Đôi lời trao đổi về bài viết Từ Thế vận hội Bắc Kinh 2008

 

Olympic Bắc Kinh. Nguồn: http://olympics.wikia.com

Điều đầu tiên chúng tôi nhận ra sau khi tham khảo bài viết của bạn Hoàng Minh- DH4C1 đăng trên Enews ngày 26.08.2008 là tấm lòng thiết tha yêu quí tiếng Việt, sự trăn trở trước những tác động theo hướng bất lợi cho tiếng mẹ đẻ, dẫn đến một hệ quả là dần mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Tình cảm và thái độ đó của bạn thể hiện một tinh thần dân tộc sâu sắc, cụ thể là yêu tiếng nói người Việt. Thật đáng trân trọng! Thế nhưng, chúng tôi cũng không khỏi băn khoăn khi nhận thấy một số điều không thể không trao đổi thêm, ngỏ hầu có cách hiểu thoả đáng về những vấn đề Hoàng Minh đưa ra và giúp người đọc có cái nhìn khách quan về vấn đề này.

Từ cách sử dụng chữ Hán của người Trung Hoa

 Lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh là buổi lễ hoành tráng và thành công nhất trong lịch sử Olympic thế giới, điều đó không còn gì phải bàn cãi. Việc người Trung Hoa biết khai thác, tận dụng những thế mạnh văn hoá của mình để giới thiệu với toàn thế giới là một điều rất hay, đáng khâm phục và học hỏi. Trong đó, có việc khai thác thế mạnh về mặt ngôn ngữ như một dịp biểu dương hệ thống chữ viết biểu ý lâu đời và có giá trị hết sức to lớn về nhiều mặt. Họ mạnh dạn cho các đoàn thể thao diễu hành theo cách phiên âm chữ Hán, rồi đem bút lông và mực Tàu giới thiệu nghệ thuật thư pháp lâu đời, sắp xếp đội hình theo những mẫu tự chữ Hán… Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công của các tiết mục, mà cũng là thành công của người Trung Hoa là biết tận dụng những điều kiện khách quan về văn hoá và lịch sử dân tộc.

Chữ Hán ra đời rất sớm, là thứ chữ biểu ý hoàn toàn độc lập với các mẫu tự biểu âm La-tinh. Từ chữ Hán, một loạt các loại hình nghệ thuật ra đời mang đậm bản sắc văn hoá Trung Hoa như thư pháp, tranh thuỷ mặc, uống trà, Thiền Trung Hoa…Lại thêm một điều, tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ có nhiều người nói nhất trên thế giới, mức độ phổ biến đứng thứ nhì trên thế giới sau tiếng Anh. Nhờ vậy, chữ Hán có dịp theo chân hàng chục triệu người Trung Hoa mở rộng tầm ảnh hưởng trên khắp thế giới. Việc sử dụng chữ Hán quá thường xuyên của người Trung Quốc trên các phương tiện thông tin đại chúng và biển hiệu có những điều kiện thuận lợi ấy hỗ trợ.

Còn tình hình ngôn ngữ, đặc biệt là văn tự ở Việt Nam chúng ta có nhiều điểm khác biệt, so với những thế mạnh văn hoá như Trung Quốc thì chúng ta hoàn toàn chưa hội đủ. Chúng tôi vẫn thường nói vui với bạn bè rằng: “Chúng ta đang đứng bên cạnh một ông khổng lồ đang ngày càng phình ra, nếu không khéo đứng và đứng cho vững thì khó lòng khẳng định được chỗ đứng của dân tộc”. Lịch sử Việt Nam trên dưới 4000 năm đã chứng tỏ người Việt rất giàu tinh thần tự tôn dân tộc và yêu quí tiếng nói dân tộc. Suốt gần ngàn năm Bắc thuộc gò lưng chịu đựng những chính sách đồng hoá của người phương Bắc, chúng âm mưu xoá bỏ nền văn hoá người Việt và cả hệ thống ngôn ngữ Việt, ấy vậy mà tiếng Việt vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Không những vậy, chúng ta còn tìm cách sáng tạo ra hệ thống chữ Nôm để chuyển tải ngôn ngữ dân tộc. Đó là những minh chứng hùng hồn cho tình yêu tiếng mẹ đẻ của người Việt.

Hoàng Minh lưu ý người đọc là ở Seagame 2003, chúng ta cho các đoàn thể thao diễu hành theo thứ tự mẫu tự La-tinh. Chúng tôi nghĩ rằng cách làm như vậy là tất nhiên bởi vì chúng ta hiện tại đang sử dụng hệ thống chữ quốc ngữ dựa trên những mẫu tự La-tinh. Hơn nữa, nếu không diễu hành theo mẫu tự La-tinh, chúng tôi thiết nghĩ không biết còn có cách diễu hành nào khác, hay là giống cách diễu hành của người Trung Hoa? Huống hồ, một việc nhỏ là diễu hành cũng cần phải thông qua sự kiểm duyệt của Hội đồng thể thao quốc tế hay khu vực.

Ở cuối bài viết, Hoàng Minh đã đưa ra một câu hỏi có tính kích thích và tác động sâu vào nhận thức người đọc, “Tại sao người Trung Hoa biết dựa vào tiếng nói dân tộc để biểu dương sức mạnh “nội lực thâm hậu” của mình còn chúng ta, luôn được người nước ngoài ca ngợi là tiếng Việt giàu và đẹp, tiếng nói như tiếng chim hót, lại không làm được điều đó?”. Thiết nghĩ, vấn đề này đã được giải thích khá rõ ràng ở phía trên. Trong điều kiện của chúng ta, thật khó mà có thể dựa vào tiếng nói dân tộc để biểu dương sức mạnh như người Trung Hoa được. Chúng ta cũng sẽ nỗ lực vươn lên không ngừng cho kịp với bạn bè thế giới nhưng ở các phương diện khác, dựa vào những thế mạnh khác.

Người Trung Hoa rất trân trọng tiếng nói của mình, điều đó là sự thật, và chúng tôi nghĩ không chỉ riêng người Trung Hoa. Người Việt Nam chúng ta cũng có những cách gọi các từ ngoại lai của riêng mình. Người Trung Hoa tìm cách phiên âm những tên gọi nguồn gốc ngoại lai ra tiếng nói của dân tộc, tuy nhiên, cũng có nhiều dạng vận dụng. Cách gọi tivi, cát-sét là “điện thị” (cái máy để xem) hay “lục âm cơ” (cái máy ghi âm) là cách gọi tự thân những đồ vật nước ngoài của người Trung Hoa, chứ không phải là phiên âm; tương ứng với đó, ở Việt Nam chúng ta chẳng phải cũng thường gọi là cái “vô tuyến” hay máy “thâu băng” đó sao.

Còn các cách gọi Mat-xcơ-va hay Phi-líp-pin là Mạc Tư Khoa hay Phi Luật Tân cũng vậy. Mạc Tư Khoa hay Phi Luật Tân là cách gọi theo âm Hán Việt của người Việt Nam, thực chất trong tiếng Trung Quốc thì đó cũng là cách phiên âm để đọc chứ tự thân chúng không có nghĩa gì cả. Người Việt Nam chẳng phải cũng đã phiên âm bằng cách đặt dấu gạch nối cho dễ đọc đó sao? Ở phương diện này vô tình người viết đã quá đề cao loại hình ngôn ngữ mà quên đi sự tương đồng trong phương thức phiên âm. Đã có lúc người Trung Hoa nghĩ đến việc thay đổi hệ thống chữ Hán bằng cách La-tinh hóa cách đọc vì sự phức tạp, khó học và những rào cản trong quá trình hội nhập với bên ngoài. Có những người Trung Hoa không biết nói từ Mạc Tư Khoa hay Phi Luật Tân như thế nào cho người phương Tây hiểu. Nói như vậy để thấy cách phiên âm đôi khi gây ra những phiền toái trong quá trình giao tiếp.

 Đến việc sử dụng tiếng Việt hiện nay

 Chúng tôi cũng đồng ý với Hoàng Minh ở chỗ không ít người quen dùng từ nước ngoài đến nỗi quên đi những từ ngữ tương ứng trong tiếng Việt, điều này dẫn đến một hệ quả là vốn tiếng Việt của người đó ngày một nghèo nàn, việc sử dụng bừa bãi từ ngữ và cấu trúc câu trong mọi ngữ cảnh làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Thế nhưng nói đi cũng phải nói lại, trong tiếng Việt vẫn còn không ít từ ngữ, nhất là thuật ngữ khoa học còn chưa thống nhất, mơ hồ nên trong diễn đạt không tìm được từ tương ứng, người nói đành dùng tiếng Anh thay thế. Hơn nữa, trong bối cảnh quan hệ quốc tế mở rộng như hiện nay, việc giao lưu và tiếp xúc với các ngôn ngữ trên thế giới được chú trọng. Tình hình các bạn trẻ sử dụng từ nước ngoài như hiện nay nếu nhìn thoáng hơn một chút sẽ thấy rằng không có gì quá lo ngại.

Từ góc độ ngôn ngữ học, hiệu quả giao tiếp được xem là thước đo cho sự thành công của một cuộc giao tiếp. Giao tiếp không chỉ để truyền đạt thông tin mà còn để bày tỏ tình cảm và thắt chặt mối quan hệ của nhau hơn. Tôi không nghĩ rằng việc sử dụng các từ tuổi “teen”, “laptop”, “forum”, “pà kon”, “anh iu”… sẽ làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Vấn đề ở chỗ họ dùng ở đâu, dùng với những ai và dùng để làm gì ? Nếu cách nói đó đối với người tham gia giao tiếp là dễ thương, họ thích, và nhờ đó tình cảm giữa họ được thắt chặt hơn, họ nhận thức được rằng không được viết hay nói như vậy trong bài văn chính luận hoặc trong đơn từ… thì cũng có thể xem việc sử dụng là chính đáng.

Việc mà Hoàng Minh phản ánh là trên các con phố lớn, đầy dẫy trên các biển hiệu là những câu từ tiếng Anh, tiếng Tàu chen chúc. Chúng tôi nghĩ việc này không có gì là xấu mà ngược lại, đó là những tín hiệu tích cực cho thấy khả năng và xu hướng hoà mình hội nhập với toàn thế giới của Việt Nam. Trong bối cảnh có nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam du lịch, làm ăn hợp tác như hiện nay thì chắc chắn những bảng hiệu có tiếng Anh hay tiếng Tàu tỏ ra hữu dụng đối với họ, điều đó khiến du khách quốc tế không cảm thấy xa lạ khi đến với ta và càng tin tưởng vào năng lực hội nhập của Việt Nam hơn.

Chúng tôi nghĩ, một trong những tiêu chí của việc lập bảng hiệu hay bảng thông tin là hướng đến đối tượng tiếp nhận. Xã hội có nhiều đối tượng thuộc mọi tầng lớp, ngành nghề khác nhau thì việc tiếp nhận cũng khác nhau. Và việc đối tượng này không đọc được hay hiểu được những thông tin dành cho đối tượng khác là điều bình thường. Ngay cả việc ca sĩ ca nhạc ngoại cũng không có gì đáng phê phán, công chúng thưởng thức đa dạng, đối với những người nghe hiểu tiếng Anh hay tiếng Trung thì những loại nhạc đó trở thành món ăn tinh thần quí báu.

Có quá chủ quan không khi Hoàng Minh cho rằng đây là những “hiện tượng lai căn”, “làm mất sự trong sáng của tiếng Việt”, và trong thời đại thông tin như hiện nay người nông dân lại thiếu hiểu biết đến mức lên thành phố mà tưởng đang ở phố Tây Tàu.

 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là điều rất cần thiết. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt gắn liền với tiếp thu ngôn ngữ nhân loại để làm giàu thêm ngôn ngữ dân tộc cũng là điều rất cần thiết. Mọi hành vi lạm dụng ngôn ngữ nước ngoài, đánh mất sự rõ ràng, trong sáng, hợp lí trong việc sử dụng tiếng Việt đều đáng phê phán phải không các bạn?

Thanh Phong – K. Sư Phạm

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: