lại đây, nhất là hoạt động dạy học thời hiện đại; trong khí đó, quan điểm này được tiếp nhận ở Việt Nam chưa lâu, cốt lõi tinh thần chưa được phổ biến rộng rãi, nên việc tiếp thu và vận dụng nó đòi hỏi tiếp tục tốn nhiều thời gian và công sức.

Xã hội ngày nay có nhiều biến đổi to lớn, ngoài sự bùng nổ về dân số là sự bùng nổ về thông tin, lượng tri thức của loài người trung bình sẽ tăng lên gấp đôi chỉ trong vòng 7 năm ngắn ngủi. Điều này có nghĩa, lượng tri thức khoa học luôn dồi dào và không ngừng biến đổi cùng với những thành tựu khoa học và phát kiến mới. Người giáo viên trong điều kiện có hạn không tài nào truyền đạt được hết tri thức cho người học, cũng hoàn toàn không thể ở bên cạnh dạy dỗ cho học trò suốt cuộc đời. Thế cho nên, việc rèn luyện cho học trò phương pháp nắm bắt thông tin và xử lí thông tin là việc làm cần thiết nhất của giáo dục hiện đại. Điều này đồng nghĩa với việc công tác giáo dục chuyển từ việc dạy làm chính sang việc học làm chính. Người viết nghĩ rằng sử dụng cách nói trên sẽ chính xác hơn cách nói chuyển từ dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang dạy học lấy người học làm trung tâm, vì thực tế công tác dạy học xem trọng vai trò người học đã có từ lâu đời chứ không phải mới đây, hơn nữa, chưa bao giờ hoạt động giáo dục lại lấy người thầy làm trung tâm cả.

Khi so sánh giữa quan điểm (gắn liền với phương pháp) dạy học truyền thống và quan điểm dạy học hiện đại, chúng ta rõ ràng nhận thấy sự khác biệt giữa chúng khi nhìn nhận vai trò tương ứng của người dạy và người học. Thế nhưng, khi nói quan điểm (hay phương pháp) dạy học truyền thống, chúng ta hay liên tưởng đến quan điểm dạy học thời phong kiến, gắn liền với nền giáo dục Nho giáo đã qua, chứ chúng ta ít khi nhìn thấy rằng quan điểm lạc hậu đó còn tồn tại trong suốt quá trình diễn tiến của nền giáo dục hiện đại, kéo dài đến cả ngày nay. Để bây giờ, chúng ta mới đau lòng nhận ra sự lạc hậu, trì trệ của cả hệ thống giáo dục nước nhà so với nền giáo dục thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc, giáo dục nước nhà đã không kịp thời vận động để bắt kịp trào lưu phát triển giáo dục của thế giới.

Như vậy, từ những kinh nghiệm trong quá khứ, chúng ta hoàn toàn có thể rút ra những bài học làm tiền đề để quan điểm “Dạy học lấy người học làm trung tâm” đi vào thực tế. Điều trước tiên là không được độc quyền chân lý, phải trả tri thức lại cho người học suy xét trong chính sự vận động tự thân của nó ở từng hoàn cảnh xã hội nhất định. Điều đó đồng nghĩa với việc, trả lại cái đầu cho người thầy, cho học trò, trả lại sự tự do cho khoa học và học thuật chân chính, không biến khoa học và giáo dục thành bất kì một công cụ nô dịch nào, nhà trường chỉ đơn thuần là trung tâm học thuật chứ không nên mang thêm những chức năng xã hội nào khác. Thứ hai, người thầy cần thay đổi tư duy dạy học, tôn trọng và chấp nhận mọi ý kiến trái chiều, không khăng khăng độc tôn quan điểm của mình, cũng không xem suy nghĩ của mình là duy nhất đúng, kích thích óc sáng tạo của người học qua các buổi học, tạo điều kiện cho người học được tự do nêu quan điểm của mình. Người thầy lúc này trở thành bạn đồng hành của người học, trở thành người đi trước dẫn dắt soi đường chứ không phải là đích đến của người học. Được như vậy, người học sẽ tự tin vào suy nghĩ của mình hơn, sẽ lớn lên cùng với quá trình giáo dục của thầy. Thứ ba, người thầy phải nắm vững và làm chủ các phương pháp và phương tiện dạy học, đồng thời phối hợp vận dụng khéo léo chúng vào công tác dạy học, kích thích được sự tham gia xây dựng của học trò, đưa học trò lên vai trò làm chủ của buổi học. Dạy học theo quan điểm “lấy người học làm trung tâm” không chỉ đòi hỏi người học phải thật sự nâng cao mình, mà còn đòi hỏi người thầy phải có bản lĩnh và trình độ cao hơn, có tầm bao quát sâu rộng và chuyên môn nghiệp vụ vững vàng hơn. Xem thường vai trò thiết kế và dẫn dắt của người thầy thì “Dạy học lấy người học làm trung tâm” chỉ mang tính hình thức, rốt cuộc người học cũng chẳng là trung tâm gì trong quá trình dạy học đó. Cuối cùng, các đơn vị có liên quan bao gồm lãnh đạo và các phòng ban, đặc biệt là thư viện nhà trường, cũng phải tự làm mới mình để phục vụ đầy đủ và hợp lý nhu cầu của người dạy lẫn người học.

Trên đây là những ý kiến và suy nghĩ chủ quan về vấn đề “Dạy học lấy người học làm trung tâm”, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của Ban tổ chức đợt tập huấn.

 N.T.P


[1] Theo Lê Đức Ngọc, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học, Đại học An Giang, 12 – 2011, trang 43.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: