Đọc Tứ thư, lạm bàn về hai chữ “Đại học”

 Nguồn: http://www.vinabook.com

Đại học là tên một sách trong bộ Tứ thư (bao gồm Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử) tương truyền do các học trò của đức Khổng Tử biên soạn theo lời giáo huấn của thầy. Bộ sách này được xem là kinh điển của Nho gia, là linh hồn của tư tưởng Khổng- Mạnh. Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc cũng như các quốc gia ảnh hưởng văn hoá, ngôn ngữ Trung Quốc lại lấy hai chữ Đại học để gọi bậc học bắt đầu đi sâu vào chuyên môn sau khi tiếp thu kiến thức nền tảng của bậc học phổ thông.

Từ quan niệm về “Đại học” trong Tứ thư

 Trong Tứ thư, Khổng Tử ít nhất hai lần thể hiện quan niệm về “đại học”:

1. “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”(Dịch nghĩa: đường lối đại học ở chỗ làm cho sáng tỏ cái đức sáng, làm cho con người đổi mới luôn luôn, lo cho đến chỗ hoàn toàn tốt lành mới thôi). Theo cách nói của Khổng Tử, đầu tiên bậc “đại học” phải giúp cho người học được sáng tỏ chân lý, thấu hiểu lẽ phải; sau đó người học đạt đến chỗ đổi mới, phát triển không ngừng cho phù hợp với yêu cầu của thời đại, hoàn cảnh xã hội và ý cuối cùng là đưa người học hoàn thiện hoàn mĩ bản thân.

2. “Chi linh mạc bất hữu tri, nhi thiên hạ chi vật mạc bất hữu lý, duy ư lý hữu vị cùng, cố kỳ tri hữu bất tận dã. Thị dĩ đại học thuỷ giáo, tất sử học giả tức phàm thiên hạ chi vật, mạc bất nhân kỳ dĩ tri chi lý nhi ích cùng chi, dĩ cầu chí hô kỳ cực” (Dịch nghĩa: Các sinh linh không loài nào không có cái biết, vạn vật trong thiên hạ không có vật nào không có lý, suy nghĩ về cái lý không cùng tận, cho nên cái biết về nó không có điểm dừng. Cho nên lấy “đại học” bắt đầu giảng dạy người học ắt sẽ khiến cho mọi vật trong thiên hạ không phải vì đã biết về nó thì dừng lại, mà phải cầu biết cho đến ngọn nguồn). Nói như Khổng Tử, thế giới tri thức là vô tận và nhiệm vụ của người học là phải tìm tòi, học hỏi để biết cho tận tường nguồn gốc, không nên bằng lòng vì sự hiểu biết ít ỏi hiện tại. Và sách “đại học” có vai trò khơi nguồn cho mọi sự hiểu biết về thế giới đối với những người học Nho.

Trình Tử đánh giá sách Đại học trên là “sơ học nhập đức chi môn dã” (cánh cửa để người mới học bước vào cái đức sáng), Chu Hy cũng cho rằng “đại học chi thư, cổ chi đại học sở dĩ giáo nhân chi pháp dã” (sách Đạại học là cách để giảng dạy cái học rộng lớn cho con người của người xưa). Những quan điểm về “đại học” này rất được các môn đồ của “cửa Khổng” tán đồng biểu dương.

Như vậy, Khổng Tử khẳng định “đại học” không chỉ là “đại nhân chi học” (cái học của các bậc chính nhân quân tử) mà còn là “đại quảng chi học” (cái học bao quát phạm vi rộng lớn). Theo nghĩa đó, đại học là cái học dành chung cho nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội xưa, từ giới cầm quyền như “quân” (vua chúa), thần (quan lại, bề tôi của vua) đến giới trí thức, học sĩ và cả tầng lớp thứ dân có tinh thần hiếu học- “hữu giáo vô loại” (giáo dục không phân chia sang hèn, tầng lớp). Khi những người đã học sách Đại học (hay các sách mang tư tưởng Nho gia khác) và biết ứng dụng vào cuộc sống (“học nhi thời tập chi”- học điều gì phải biết ứng dụng cái đó- Luận ngữ) thì những người đó trở thành bậc đại nhân, quân tử. Người có học nhưng chưa biết thực hành theo đó thì chưa thể gọi là người đã học “đại học”.

Nói đến chỗ này, cũng cần phân tích thêm thế nào là chính nhân quân tử theo tư tưởng Nho gia. Quan niệm “chính danh” (đúng với địa vị, danh phận của mình mà hành xử) được xem là tư tưởng cốt lõi để rèn luyện thành người quân tử, từ đó cụ thể hoá bằng những khái niệm Ngũ luân (vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, bạn bè, anh- em), Tam cương (Trung: vua- tôi, Hiếu: cha- con, Nghĩa: chồng- vợ), Ngũ thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín)… Như vậy, Khổng Tử yêu cầu người đã học “đại học” phải biết thực hành theo thuyết chính danh đó.

 Và quan niệm về “Đại học” ngày nay

Từ điển Từ Hải đưa ra hai cách giải thích cho “Đại học”: một là, trường học mà học sinh tốt nghiệp phổ thông đến học trong thời gian 4 năm, ở đó con người được tiến hành giáo dục với đẳng cấp cao; hai là, tên một sách trong Tứ thư, trước vốn là một thiên trong Lễ kí.

Các từ điển tiếng Việt ngoài cách giải thích giống nét nghĩa một của Từ Hải còn có cách giải thích thứ hai tương đối gần nhau rằng: đại học là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, sau bậc học phổ thông. Ở đó, người học được đào tạo có tay nghề vững vàng, có tri thức khoa học cao thuộc nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu công việc của xã hội, xây dựng đất nước.

Ngoài ra, đây đó trên báo chí, tài liệu sách vở còn có nhiều cách giải thích, mở rộng hàm nghĩa (chứ không phải định nghĩa) của đại học như: đại học là tự tìm cách học, là học suốt đời, là nghiên cứu khoa học… Thậm chí, có những cách nhìn nhận về đại học khá mới mẻ và lý thú như: đại học là con đường thành công, đại học là quỹ đầu tư, là một đơn vị sản xuất, đại học là nơi sản xuất kiến thức, đại học là hàng hóa, là công ích xã hội… Sự xuất hiện của các cách giải thích mới về “đại học” cho thấy sự mở rộng không ngừng (có khi là sự dịch chuyển) trong quan niệm về giáo dục đại học của thế giới ngày nay. 

Như vậy, vai trò của bậc đại học là đào tạo cho người học có được hệ thống tri thức, kĩ năng chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó sau khi đã có hệ thống kiến thức cơ bản từ nhiều lĩnh vực của bậc học phổ thông, và có những năng lực thiết yếu để giải quyết mọi tình huống phát sinh trong cuộc sống, có khả năng nghiên cứu khoa học ở mức độ nhất định làm tiền đề cho việc nghiên cứu sáng tạo ở các bậc học cao hơn. Bên cạnh đó còn bao hàm cả các yêu cầu về đạo đức, thẩm mĩ, sức khoẻ…

Có thể nhìn thấy dù cho cách định nghĩa đôi lúc khác nhau về câu chữ nhưng tựu trung lại, các quan niệm đều đánh giá cao vai trò của giáo dục “đại học” trong hệ thống giáo dục quốc dân và trong toàn đời sống xã hội, thậm chí còn có thể nắm giữ vị trí chủ đạo cho sự phát triển của mỗi đất nước trong tương lai.

 Đến những suy nghĩ…

Trước tiên, chúng ta nhận ra rằng trong bộ Tứ thư thì Đại học chỉ là tên một sách chứ không phải cách gọi một bậc học như ngày nay. Lẽ dĩ nhiên, thời Khổng Tử chưa hình thành một hệ thống giáo dục đa cấp và kiện toàn nên chúng ta hoàn toàn có thể hiểu tại sao Khổng Tử lại cho rằng sách Đại học mở đầu cho việc tìm hiểu về thế giới, trong khi việc làm này ở thời đại chúng ta được tiến hành ở bậc học phổ thông, thậm chí ngay cả bậc học mầm non.

“Cái lý của vạn vật trong thiên hạ” mà Khổng Tử nói ở đây chủ yếu là luân lý trong đạo đối nhân xử thế của con người, tức là hàm nghĩa giáo dục của Khổng Tử nặng về đức dục, không quá chú trọng trí dục, mĩ dục, thể dục như hiện nay. Điều đó không có gì là lạ nếu xét trong từng hoàn cảnh xã hội cụ thể, và việc chú trọng giáo dục đạo đức cho mọi người trong thời điểm chiến tranh “xưng hùng xưng bá” liên miên giữa các quốc gia Trung Quốc xưa là hoàn toàn phù hợp. Nếu trước kia Khổng Tử chú trọng đức dục để đào tạo ra những con người hoàn thiện về phẩm chất đạo đức (theo lập trường Nho gia), bởi vì theo Khổng Tử đức đã hàm chứa trí tuệ, tài năng và là nền tảng của tài năng; thì ngày nay chúng ta tiến hành giáo dục theo hướng dung hợp, cân bằng giữa các yêu cầu nhân cách. Một vài nơi có xu hướng chú trọng giáo dục kiến thức hơn giáo dục đạo đức nên dẫn đến ít nhiều sự thay đổi trong cấu trúc nhân cách người học.

Như vậy, cái quý giá nhất, có giá trị nhất mà ngày nay chúng ta có thể kế thừa và phát huy là quan niệm về giáo dục “đại học” của Khổng Tử. Đó là quan niệm kiến thức vô hạn, học suốt đời, học đi đôi với hành, học để làm sáng tỏ chân lý, học phải không ngừng đổi mới cho phù hợp hoàn cảnh, học để ngày càng hoàn thiện bản thân… Ra đời cách chúng ta trên dưới 2.500 năm, thế nhưng những quan niệm đó vẫn giữ nguyên giá trị, mới mẻ và phù hợp đến lạ lùng.

Xã hội ngày càng vận động tiến lên phía trước theo hướng hiện đại, thế nhưng những nền tảng triết học xa xưa đôi lúc soi chiếu lại vẫn có giá trị không nhỏ, nhiều khi nó còn có thể trở thành nền tảng, hạt nhân để tiếp tục phát triển sâu rộng các quan niệm về thế giới. Có thể coi, triết lý về “đại học” của Khổng Tử là một tiền đề như vậy. Và nếu như những người làm công tác giáo dục như chúng ta không chú ý đến cách giáo dục đúng đắn theo hướng đó, tiếp tục kiểu dạy học thụ động, nhồi nhét, học vẹt, chưa “minh minh đức”, chưa “tân dân”, chưa “chí thiện”, chưa “tri cùng” ở một số nơi như hiện nay thì phải chăng chúng ta đã lạc hậu hơn người xưa cách đây 2.500 năm?

Thanh Phong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: