Giáo dục với câu chuyện “Con cá hay cần câu”

Cải cách GD là yêu cầu bức thiết. Nguồn: http://thtndc.info

Chúng tôi bắt đầu bài viết này bằng một câu chuyện.

Có hai bác ngư dân nghèo khổ sống tại một làng chài ven biển. Một hôm, Bụt hiện ra và cho hai bác ấy mỗi người một sự chọn lựa, hoặc là sẽ chọn giỏ cá hoặc là sẽ chọn chiếc cần câu. Bác ngư dân thứ nhất thấy giỏ cá đầy ắp cá tươi liền chọn lấy, bác thứ hai chọn chiếc cần câu và bước tới bãi đá móc mồi vào bắt đầu câu. Mấy ngày sau, bác thứ nhất sau khi ăn hết số cá Bụt cho không còn gì ăn nữa, bụng đói meo, bèn chạy sang nhà bác ngư dân thứ hai xem cuộc sống thế nào thì thấy cả gia đình bác này đang quây quần bên mâm cơm tối. Lúc này, bác mới vỡ lẽ ra một điều: Có chiếc cần câu thì cũng có cả giỏ cá, không chỉ một giỏ cá mà còn rất nhiều giỏ cá khác nữa.

Vai trò quan trọng của chiếc “cần câu”

Nếu giỏ cá là thành quả lao động của người ngư dân thì hệ thống tri thức là thành quả lao động của người đi học – tức học sinh, những thầy cô giáo, mở rộng ra là toàn thể những người lao động trí óc trong xã hội. Nếu giỏ cá góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người ngư dân thì tri thức khoa học góp phần cải thiện cuộc sống vật chất và tinh thần của không chỉ bản thân người học mà còn của xã hội con người. Phạm vi ảnh hưởng và tác động của tri thức khoa học dĩ nhiên tùy thuộc vào giá trị và vấn đề vận dụng tri thức ấy vào thực tế cuộc sống của chủ thể hành động. Người ngư dân cần nhiều giỏ cá khác trong tương lai để duy trì cuộc sống và người đi học cũng cần nhiều vốn tri thức mới trong tương lai để tồn tại và phát triển trong một xã hội không ngừng biến đổi. Một giỏ cá không hề đủ cho cuộc đời một ngư dân, những kiến thức dưới mái trường không hề đủ cho cả cuộc đời người đi học.

Thật vậy, những tri thức mà học sinh được lĩnh hội trong nhà trường chỉ là một bộ phận nhỏ nhoi trong vốn hiểu biết vô cùng to lớn mà loài người có được hiện nay. Mặc dù đó là những tri thức phổ biến được ngành giáo dục ủy thác các nhà soạn sách giáo khoa chọn lọc kĩ càng, gọi là tạm đủ để làm nền tảng cho mọi học sinh trước khi trưởng thành và bước vào đời sống xã hội.

Ở trường Đại học cũng vậy, hệ thống tri thức thu hoạch được sau ba hay bốn năm học tập cũng chỉ tạm đủ để vận dụng cho công việc sau này, nếu không tiếp tục học tập, người đó sẽ dễ dàng thụt lùi trong trào lưu tiến lên không ngừng của ngành chuyên môn và toàn xã hội. Ngẫm kĩ lại có thể thấy, 12 năm học tập và rèn luyện ở trường phổ thông, 4 năm học tập ở trường đại học chỉ là những bước nền tảng để mỗi người tiến vào xã hội, làm một công dân bình thường hay một người lao động ở một cơ sở nào đó, họ còn cả một quảng đời dài không ngừng học tập từ thực tế cuộc sống xã hội ở phía trước. Và như vậy, mỗi người cần phải có năng lực tự học, tự tư duy và suy nghĩ, tự nhận thức để có thêm những kiến thức mới, tức là phải có chiếc “cần câu” để tồn tại mà hơn ở đâu hết, các cấp học ở nhà trường phổ thông phải có nhiệm vụ trao cho họ.

Chiếc “cần câu” mà các nhà giáo dục, các thầy cô giáo cần giúp các học sinh có được ở đây là năng lực tư duy, năng lực suy nghĩ độc lập; khả năng nắm bắt kiến thức; khả năng phán đoán, suy luận, đối chiếu các sự vật, hiện tượng; khả năng trình bày, diễn đạt suy nghĩ; khả năng phân định đúng sai, hơn thiệt trong mọi tình huống cuộc sống; thái độ, ý thức tự học và học tập suốt đời… Để làm được điều đó, bản thân người làm công tác giáo dục phải tự trang bị những kiến thức và kĩ năng cần thiết, xây dựng cho mình triết lý giáo dục tiến bộ hơn, thật tâm lắng nghe và tôn trọng ý kiến cá nhân của học sinh cũng như những quyền tự do cơ bản của người đi học.

Thật ra, vấn đề trao “giỏ cá” hay trao “cần câu” cho người học hiện nay thật khó mà phân định rạch ròi như hai màu đen trắng, cũng không thể khẳng định trao “giỏ cá” cho người học là hoàn toàn không tốt. Vấn đề ở chỗ “cần câu” đã bao hàm cả “giỏ cá” và người dạy học cần thấy rằng trong khoảng thời gian ngắn ngủi của giờ lên lớp, việc trao “cần câu” cho người học để họ có thể tự kiếm “cá” lâu dài sẽ mang lại lợi ích to lớn hơn là trao cho các em những “giỏ cá”. Còn nếu quyết định trao “giỏ cá” cho HS thì không biết bao nhiêu “cá” cho đủ và thứ “cá” nào thật sự có giá trị với cuộc đời của các em. Hơn nữa, việc trao “giỏ cá” một phần nào đó sẽ hình thành tâm lý ỷ lại, trông chờ của người học vào sự ban phát kiến thức của thầy cô; các em thiếu năng động trong vai trò chủ thể của việc học, và dĩ nhiên là trong nhiều vấn đề khác nữa của cuộc sống sau này.

Và thực trạng giáo dục hiện nay

Thử nhìn về thực tế dạy học hiện nay, nhiều nơi vẫn duy trì tình trạng giáo viên lên lớp ban phát “cá” cho học sinh, rồi đến giờ trả bài hay kiểm tra, học sinh lại đem “cá” ấy trao lại cho giáo viên, nếu chăm chỉ cẩn thận một chút thì “giỏ cá” ấy tươi nguyên và được đánh giá tốt, còn nếu lười biếng một chút thì “cá” bị hư hoại, mất đầu mất đuôi không còn nguyên vẹn nên nhận điểm xấu.

“Giỏ cá” trong cả hai thời điểm này về bản chất đều là “cá” giáo viên ban cho, hoàn toàn khác với “cá” mà học sinh tự câu được đem đến. Ngay cả giáo viên nhiều khi có được “cá” đó là do nhà soạn sách giáo viên, sách tham khảo ban cho chứ bản thân họ cũng chưa tự câu được “cá”, mặc dù về lý thuyết, trường Đại học đã trao cho họ “cần câu”.

Ở nhiều nơi, các nhà giáo dục vẫn tiếp tục loay hoay với việc thay đổi đồ dùng dạy học. Có người cho rằng trang bị máy chiếu, sử dụng bài giảng ứng dụng phần mềm tin học (mà họ gọi nhầm là Giáo án điện tử) thì sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ học. Khẳng định như vậy là hơi sớm một khi chúng ta chưa hiểu rõ những phương tiện hiện đại đó góp phần trao “cần câu” cho người học ra sao. Nếu nội dung được chuyển tải vẫn là những kiến thức có sẵn trong sách vở được trình bày một cách áp đặt, không thể hiện con đường suy luận, tư duy để tìm tòi ra những kiến thức đó thì dù có thay đổi “giỏ tre” thành “giỏ vàng”, “giỏ bạc” đi chăng nữa thì “giỏ cá” vẫn là “giỏ cá”, “giỏ cá” không thể trở thành “cần câu”.

Cách dạy học và đánh giá ở nhiều nơi như từ trước đến nay không thực sự tạo động lực tìm tòi, học hỏi cho cả người dạy lẫn người học. Chúng ta bắt học sinh mất không ít thời gian học thuộc lòng những bài giảng, những câu chữ đôi khi khô khốc, sáo mòn mà chúng ta thừa biết rằng các em sẽ quên đi sau khi kiểm tra thi cử thì chẳng biết có lợi ích gì? Ngay cả một nhà khoa học có đầy đủ học vị và học hàm cũng phải lật sách khi viết những bài tham luận, bài nghiên cứu khoa học huống hồ chi là các em học sinh. Thậm chí ngay bản thân người dạy qua bao nhiêu năm giảng dạy môn học đó cũng chưa thuộc nỗi những điều mình đang dạy. Có giáo viên nói rằng không cần học sinh học thuộc lòng, chỉ cần nhớ ý chính và triển khai theo nhận thức, quan điểm của mình cũng được đánh giá tốt nhưng đôi khi ba-rem điểm của họ lại không thống nhất như vậy. Thành ra người học chẳng còn cách nào khác là phải học thuộc lòng cho “chắc ăn”. Cách dạy học đó quả đã gây nên sự lãng phí lớn cả thời gian và công sức cho người dạy lẫn người học.

Thực ra, học thuộc lòng vẫn có những lợi ích và giá trị của nó, điều quan trọng là chỉ ra đúng học thuộc lòng cái gì và dành cho ai. Trong các nơi ở Á Đông, Đài Loan rất xem trọng vấn đề cho học sinh học thuộc lòng, thế nhưng họ phân biệt rất rạch ròi ở những lứa tuổi nào cần học thuộc lòng cái gì. Đối với học sinh bậc mẫu giáo và tiểu học, họ cho các em học thuộc nhiều đồng dao, thơ ca và kinh điển triết lý thánh hiền. Bởi vì họ cho rằng, thời điểm này não trạng các em ghi nhớ câu chữ nhanh nhất và lâu nhất, có thể tạm thời các em không hiểu hết nhưng những thứ đó sẽ dần thẩm thấu vào tâm hồn và tạo thành năng lực “thức tỉnh” khi các em đủ khả năng nhận thức. Ở trung học cơ sở, học sinh học thuộc nhiều nguyên tắc hay quy luật cơ bản của các ngành khoa học vì đó là nền tảng cho những hiểu biết về cuộc sống. Đến bậc trung học phổ thông, học sinh hầu như rất ít học thuộc lòng, các em được khuyến khích suy nghĩ nhiều hơn, nói nhiều hơn, thực hành nhiều hơn. Còn ở ta, đến cả Đại học mà sinh viên vẫn chưa thôi học thuộc lòng để kiểm tra thi cử, thành ra năng lực tư duy và sáng tạo không có điều kiện phát huy.

Thực trạng giáo dục yếu kém ở nhiều cấp hiện nay đang đặt những yêu cầu bức thiết cho những người làm công tác giáo dục, đặc biệt là nhà lãnh đạo và các thầy cô giáo. Nếu đặt vấn đề cần phải thực hiện điều gì trước nhất để nâng cao chất lượng giáo dục, chúng tôi cho rằng việc cấp thiết nhất là triển khai một cách hiệu quả việc trao “cần câu” cho học sinh. Nghĩa là làm cho các em say mê hứng thú với việc học; rèn luyện khả năng tự học tập, tự rèn luyện suốt đời; giúp các em hình thành khả năng tư duy, nhận thức độc lập trước thực tế cuộc sống nhiều màu sắc; nhất là bồi dưỡng khả năng liên tưởng, óc sáng tạo của người học. Có được chiếc “cần câu” đó, mỗi học sinh sẽ có hiểu biết đầy đủ hơn, phong phú hơn, đúng đắn hơn trong suốt diễn biến cuộc đời; thậm chí có thể sáng tạo, phát minh ra nhiều thứ có ích cho cuộc sống. Nhờ đó, họ đóng góp càng lớn sức mình cho sự phát triển và tiến bộ chung của xã hội. Muốn được như vậy, vấn đề học thuật cần hoàn toàn tự do, tâm lí dạy và học cần phải hoàn toàn thoải mái và thật sự hứng thú.

Giáo dục phổ thông ở nhiều nước có nền giáo dục tiến bộ về đại thể không đặt nặng vấn đề tiếp thu bao nhiêu kiến thức mà quan tâm đến việc người học đã được rèn luyện những kĩ năng gì. Dĩ nhiên, đi kèm với kĩ năng đó là hệ thống kiến thức họ tiếp nhận được và tự đúc kết được. Đó là nền tảng quan trọng cho những phát kiến khoa học mà phương Tây đang dẫn đầu. Trong khi giáo dục của ta lại quá đặt nặng số lượng kiến thức mà học sinh tiếp thu được, nhà trường cố nhồi nhét vào đầu các em với cơ man nào là câu chữ, là phép tính và con số để các em trở thành những “nhà bác học” trước tuổi. Mà đúng ra, nhiệm vụ quan trọng nhất mà nhà trường phổ thông cần làm được đối với học sinh là hình thành ở các em niềm say mê và hứng thú học tập, giúp các em biết cách học tập suốt đời, biết tư duy và nhận thức trước mọi việc; biến nhà trường thành thiên đường chứ không phải chốn đày đọa các em, biến thầy cô giáo thành những cô tiên hay ông bụt chứ không phải là mụ phù thủy trong truyện cổ tích… thì hình như chúng ta đang lơ là. Tập trung vào những cái không then chốt đôi khi cả chì lẫn chài đều không còn.

Ai cũng mong muốn xã hội ngày một phát triển, cuộc sống ngày một tiến bộ, tương lai con em chúng ta ngày một tươi sáng. Không ai muốn thế hệ tương lai thiếu học, thiếu hiểu biết, kém thích ứng với xã hội đầy cạnh tranh và không ngừng biến đổi hiện nay. Những người làm công tác giáo dục, như những ông Bụt đầy phép mầu và uy lực, sao lại không thể trao “cần câu” thay vì trao “con cá” cho mọi học sinh? Giáo dục trên thế giới đã bước sang những bến bờ mới, chúng ta vẫn cứ loay hoay với câu chuyện “con cá” hay “cần câu” thì biết đến bao giờ nền giáo dục nước ta mới theo kịp nước ngoài?  

Thanh Phong – K. Sư phạm

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: