Quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần – Đối chiếu với tư tưởng Trời trong triết học Trung Quốc

Tóm tắt

Trời (Thiên) là một phạm trù quan trọng trong hệ thống triết học cổ điển Trung Quốc. Từ các triều đại Thương, Chu trở về sau, nhiều triết gia đã liên tục đề xuất, tranh luận về nội hàm phạm trù Trời và mối quan hệ của nó với các phạm trù khác. Trong quan niệm của người Trung Quốc, Trời có ý nghĩa vô cùng phong phú, bao gồm: trời đất (không gian sinh tồn của vạn vật), ông trời (thần tối cao – thượng đế), đạo trời, tự nhiên, thiên nhiên, ý trời, lòng trời, mệnh trời, lí trời…

Trải qua lịch sử phát triển lâu dài mấy ngàn năm, hệ thống tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu đậm đến các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ từ Trung Quốc, các triều đại dưới thời Lí Trần tiếp thu một cách có hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng Trời, làm nền tảng tinh thần cho xã hội phong kiến, củng cố quyền lực đế vương và địa vị của người chấp chính.

Sáng tác văn học thời Lí Trần tổng hợp tư tưởng Trời của ba trường phái Nho – Phật – Đạo, trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là của Nho giáo. Quan niệm về Trời dưới thời Lí Trần ngoài 6 hàm nghĩa giống Trung Quốc là trời đất, thiên nhiên, thượng đế, mệnh trời, đạo trời, lí trời, còn có ba hàm nghĩa mở rộng mang đặc trưng của thời này là: Trời có phân biệt nam bắc, cảnh giới siêu thoát, không gian càn khôn vũ trụ.

Trên cơ sở tổng hợp, giải thích tư tưởng Trời trong hệ thống triết học Trung Quốc, bài viết đi sâu phân tích quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần, chỉ ra những nét mới trong tư tưởng của thời đại này.

Từ khóa: Triết học Trung Quốc, Văn học thời Lí Trần, Trời (Thiên).

越南李陳時代文學之「天」思想──以之與中國哲學的「天」思想比較

阮清風*

摘要

「天」是中國古典哲學體系重要範疇之一。自商周各朝以降,中國哲人已經陸續提出與論辯「天」範疇的內涵及其跟其他範疇的關係。在中國人的觀念中,「天」的內涵極為豐富,包含:天地之天、皇天之天、天道之天、自然之天、天然之天、天意之天、天心之天、天命之天、天理之天等意義。

經過數千年的漫長歷史,此套思想體系深刻地影響到亞東各國,其中包含越南。自939年越南取得獨立自主,李陳各朝有系統地接受中國哲學思想,尤其「天」思想,以作為封建社會的精神基礎,鞏固帝王權威以及執政者的地位。

李陳時代文學著作綜合儒佛道三家的「天」思想,其中表現最明顯是儒家觀念。李陳各朝的「天」思想除了擁有像中國哲學的「天地之天」、「天然之天」、「皇天之天」、「天命之天」、「天道之天」、「天理之天」等六種涵義之外,且還包含時代特色「北南區別之天」、「天界之天」及「乾坤宇宙與虛空法界之天」等三種延伸涵義。

本論文首先綜合、解釋中國哲學體系中的「天」思想,基於此深入探討李陳時代文學著作中的「天」思想,並指出此時「天」思想的特色。

關鍵詞:中國哲學、越南李陳文學、天。

1. Dẫn nhập

Thần thoại Trung Quốc ngay từ xa xưa đã bắt đầu đề cập đến phạm trù Trời. Trong đó, tiêu biểu nhất có thể kể Bàn Cổ khai thiên, Nữ Oa bổ thiên, Ngưu Lang Chức Nữ, Thường Nga bôn nguyệt, Đường Nghiêu Ngu Thuấn… Nhưng những câu chuyện thần thoại thời cổ đại này rõ ràng chỉ là một kiểu giải thích hồn nhiên, thuần phác của người xưa về Trời thông qua trí tưởng tượng phong phú của họ.

Trời là một phạm trù triết học quan trọng mà hầu hết các trường phái triết học Trung Quốc không thể bỏ qua. Trên thực tế, các nhà triết học thời Tiên Tần, bao gồm Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử của Nho gia, Lão Tử, Trang Tử của Đạo gia cùng các trường phái triết học khác đã đề xuất và tranh luận không ít về phạm trù Trời.

Suốt một ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ, và cả thời gian dài giành được độc lập tự chủ dưới thời Lí Trần, Việt Nam không ngừng tiếp thu những giá trị văn hóa tư tưởng của Trung Quốc để làm giàu thêm cho vốn văn hóa dân tộc. Thời đại Lí Trần bao gồm liên tiếp 6 triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ kéo dài gần năm thế kỉ (939-1418), trong đó hai triều Lí Trần là hai triều đại phát triển hưng thịnh nhất, đạt được nhiều thành tựu nhất trên các phương diện của đời sống xã hội. Văn học thời đại Lí Trần chính là những di sản văn học thành văn cổ xưa nhất còn lưu lại được đến ngày nay. Nó phản ánh trung thực diện mạo xã hội ViệtNamđương thời, đặc biệt là phương diện tư tưởng triết học. Do từng tiếp thu mạnh mẽ tư tưởng triết học Trung Quốc, nên văn học thời này phản ánh đầy đủ những giá trị tinh thần đã được tiếp thu và chuyển hóa đó. Hơn nữa, được hình thành trong một hoàn cảnh xã hội đặc thù, tư tưởng Trời trong sáng tác văn học thời Lí Trần vì vậy cũng chứa đựng nhiều điểm đặc thù so với tư tưởng vốn có của Trung Quốc.

Trên cơ sở tổng hợp, giải thích tư tưởng Trời trong hệ thống triết học Trung Quốc, bài viết đi sâu phân tích quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần, chỉ ra những nét mới trong tư tưởng của thời đại này.

2. Tư tưởng Trời trong triết học Trung Quốc

Trời (Thiên) từ trước đến nay luôn là một phạm trù quan trọng trong hệ thống triết học Trung Quốc[1]. Có thể nói, loài người từ khi thoát khỏi đời sống của động vật và tiến hóa lên người, hình thành năng lực phán đoán tư duy, đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu, giải thích sự vận hành của trời đất. Khi đó, việc quan sát trời đất và giới tự nhiên không ngoài mục đích truy cầu một cuộc sống ổn định, bền vững. Nếu nắm bắt được quy luận vận hành của tự nhiên, sử dụng những tri thức này để điều chỉnh hành động và thái độ sống của mình, con người có thể sinh tồn hòa hợp với tự nhiên, có thể đối phó hiệu quả trước những biến đổi khắc nghiệt của hoàn cảnh cuộc sống. Khi đó, con người xem trời đất là mục tiêu, là chuẩn mực, tôn sùng giới tự nhiên, thậm chí thần thánh hóa giới tự nhiên, xem trời là vị chủ tể tối cao sáng tạo ra và làm chủ vũ trụ. Về sau, sự hiểu biết của con người về giới tự nhiên ngày càng phong phú, để duy trì lâu dài cuộc sống bình yên và no ấm, con người đã tiến thêm một bước để chinh phục và làm chủ giới tự nhiên. Quá trình đó khiến cho tư tưởng triết học về Trời ở Trung Quốc không ngừng phong phú thêm[2], thậm chí đan xen nhiều mâu thuẫn phức tạp.

Chữ Trời trong kim văn (văn tự khắc trên đồ sắt, đồng) thời cổ đại Trung Quốc có nghĩa là đỉnh đầu, phía trên đầu, là hình ảnh một con người đội trên đầu cả bầu trời. Học giả đời Tống Hứa Thận trong cuốn Thuyết văn giải tự giải thích về Trời như sau: “Trời, ở phía trên đầu, chí cao vô thượng, kết hợp của ‘nhất’ và ‘đại’[3]. Quan niệm trên cho thấy rằng, trong cách nhìn nhận của cư dân Trung Quốc cổ đại, Trời là thế giới sự vật và hiện tượng bao la rộng lớn trên đầu con người, bao gồm bầu trời, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, mây gió, mưa bão, sấp chớp… Trời rộng lớn vô tận, con người có thể dùng mắt để nhìn, dùng tai để nghe, chứ không thể đo lường được, càng không thể suy đoán đầy đủ sự biến hóa muôn hình vạn trạng của nó. Đây được xem là hàm nghĩa đầu tiên, nguyên gốc của phạm trù Trời.

Trời bản thân cũng là một sự vật hiện tượng của tự nhiên. Trời tự nhiên đã có, không phải vì ý chí nguyện vọng của con người mà hình thành, nên Trời từ chỗ là thế giới hiện tượng trên đầu con người mở rộng thêm hàm nghĩa “tự nhiên nhi nhiên”, tức tự nhiên, bản thân nó vốn là vậy[4]. Quan điểm này có nguồn gốc từ Đạo gia, khác với quan niệm về “tự nhiên”, “thiên nhiên” của Nho gia[5]. Hàm nghĩa này đồng thời ám chỉ quy luật vận hành của tự nhiên, như kiểu bốn mùa xuân hạ thu đông trong một năm tự nhiên nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Đó cũng là bản chất tồn tại của giới tự nhiên.

Trời từ hàm nghĩa hiện tượng tự nhiên và qui luật tự nhiên tiếp tục mở rộng sang hàm nghĩa vị thần linh tối cao vô thượng, tức Thượng đế[6]. Trong hoàn cảnh không có cách nào để giải thích rõ ràng bản chất của Trời, cộng thêm sức tưởng tượng phong phú dưới thời nguyên thủy, còn người gán cho Trời hàm nghĩa thần tối cao. Ngoài các cách gọi là Trời hay Thượng đế, trong điển tịch Trung Quốc xưa còn có nhiều cách gọi khác cùng mang hàm nghĩa này là: Hoàng thiên, Thượng thiên, Hạo thiên, Thương thiên, Mân thiên, Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng thiên Thượng đế, Hạo thiên Thượng đế, Minh Chiêu Thượng đế…[7] Trời ở đây không chỉ thống lĩnh giới tự nhiên như trăng sao, sấm chớp, mà còn thống lĩnh cả xã hội loài người như trật tự xã hội, chính trị pháp luật, đạo đức nhân luân… Do đó, Trời là vị thần tối cao đồng thời giữ tư cách chủ tể cả giới tự nhiên và xã hội. Hàm nghĩa này vô hình trung dẫn đến việc mở rộng phạm trù Trời sang các hàm nghĩa khác: mệnh trời, ý trời, lòng trời, lí trời…

Căn cứ vào Kinh Thi và Kinh Thư, Trời được xem là có đặc trưng tính cách của con người. Trời có ý chí, luôn hướng tới điều chí thiện, luôn đề cao chính nghĩa. Trời không chỉ thống lĩnh điều hành các hiện tượng tự nhiên, mà còn thống lĩnh cả “chính đạo” trong xã hội[8]. Có thể thấy rằng, vì Trời vô cùng thần bí, sức mạnh vô song, vượt ra khỏi mọi sự đo lường của tư duy con người, có khả năng chở che hóa dục muôn loại, nên Trời được tôn xưng là vị thần tối thượng có đủ mọi năng lực. Trời và con người giống nhau ở chỗ không ngừng hướng thượng để truy cầu những điều thiện mĩ.

Trời làm chủ vạn vật, nhưng Trời làm thế nào để thực hiện quyền uy tối thượng đó của mình? Người Trung Quốc xưa cho rằng Trời có ý chí và mệnh lệnh. Do đó, dẫn đến phát sinh hai hàm nghĩa của Trời là ý trời và mệnh trời.

Quan niệm về “ý trời” ngay từ thời Ân Thương đã có, người sau này góp công khẳng định và đề cao thuyết “ý trời” là Mặc Tử. Mặc Tử nhấn mạnh Trời có ý chí, là vị thần tối cao có đủ quyền năng thưởng thiện phạt ác. Mặc Tử nói: “Người thuận ý trời, hành sự yêu quí lẫn nhau, mưu sự lợi ích lẫn nhau, người đó t sẽ được thưởng; còn người nghịch với ý trời, hành sử thù ghét lẫn nhau, giao tế mưu toan ám hại nhau, người đó t sẽ bị trời phạt.[9] (Mặc Tử, Thiên chí thượng) Có thể thấy rằng, ý trời là tiêu chuẩn để Mặc Tử suy xét hành động và lời nói của mọi người, đồng thời lấy đó để khuyên răn người cầm quyền biết hành thiện bỏ ác. Ý trời cũng chính là lòng trời, Trời mong muốn con người thương yêu nhau và mang lợi ích đến cho nhau, Trời ghét những người thù ghét và mưu hại nhau; Trời mong muốn con người nhân nghĩa và ghét người bất nhân bất nghĩa; Trời ghét nước lớn ỷ thế hiếp đáp nước nhỏ, ghét người có quyền uy ăn hiếp kẻ thường dân. Rõ ràng, tư tưởng “ý trời” của Mặc Tử có tác dụng duy trì trật tự xã hội, thiết lập chuẩn mực đạo đức và công bằng xã hội. Quan niệm này rõ ràng đã mượn quyền uy của Trời để biểu hiện lý tưởng, ý chí và nguyện vọng của bản thân ông và mọi người dân đương thời.

Quan niệm về “ý trời” có mối quan hệ nhất quán với quan niệm “mệnh trời”. “Mệnh” được đề cập đến ở đây vốn có nghĩa là “mệnh lệnh”, “mệnh trời” chính là mệnh lệnh do thượng đế ban xuống. Vậy làm sao để tiếp thu mệnh trời? Các nhà Nho Trung Quốc cho rằng, “mệnh trời” được thể hiện thông qua các sự vật và hiện tượng tự nhiên như: thiên tai dịch họa, núi sông cây cỏ, chim thú côn trùng… Nếu các sự vật và hiện tượng trên phát sinh điều dị thường, tức là đã đại diện cho một chủ ý nào đó muốn truyền đạt đến con người của thượng đế. Thông qua quan niệm này, các sự vật và hiện tượng tự nhiên được liên hệ với Trời. Vì vậy, “mệnh trời” là phương thức biểu đạt của “ý trời”. Vì ý chí của Trời là cố định không thể thay đổi nên mệnh lệnh của Trời cũng trở thành một định luật kiên cố, con người chỉ có thể tuân hành, không thể đối lập phản kháng. Vì vậy, “mệnh trời” chuyển sang hàm nghĩa là số mệnh, vận mệnh, định mệnh mà con người bị động tiếp nhận và không thể cải biến.

Nho gia bàn nhiều về “mệnh trời”, người tiếp nối quan điểm truyền thống và xây dựng thành học thuyết “mệnh trời” là Khổng Tử[10]. Theo quan điểm Nho gia, “mệnh trời” là một kiểu định mệnh mang tính tất nhiên bên ngoài con người, con người chỉ có thể thuận ứng theo mệnh trời mà không thể phản kháng đối nghịch tính tất nhiên đó, đồng thời cũng phải thuận theo ý chí của Trời. Nói như vậy, phải chăng chúng ta đã thừa nhận Trời có khả năng định đoạt mọi sự hưng vong của quốc gia, trị loạn của xã hội, thọ yểu của đời người; con người hoàn toàn bất lực trước ý trời, bó tay trước số mệnh? Không hoàn toàn như vậy, Trời mặc dù là chủ tể thống lĩnh vạn vật, thế nhưng ý chí của Trời lại chịu sự chi phối và tác động qua lại lẫn nhau với ý chí của con người. Trong mối quan hệ với bậc đế vương, mệnh trời thông thường thuận với ý dân[11]. Như vậy, bản thân “mệnh trời” có quy luật hình thành của nó, chứ không phải tùy tiện thiết lập mà không dựa trên bất cứ nguyên tắc nào.

Từ đời Tống trở đi, Trời có thêm hàm nghĩa là “lý trời” (thiên lý). Hai anh em môn đồ Nho gia Trình Di, Trình Hạo đề xuất mệnh đề “Thiên giả, lý dã” (Trời chính là lý), chính thức bổ sung hàm nghĩa “lý trời” cho phạm trù Trời[12]. Tư tưởng “lý trời” do Trình Di vận dụng tư tưởng Nho – Phật – Lão tổng hợp mà thành. “Lý trời” tức là quy luật vận hành của “đạo Trời” (thiên đạo), nguyên lý về đạo đức luân lý xã hội, cùng với nguyên lý biến hóa của vạn sự vạn vật. Hàm nghĩa “lý trời” của Trời rõ ràng có mối quan hệ mật thiết với ý trời, mệnh trời. Không chỉ như vậy, quan niện về “lý trời” của Trình Di nhất định tương thông với quan niệm “đạo Trời”. Về sau, lí học gia Chu Hi đã kế thừa học thuyết “thiên lý” của Trình Di và Trình Hạo, đề xuất các mệnh đề “Thiên tức lý dã, kì tôn vô đối” (Trời tức là lý chúng không đối lập nhau), “Thiên chi sở dĩ vi thiên giả, lý nhi dĩ” (Trời sở dĩ được gọi là Trời, vì nó có lý), “Nghịch lý, tắc hoạch tội ư thiên hĩ” (Đi ngược lại lý, tức tạo tội với Trời) để khẳng định Trời có ý nghĩa là “lý trời”.

Nhà Nho đời Minh Vương Thủ Nhân (tức Vương Dương Minh) lấy Tâm để giải thích Trời. Ông cho rằng: “Tâm giả, thiên địa vạn vật chi chủ dã, tâm tức thiên, ngôn tâm tức thiên địa vạn vật giai cử chi hĩ” (Tâm làm chủ trời đất vạn vật, tâm tức là Trời, nói đến tâm tức là đã bao hàm trời đất vạn vật ở trong đó). Theo ý kiến của Vương Thủ Nhân, vạn sự vạn vật, bao hàm cả “vật lý” đến “thiên lý” đều không tồn tại ở bên ngoài tâm, ở ngoài tâm không có sự vật sự việc, cũng không có cả “lý”. Tâm tức là Trời, Trời bao hàm cả trời đất vạn vật ở bên trong, đặc tính rộng lớn và phổ biến khắp mọi nơi của Trời cũng chính thể hiện đặc tính của Tâm[13]. Do đó, vạn sự vạn vật từ một Tâm này mà sinh ra, Tâm của Trời cũng chính là hình ảnh phản chiếu Tâm của người, chỉ có một điều khác là Tâm của Trời vốn tuyệt đối thiện lành không ác[14].

Tóm lại, Trời là một trong những phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc, nội hàm của nó vô cùng phong phú, hàm chứa phạm vi vô cùng rộng lớn[15]. Chúng tôi tạm thời chỉ ra các hàm nghĩa thượng đế, đạo trời, thiên nhiên, ý trời, mệnh trời, lý trời, tâm trời… Có thể kết luận, quá trình diễn biến về hàm nghĩa của phạm trù Trời phản ánh quá trình diễn biến tư tưởng quan niệm của người Trung Quốc xưa. Mặt thần bí của Trời ngày một nhạt dần, mặt triết học lý tính của Trời ngày một sâu đậm, điều này chứng tỏ sự phát triển không ngừng của khoa học tự nhiên luôn ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng quan niệm của các triết gia. Hơn nữa, theo xu hướng điều hòa, dung hợp giữa ba trường phái triết học Nho – Phật – Lão, tư tưởng về Trời cũng theo đó mang thêm màu sắc dung hợp tư tưởng tam giáo.

3. Tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần

Người Việt luôn tự xưng mình là con cháu của thần tiên. Theo truyền thuyết sáng thế Hồng Bàng thị truyện chép trong Lĩnh Nam chích quái do sử quan Việt Nam thế kỉ thứ 15 Vũ Quỳnh biên soạn, thì thủy tổ của người Việt là thần rồng Lạc Long Quân cùng tiên điểu Âu Cơ. Cả hai nửa thần nửa người, lại mang dấu vết của động vật, đặc điểm này rõ ràng thể hiện quan điểm dung hòa “Thần – Nhân – Vật” của người Bách Việt xưa, nổi bật trong đó là quan niệm vạn vật hữu linh và tín ngưỡng tô-tem, cộng với tư tưởng Thiên – Nhân hợp nhất còn ở dạng thuần phác nhất. Xét về nguồn gốc, thủy tổ của người Việt ngày nay và tộc Bách Việt ngày xưa vốn tương đồng nhau. Theo Vit Nam sử lược của Trần Trọng Kim, tổ tiên của Lạc Long Quân chính là vua Viêm Đế (tức Thần Nông Thị), cháu ba đời của Thần Nông Thị là Đế Minh lúc đi tuần thú ở vùng đất Ngũ Lĩnh của Phương Nam (nay tỉnh Hồ Nam) đã cưới Vụ Tiên Nữ làm vợ, sau đó sinh một nam là Khương Lộc Tục. Sau đó Đế Minh truyền ngôi cho Đế Nghi làm vua phương bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương trấn thủ phương nam, quốc hiệu là Xích Quỉ. Nước Xích Quỉ phía bắc giáp Động Đình Hồ, phía nam giáp Chiêm Thành, phía tây giáp vùng Tứ Xuyên, Ba Thục và phía đông giáp Nam Hải. Kinh Dương Vương lấy con gái Long Nữ của Động Đình Quân sinh một con trai là Sùng Lãm, sau kế thừa vương vị xưng là Lạc Long Quân. Sùng Lãm lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ sinh ra 100 trứng, sau đó nở ra 100 đứa con trai, tức tổ tiên của tộc Bách Việt. Sau đó Lạc Long Quân và Âu Cơ mỗi người dẫn theo 50 đứa con phân bố trên rừng dưới biển khắp nơi để sinh tồn, lập nghiệp, một nhánh trong đó là họ Hồng Bàng, tức Hùng Vương[16]. So sánh truyền thuyết sáng thế này với những tác phẩm thần thoại Trung Quốc như Bàn Cổ khai thiên, Tam hoàng ngũ đế, Nữ Oa và Phục Hi… có thể thấy mặc dù phía Việt Nam không bàn nhiều về quá trình khai thiên lập địa như Trung Quốc, nhưng tư tưởng sáng thế của hai bên thể hiện trong tác phẩm về cơ bản là tương đồng nhau.

Tư tưởng Trời của Trung Quốc truyền vào Việt Nam được người Việt Nam tích cực tiếp thu và chuyển hóa. Do hấp thu những đặc trưng văn hóa bản địa và nhu cầu lịch sử, tư tưởng Trời ít nhiều có sự mở rộng hàm nghĩa, tạo nên nét đặc sắc của tư tưởng Trời thời Lí Trần. Trong phần này, chúng tôi tiến hành phân tích tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần từ 9 góc độ: (1) Trời mang nghĩa trời đất, (2) Trời mang nghĩa tự nhiên, (3) Trời mang nghĩa thượng đế, (4) Trời mang nghĩa mệnh trời, (5) Trời mang nghĩa đạo trời, (6) Trời mang nghĩa lý trời, (7) Trời có phân biệt nam bắc, (8) Trời mang nghĩa cảnh giới siêu nhiên, (9) Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ và hư không pháp giới.

3.1. Trời mang nghĩa trời đất (Thiên địa chi thiên)

Trời là không gian vật chất tồn tại xung quanh con người, bao gồm tất cả những sự vật và hiện tượng hữu hình của thế giới tự nhiên mà các giác quan của con người có thể quan sát và nhận thức được chúng[17].

Các tác giả văn học thời Lí Trần đều cảm nhận rằng “Trời mang nghĩa trời đất” này có phạm vi vô cùng rộng lớn, là không gian bao trùm tất cả các sự vật và hiện tượng của thế giới tự nhiên. Thiền sư Dương Không Lộ dùng “vạn lí” (muôn dặm) để miêu tả chiều kích của Trời: “Muôn dặm sông xanh muôn dặm trời[18] (Ngư nhàn), Trần Thánh Tông dùng chữ “viễn” (xa) để mô tả Trời: “Cảnh thu xa ở ngoài trời xa[19] (Tự thuật), Trần Quang Triều lại dùng “khoát” (rộng), “cao” (cao lớn) để miêu tả Trời: “Biển rộng trời cao tìm chốn nào[20] (Đề Phúc Thành từ đường). Trời ở trên đầu con người kết hợp với mặt đất dưới chân người, tạo ra một không gian tự nhiên cao rộng của trời đất. Trương Hán Siêu sử dụng không gian trời đất của danh thắng Ngũ Hồ ở Trung Quốc để so sánh và ca ngợi phong cảnh xinh đẹp của núi Dục Thúy: “Trời đất ở Ngũ Hồ rộng thênh thang, hãy tìm lại tảng đá ngồi câu khi trước[21] (Dục Thúy sơn), Nguyễn Phi Khanh cũng từ không gian trời đất để miêu tả cảnh sắc buổi sáng sớm ở Hóa Thành: “Nước triều dâng lên, trời đất sáng dần; trăng sáng bạc và sông mênh mông[22] (Hóa Thành thần chung).

Không gian trời đất vật chất hữu hình này bao trùm tất cả các sự vật và hiện tượng của tự nhiên, trong đó có mặt trời mặt trăng, các vì sao, sông núi, gió mưa, cây cỏ, lam khí, sóng vỗ, chim thú: “Một con chim âu trắng giữa khoảng trời nước liền nhau[23] (Thiền sư Huyền Quang – Chu trung), “Nước triều xuống, tiếng sáo bên sông xa vẳng; trời rộng, mây là là ngọn cây[24] (Chu Văn An – Nguyệt tịch bộ tiên du sơn tùng kính), “Sắc trời phau phau nhạn khuất trong mây[25] (Trần Quang Triều – Quá An Long), “Nước mùa thu lồng trời mùa thu[26] (Trần Thánh Tông – Hạnh Thiên Trường hành cung), “Nhân đi việc quan, lên chơi núi quê nhà; ngẩng đầu nhìn trời cao muôn dặm… Núi Yên Phụ chỉ cách trời một nắm tay[27] (Phạm Sư Mạnh – Hành dịch đăng gia sơn), “Sau mưa tiếng suối chảy ầm ầm, trời tạnh lam chướng sạch làu làu[28] (Nguyễn Phi Khanh – Du Côn Sơn), “Ven biển mặt trời thanh bình chiếu sáng con đường thiên tử đi, ở trên trời sao Văn tinh quét sạch lam chướng[29] (Phạm Sư Mạnh – Họa đại Minh sứ Dư Quý), “Nhìn sóng lớn trên dưới đều là trời, lên núi cao đông nam đều là biển[30] (Phạm Sư Mạnh – Đăng Dục Thúy sơn lưu đề), “Giữa trời sáng rỡ mặt trời và mặt trăng[31] (Khuyết danh – Xuất xử), “Sông núi hoa chim đem mùa xuân lại cho trời đất, thành quách lâu đài gợi lên ý cổ kim[32] (Trần Thuấn Du – Bảo Sơn tự)… Dưới sự quan sát của các thi nhân thời Lí Trần, Trời vô cùng cao, đất vô cùng rộng, sông biển vô cùng sâu, ba thứ hợp lại tạo thành không gian sinh tồn của vạn vật.

Không chỉ là không gian tồn tại của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, Trời của trời đất cũng là không gian diễn ra các hoạt động sinh hoạt và tồn tại của con người: “Thân trượng phu đội trời đạp đất, chí khí phải cao vượt người cùng lứa… để lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất, thì đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người toàn vẹn nghìn xưa[33] (Nguyễn Chế Nghĩa – Ngôn Hoài), “Thân thế mịt mù tựa vào mái thuyền, buồm khách ngoài trời xa, chim về tổ vội vàng[34] (Phạm Tông Ngộ – Du Phù Thạch nghiêm nãi tiên tổ tu hành chi địa chu trung tác), “Người ta sống trong trời đất như một nhà trạm, sao có thể lìa bầy ở cô đơn một mình lâu được[35] (Nguyễn Phi Khanh – Tặng Đông Triều Phạm tiên sinh)…

Trời đất ngoài việc là không gian sinh tồn của con người, còn là không gian mà con người tu dưỡng chân tính của bản thân mình: “Nghìn màu xanh, muôn vẻ thúy, tràn ngập làng nước; góc bể bên trời là nơi nuôi dưỡng chân tính của ta[36] (Tuệ Trung Thượng Sĩ – Dưỡng chân). Quan điểm tu dưỡng mà Tuệ Trung Thượng Sĩ đề cập ở đây mang đặc trưng quan điểm tu tâm dưỡng tánh của Phật giáo. Ngoài ra, không gian tự nhiên trời đất cũng là đối tượng chứng kiến mọi sự hưng vong của quốc gia, sự trị loạn của xã hội, cũng như những cuộc chiến tranh vệ quốc của các anh hùng dân tộc: “Muôn đội thuyền bày, rừng cờ phấp phới; hùng hổ sáu quân, giáo gươm sang chói; thắng bại chửa phân, bắc nam lũy đối; ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, bầu trời đất chừ sắp hoại.[37] ( Trương Hán Siêu – Bạch Đằng Giang phú)

Tuy được cấu tạo bởi vật chất, nhưng do phạm vi của Trời vô cùng rộng lớn, con người không thể đo lường cùng tận, lại thêm quy luật vận hành vô cùng kì diệu, nên con người không có cách nào chạm được đến ranh giới của Trời, cũng không thể nào cùng thông được sự vận hành biến diệt của Trời: “Trong trời đất có ai hiểu thấu lẽ biến diệt, ngọn bút không có miệng vẫn nói chuyện hưng vong[38] (Đinh Củng Đán – Cù Đường đồ)

Năm 1010 dưới triều Lí, vua Lí Công Uẩn ban Chiếu dời đô, chuyển kinh đô từ thành Hoa Lư đến thành Thăng Long. Ông đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của loại không gian trời đất này đến vận mệnh hưng thịnh của quốc gia: “Ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thề rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.[39] (Lý Công Uẩn – Thiên đô chiếu). Theo quan điểm của Lí Công Uẩn, kinh đô cần phải được thiết lập ở nơi trung tâm của trời đất, ở chính giữa bốn phương đông tây nam bắc, phù hợp với yêu cầu của địa thế phong thủy. Làm được như vậy quốc gia ắt sẽ hưng thịnh, bá tánh ắt sẽ an cư lạc nghiệp. Quan điểm của Lí Công Uẩn rõ ràng tiếp thu lí luận về địa lí phong thủy truyền thống của Trung Quốc, đồng thời bao hàm cả quan điểm về Trời trong triết học Trung Quốc.

Tóm lại, Trời mang hàm nghĩa trời đất trong văn học thời Lí Trần chính là không gian rộng lớn của thế giới tự nhiên trời đất. Không gian đó bao trùm toàn bộ sự vật hiện tượng của giới tự nhiên và loài người sống trong xã hội. Con người mặc dù có thể dùng các giác quan để quan sát và nhận thức về Trời, nhưng tuyệt không thể nào cùng thấu những động thái biến chuyển kì diệu của nó. Trời này là Trời thuần túy mang tính vật chất, chưa từng bị mở rộng hàm nghĩa. Một vấn đề quan trọng khác là những sáng tác miêu tả Trời này đại bộ phận có tính văn học cao, đồng nghĩa với việc khiếm khuyết chất lý tính của triết học. Nguyên nhân có thể là do người Việt trước đây không có sở trường về mặt lý tính của triết học, hơn nữa đối với loại Trời vật chất này, sự tồn tại của nó vốn rất rõ ràng, mọi người đều có thể trực tiếp cảm nhận mà không cần biện luận nhiều. Vì vậy, những sáng tác được dẫn ra phía trên mang đậm đặc trưng cảm tính của văn học, Trời và các sự vật hiện tượng giao hòa lẫn nhau, tạo nên bối cảnh phù hợp với cảm xúc và trạng thái nội tâm của văn sĩ.

3.2. Trời mang hàm nghĩa tự nhiên (Thiên nhiên chi thiên)

“Thiên nhiên” hay “tự nhiên” được đề cập đến ở đây hoàn toàn khác với Trời của trời đất phía trên. Học giả Lí Thân của Trung Quốc nhận định về loại Trời này như sau: “Trời là tên gọi chung của vạn vật, cũng là trạng thái tồn tại của vạn vật, đặc điểm chung của chúng là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Vì vậy, nói đến Trời, tức là chỉ những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’; còn nếu nói đến những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’, tức là đã nói đến Trời. Vì vậy, Trời và tự nhiên trở thành từ đồng nghĩa, Trời mang hàm nghĩa ‘tự nhiên nhi nhiên’. Thiên nhiên, có thể gọi tắt là Thiên (Trời)” [40]. “Tự nhiên nhi nhiên” được đề cập ở đây chính là trạng thái vốn có của trời đất vạn vật, tức là tự nhiên vốn chưa qua bàn tay tác động của con người. Đặc trưng quan trọng của “tự nhiên nhi nhiên” chính là “vô vi”, tức mang tính chất vô ý chí, vô công năng, vô tình cảm, tùy thuận trạng thái tự nhiên vốn có. Hàm nghĩa này của Trời rõ ràng xuất phát từ tư tưởng Đạo gia. Đạo gia cho rằng cảnh giới tự nhiên vô vi chính là trạng thái tồn tại lí tưởng của trời đất, con người và vạn vật. Như vậy, “tự nhiên” ở đây chính là trạng thái bản chất của vạn vật, cái định luật vốn có của trời đất, chưa qua sự can thiệp cải tạo của con người.

Các tác giả văn học thời Lí Trần đều cho rằng Trời có quy luật tồn tại và vận hành một cách tự nhiên, quy luật này là thường hằng bất biến, hoàn toàn không có liên quan đến ý chí của con người. Lê Cảnh Tuân cho rằng trật tự vần xoay tiếp nối nhau của 4 mùa chính là biểu hiện tự nhiên của Trời: “Núi sông trùng điệp, đường khách xa xăm; đông qua xuân tới, đạo trời vần xoay; muôn việc hững hờ qua, theo thời tiết thay đổi[41] (Giang trung phùng lập xuân nhật), Đoàn Nhữ Hài cũng từng có cách nhìn tương tự: “Đất trời lượng che chở, đông hàn tiếp đến dương xuân[42] (Nghĩ Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu), Trần Nguyên Đán lại sử dụng hình ảnh nở rụng của hoa mai để bàn luận về khí trời (thiên khí): “Cây mai ngậm hạt ngọc như đưa tin thời tiết của trời, Khóm trúc cài trâm ngọc xanh, như để lộ sự huyền bí của đất[43] (Tiểu vũ), Nguyễn Nguyên Ức đặc biệt dùng quy luật chuyển tiếp nóng lạnh tự nhiên của trời đất để nhấn mạnh quy luật chuyển biến về sự hưng vong của quốc gia: “Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được (lòng) người thì nước trị, mất (lòng) người thì nước loạn. Thần trải xem các bậc đế vương đời trước, thấy chưa từng ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong. Tuy nhiên nguồn gốc dẫn đến những sự hưng vong đó, không phải là cái cớ một sớm một chiều. Chúng xuất hiện dần dần. Ví như trời đất, không thể nóng hay rét bất thần, mà phải biến chuyển dần dần qua mùa xuân thu. Vua chúa cũng không thể bất thần hưng hay vong được, mà phải dần dần do làm thiện hay gây ác.”[44] (Thiên hạ hưng vong trị loạn chi nguyên luận). Có thể thấy, Trời có quy luật vận hành tự nhiên, giống như quy luật chuyển hóa bốn mùa xuân hạ thu đông của thời tiết.

Ngoài ra, mọi sự vật và hiện tượng tự nhiên đều do trời đất tạo hóa sản sinh, như: núi sông, biển cả, đường sá, phong cảnh: “Trời đất mở ra lộ Tam Giang[45] (Phạm Sư Mạnh – Tuần thị Chân Đăng châu), “Cảnh tốt hoà lành, đồ tựa vẽ tranh. Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo, nhìn chi vua Bụt tu hành. Hồ sen trương tán lục, suối trúc bấm đàn tranh.[46] (Thiền sư Huyền Quang – Vịnh Vân Yên Tự phú). Chức năng tự nhiên của Trời là che chở cho tất cả con người và vạn vật của thế gian: “Trời đất cùng che chở, mặt trăng và mặt trời cùng sáng soi, cho nên mới sinh thành muôn vật, phát triển nuôi dưỡng mọi loài.”[47] (Lê Văn Hưu – Đại Việt sử kí, Nhược tư luận). Địa hình núi sông hiểm trở cũng đều do trời đất tự nhiên sắp đặt: “Chốn trời đất đặt bày, ấy địa trục phương Nam mạnh thế[48] (Nguyễn Bá Thông – Thiên Hưng trấn phú), “Từ có vũ trụ, đã có giang san, thật là trời đất đặt ra nơi hiểm trở.”[49] (Trương Hán Siêu – Bạch Đằng Giang phú). Có thể thấy, vạn vật trong trời đất đều do tự nhiên tạo dựng, đồng thời cũng chịu sự chi phối của tự nhiên. Sự tạo dựng và chi phối này vốn là chức năng tự nhiên của Trời, từ xưa đến nay tự nó vốn là vậy, không do bất kì ý chí của cá nhân hay thần thánh nào can dự đến.

Trong một bài thơ hàm chứa quan niệm Phật giáo, tác giả đã khéo léo sử dụng đặc trưng bản chất của các hiện tượng tự nhiên như “gió trời” (thiên phong) và “trăng xưa” (cổ nguyệt) để làm đối tượng tham chiếu, nhấn mạnh phật tính vốn sáng suốt vô mê của mỗi con người, từ đó cổ vũ mọi người dừng bặt hết mọi sự động niệm của tự tâm: “Đừng có tìm Thiếu Thất với Tào Khê, thể tính vằng vặc chưa có mê lầm, mặt trăng xưa soi nào kể gì xa hay gần, gió trời thổi nào chọn nơi cao hay thấp.”[50] (Tuệ Trung Thượng Sĩ – Thị chúng). Mặt trăng từ xưa đến nay chiếu rọi không phân biệt xa gần, gió trời từ xưa đến nay thổi không phân biệt cao thấp, đây chính là bản chất xảo diệu tự nhiên của vạn vật.

Tóm lại, nhiều tác giả văn học Lí Trần khẳng định bản chất “vô vi”, “tự nhiên nhi nhiên” của Trời. Cách nhìn này hoàn toàn đối lập với quan điểm cho rằng Trời là vị thần linh tối cao có ý chí và nhân cách.

3.3. Trời mang nghĩa thượng đế (Hoàng thiên chi thiên)

Học giả La Quang trong cuốn Trung Quốc triết học đại cương đã chỉ ra những đặc điểm của Trời mang nghĩa thượng đế: Trời là vị thần vô hình tướng, Trời tối cao vô thượng, Trời chí tôn chí đại, Trời không có gì là không biết, Trời không có gì không thực hiện được, Trời trường tồn không có điểm cuối[51]. Học giả Trương Lập Văn xem Trời là vị thần có nhân cách, đồng thời chỉ ra mấy đặc điểm của Trời: Trời và con người đều có những cảm xúc vui, mừng, buồn, giận giống nhau; Trời có thể định đoạt vận mệnh con người, Trời có thể thu hồi mệnh lệnh và khiển trách người, Trời có tấm lòng yêu quý điều nhân đức và đề cao điều thiện[52]. Từ những ý kiến trên, có thể rút ra 3 đặc trưng chủ yếu của Trời mang nghĩa thượng đế này như sau: (1) Trời là vị thần linh tối cao thống lĩnh chư thần, tức là vị chủ tể duy nhất của thế giới thần linh, vì giữ địa vị tối cao vô thượng nên Trời có quyền lực vô hạn, có thể quan sát và chi phối đến tất cả các mặt của giới tự nhiên và đời sống xã hội; (2) Trời là vị tổ sản sinh và hóa dục nhân loại vạn vật, đồng thời thiết lập nên trật tự xã hội loài người; (3) Trời luôn đầy ắp lòng yêu thương, có những tình cảm vui mừng buồn giận của con người, thường quan sát theo dõi công tội của từng người để thưởng thiện phạt ác. Trời này từ trước đến này được gọi bằng nhiều cách khác nhau: Hoàng thiên, thượng đế, thiên công, lão thiên, Ngọc Hoàng thượng đế, Ngọc đế, thượng thiên, hóa công, tạo hóa…

Tác giả văn học Lí Trần đều chủ trương Trời là vị thần tối cao sáng tạo ra càn khôn vũ trụ và xã hội loài người, cũng như thiết lập nên những quy phạm luân lí đạo đức xã hội. Nguyễn Phi Khanh chỉ ra vai trò sáng tạo vũ trụ của Trời cùng với tính chất huyền diệu của nó: “Tay thước trời dựng xây vũ trụ, thân khuôn lớn đúc nên mọi thứ… Nếu không phải tạo vật huyền diệu, hóa công tuyệt xảo thì sao được như thế[53] (Diệp mã nhi phú), sử gia Lê Văn Hưu cho rằng Trời hóa sinh loài người, đồng thời vì người dân mà chọn ra bậc minh quân có đầy đủ đức hạnh và tài trí: “Trời sinh dân, lại đặt ra vua, ấy là để vua chăn dắt dân, chẳng phải để vua tự cung phụng mình[54] (Đại Việt sử kí – Tự phụng luận). Không chỉ sáng tạo ra sự sống, Trời còn nỗ lực giáo hóa, dẫn dắt con người và vạn vật: “Trời không đâu không giáo hóa[55] (Đoàn Nhữ Hài – Nghĩ Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu), “Trời sai sao Cảnh Tinh, chim Phượng Hoàng mở mang điển chương[56] (Nguyễn Phi Khanh – Hạ Trung thư thị lang). Trời vì vận mệnh của quốc gia mà tuyển chọn lương thần để phò chính: “Trời dành một vị quốc lão để phò vận thịnh, vua yêu vị cựu thần được ba triều nương tựa[57] (Nguyễn Phi Khanh – Nguyên đán thượng Băng Hồ tướng công), Trời thương tiếc cho những vị hiền thần không được vua trọng dụng, nên cảm thông cho nỗi lòng trắc ẩn của họ: “Xã tắc đương hồi thịnh, trời cũng giúp vì; đâu chịu để tiên sinh già đi ở chốn non xanh[58] (Trần Nguyên Đán – Tặng Chu Tiều Ẩn), “Địa vị tam cô trọng yếu, đức càng sáng tỏ, trời chẳng để ông ở lại nơi miếu đường nữa[59] (Trần Đình Quân – Vãn Vương Thiếu Bảo nhữ chu). Trời cũng cảm thông với nỗi lòng của những nhà Nho ưu thời mẫn thế: “Trên đầu có trời già, nương tựa tháng ngày, cõi đời là cảnh mộng, phó mặc mây khói[60] (Nguyễn Phi Khanh – Thành trung hữu cảm kí trình đồng chí), “Phong độ hai ông già đã nghìn năm xa rồi, nay trời trao chức, hoa cúc ẩn dật phải ra gánh vác[61] (Đỗ Khắc Chung – Vịnh cúc), “Quan nhàn hạ, ta tìm được bí quyết tu thân, già đi rồi, lòng học đạo đã có trời biết[62] (Nguyễn Phi Khanh – Đề Huyền thiên tự).

Trời luôn quan sát mọi việc của thế gian, thể hiện sự vui mừng trước công trạng và sự tức giận trước sai trái của con người. Năm 1013, Lí Công Uẩn điều binh chinh phạt loạn quân đất Diễn Châu, đánh xong trở về qua cửa biển Biện Khẩu gặp phải sóng to gió lớn, ông cho rằng Trời nổi giận và trách phạt sai lầm của ông, bèn lập đàn đốt hương khấn vái rằng: “Còn trong khi binh đao xô xát, hoặc giết oan người trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận vạch rõ lầm lỗi  cho tôi, thì dù cho thân này có phải chết cũng không dám phàn nàn gì. Tuy nhiên, đối với sáu quân, tội đó xin dung thứ. Dám mong lòng trời soi xét.”[63] (Chinh hoàn quá Biện Khẩu, ngộ bạo phong sậu vũ, đảo ư thiên) Đoạn văn trên của Lí Công Uẩn thể hiện thái độ kính sợ và tuân mệnh của ông đối với Trời. Đào Cam Mộc lúc khuyên bảo Lí Công Uẩn soán đoạt ngôi vua của Lê Ngọa Triều cũng lấy lý lẽ Trời ghét kẻ hung bạo, phế trừ kẻ ác để tăng sức thuyết phục: “Mới rồi chúa thượng u mê bạo ngược, làm nhiều điều bất nghĩa, trời chán ghét ông ta thất đức nên không cho hưởng hết tuổi thọ.[64] (Khuyến Lí Công Uẩn tức đế vị)

Trời có ý chí, nên việc thừa kế ngôi vua là do ý Trời quyết định. Cuối triều Lí, do không sinh được con trai kế vị, vua Lí Huệ Tông đã tự trách tội của mình, dự định nhường ngôi cho Trần Cảnh nên tập hợp quần thần nghị sự. Ông nói: “Trẫm vì thất đức, mang tội với trời, tuyệt đường kế tự, đành truyền ngôi cho con gái… Thượng hoàng để chàng hai nối ngôi, đó là ý trời. Trời đã cho mà không nhận thì sẽ phải chịu tội đấy.” [65](Việt sử lược, Lí Huệ Tông dục tốn vị ư Trần Cảnh chi tranh biện) Trời ghét cảnh chiến tranh loạn lạc: “Chừng như lòng trời đang chán loạn lạc[66] (Phạm Nhữ Dực – Tị tặc sơn trung trừ dạ) và yêu quí cảnh thái bình thịnh thế. Vì Trời có tâm nên có thể thấu hiểu nhân tâm: “Rốt cuộc chỉ có trời già mới biết được lòng mình.[67] (Phạm Nhữ Dực – Họa Nguyễn Vận đồng khiển muộn thi vận kì nhất)

Trong quan niệm của các tác giả thời Lí Trần, Trời luôn luôn khen thưởng, trợ giúp, phù trợ cho những người thiện lương biết giữ đức, đặc biệt là minh quân và lương thần. Trong Lâm chung di chiếu, vua Lí Nhân Tông đã nhấn mạnh sự phù trợ của tổ tông và hoàng thiên đối với sự nghiệp và vận mệnh của quốc gia, dân tộc: “Nhờ anh linh của tổ tông và hoàng thiên tin giúp nên bốn bể yên lành, biên thùy ít loạn[68] (Lâm chung di chiếu), vua Trần Nhân Tông cũng khẳng định sự phù trợ của hoàng thiên đối với sự nghiệp chấp chính của mình: “Trẫm nhờ ơn chăm bẫm của hoàng thiên mới hưởng được ngôi chí tôn. Việc dân quá đỗi gian nan, chính sự quá ư phiền nhiễu[69] (Lục thời sám hối khoa nghi tự). Trần Công Cẩn trong bài Bàn Khê điếu huỳnh phú mượn câu chuyện Khương Thái Công phò trợ Chu Văn Vương diệt Thương lập Chu, đồng thời khẳng định sự ủng hộ của hoàng thiên đối với những vương triều xem trọng chính nghĩa: “Đó chẳng phải là trời giáng điểm làm để làm rạng rỡ đức độ vua tôi lúc bấy giờ đấy sao?… Ôi, mệnh trời đến như thế, há chẳng phải trời cho ngọc huỳnh mà báo điềm tốt đó sao?… Đó chẳng phải là trời lấy tin lành mà nêu lên điềm tốt đấy sao?[70] (Bàn Khê điếu huỳnh phú)

Năm Canh Ngọ 1150 triều Lí, Lí Thần Tông bị trọng bệnh, quan Thái úy Đỗ Anh Vũ đã tự thân trai giới tắm gội lập đàn cầu đảo cho vua khỏi bệnh, hoàng thiên cảm động lòng trung thành đó mà đáp ứng ý nguyện: “Thái Úy tắm gội trai giới, chọn đất lập đàn, dựng nghi trượng cầm ngọc khuê, cầu xin chịu bệnh thay vua. Hoàng thiên thương Thái úy là người trung hiếu , nên cho một phương thuốc thần, vua uống viên kim đan lập tức khỏi bệnh.”[71] (Khuyết danh – Cự Việt quốc Thái úy Lí công thạch bi minh tự) Đoạn văn trên chứng minh Trời luôn ủng hộ, giúp vì bậc trung thần nghĩa sĩ.

Trời đã giáng điềm lành để tán dương và phù rập cho người biết giữ gìn đức hạnh, đương nhiên cũng sẽ giáng tai ách để trừng phạt và tiêu diệt kẻ gian tặc bất chính. Nguyễn Công Bật viết trên mặt sau bia tháp Sùng Thiện Diên Linh như sau: “Sau này nếu kẻ nào trong hai xã sáu thôn hoặc người tứ xứ chiếm ruộng tam bảo làm của riêng thì xin hoàng thiên và thập bát long thần tru diệt.”[72] (Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, mặt sau)

Người Việt Nam trong thời gian dưới ách thống trị của phương Bắc luôn luôn hy vọng xuất hiện thánh nhân để dẫn dắt dân tộc đấu tranh giành độc lập tự chủ. Lê Văn Hưu cho rằng hoàng thiên có thể đáp ứng ý nguyện này của con người: “Thắp hương khấn trời, xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, để tự làm vua nước nhà, khỏi bị người phương Bắc xâm chiếm bóc lột.”[73] (Đại Việt sử kí – Ngã Việt thuộc Đông Hán chi thời luận) Lê Văn Hưu trong một bài sử luận khác cũng cho rằng Đinh Tiêng Hoàng chính do hoàng thiên vì vận mệnh đất nước ta mà sinh ra: “Chắc hn ý trời muốn vì nước Việt ta, lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối chính thống của Triệu Vương chăng?[74] (Đại Việt sử kí – Đinh Tiêng Hoàng luận).

Tóm lại, Trời mang hàm nghĩa thượng đế trong văn học Lí Trần chính là vị thần tối cao sáng thủy càn khôn vũ trụ và nhân loại vạn vật, cũng là đối tượng thiết lập những quy phạm đạo đức luân lí làm rường mối cho xã hội. Trời thông qua quyền lực của đế vương gián tiếp chỉ đạo điều hành quốc chính, chọn minh quân để dựng nước trị dân, dùng lương thần để phò tá minh quân. Trời còn giữ trọng trách khuyến thiện trừng ác, thưởng công phạt tội. Tư tưởng Trời này rõ ràng tiếp thu quan niệm trời là vị thần tối cao của Nho gia, đặc biệt kế thừa sâu sắc hệ thống tư tưởng triết học của Đổng Trọng Thư.

3.4. Trời mang nghĩa mệnh trời (Thiên mệnh chi thiên)

Hàm nghĩa này của Trời trước sau nhất quán với hàm nghĩa thần tối cao, tức thượng đế. Mệnh trời một mặt dùng để chỉ ý chỉ và mệnh lệnh của Trời, một mặt dùng để chỉ vận mệnh, số mệnh của con người do Trời sắp đặt. Bởi vì con người chủ thể khi đối diện với mệnh trời thì cái chủ thể ấy mờ nhạt đi, con người trở nên vô năng, bất lực trước mệnh trời, nên mệnh trời chính là một định luật mang tính tất nhiên khách quan bên ngoài và chi phối cuộc sống con người. Vì vậy, con người cần phải thuận ứng theo mệnh lệnh của Trời, tuyệt không thể phản nghịch lại tính tất nhiên đó, tức không phản nghịch lại ý chí của Trời.

Các tác giả thời Lí Trần tin tưởng rằng Trời luôn ban hành các mệnh lệnh, mệnh lệnh đó là bất di bất dịch, cố định và hiển nhiên trở thành định mệnh, do đó con người nhất định phải tuân theo mệnh trời. Các triều đại nối tiếp nhau thống trị thiên hạ đều do mệnh trời sắp đặt: “Từ xưa nước Nam Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ, riêng nhà Lí ta vâng chịu mệnh trời, làm chủ bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn 200 năm.”[75] (Lí Chiêu Hoàng – Thiện vị chiếu) Lí Chiêu Hoàng khẳng định, sự trị vì đất nước của các đời vua triều Lí là thuận theo mệnh trời. Cũng vậy, đối với Lí Công Uẩn, việc quốc gia đại sự như định đô và dời đô cũng đều do Trời định đoạt, bậc thiên tử phải tuân theo mệnh trời, nếu làm ngược lại ắt sẽ chuốc lấy bại vong: “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi.”[76] (Thiên đô chiếu) Lí Công Uẩn cho rằng những triều đại biết tuân theo mệnh trời thì vận mệnh quốc gia sẽ trường tồn, sự nghiệp thịnh vượng, các mặt của nền văn hóa xã hội sẽ xán lạn rỡ ràng. Ông phê phán hai triều Đinh Lê xem thường mệnh trời nên vận mệnh ngắn ngủi, sự nghiệp sớm phải suy vong. Không chỉ việc định đô, ngay cả việc thảo phạt phản thần hay loạn quân đều do mệnh trời sắp đặt: “Nay, Tồn Phúc càn rỡ, tự tôn tự đại, tiếm xưng vị hiệu, ban hành chính lệnh, tụ tập quân ong kiến, làm hại dân biên thuỳ. Vì thế, trẫm cung kính thi hành mệnh trời trách phạt, bắt được bọn Tồn Phúc, gồm năm người, đều đem chém đầu ở chợ[77] (Lí Phật Mã – Bình Nùng chiếu), “Nhận chức tướng quân xong, vâng lệch trời đi chinh phạt.”[78] (Nguyễn Ức – Tống Cúc Đường chủ nhân chinh Thích Na)

Tất cả mọi sự thành bại sống chết của con người đều phải tuân theo mệnh trời, hoàn toàn không thể kháng cự và trốn chạy khỏi nó. Phạm Nhữ Dực cho rằng nhất cử nhất động trong cuộc sống con người đều do số mệnh quyết định: “Hành tàng hay dụng xả không gì là không có số mệnh[79] (Kí Quách huyện thừa). Đối với ông, sự gặp gỡ của bạn bè lâu năm xa cách nhau cũng không thể không do duyên số Trời định: “Chúng ta hội họp không phải là không có số, chớ có chầm chậm khi dốc chén rượu biếc[80] (Phạm Nhữ Dực – Liên Đình nhã tập). Vua Lí Nhân Tông cũng cho rằng sự sống chết của con người chính do số mệnh quyết định: “Mọi loài sinh vật, không có loài nào là không chết. Chết, là cái số lớn của trời đất, cái lý của vạn vật là như vậy[81] (Lâm chung di chiếu). Trần Thánh Tông xót thương cho cái chết của Trần Trọng Trưng mà cảm thán như sau: “Vô cớ mà sổ trời lại ghi năm tháng của ông, chẳng kể gì đến trần gian ai nên sống mà ai nên chết[82] (Vãn Trần Trọng Trưng), Trần Thánh Tông cho rằng trên trời có sổ sanh tử ghi chép về sinh mệnh của mỗi người. Sau khi sủng phi Nguyễn Bích Châu của vua Trần Duệ Tông mất, ông đã viết một bài tế văn trong đó có nói rằng: “Số mệnh đã định chừ trời kia không vì, vì đâu nên nỗi chừ lỗi trẫm khó từ.”[83] (Nguyễn Bích Châu tế văn) Rõ ràng ông khẳng định mạng sống con người là do số trời định đoạt.

Vua Trần Thái Tông chủ trương đời người giàu nghèo sang hèn đều được quyết bởi số trời, nếu con người vì quá nghèo hèn mà trộm cướp tài sản của người khác, người đó sẽ bị đọa lạc vào địa ngục u minh: “Hay đâu phú quý tại trời, còn nuôi ý tham cầu xằng bậy, bả chó đào hang, khoét vách xuyên tường, theo chân tướng quân Sơn Dương, hay tập theo gương người quân tử Lương Sơn. Nghịch trời phản đất, dối pháp khinh hình, còn sống thì bị luật pháp khảo tra, chết đi thì bị minh ty đánh đập.[84] (Luận văn ngữ lục – Giới thâu đạo) Quan điểm trên của Trần Thái Tông thực chất là lặp lại những điều luật răn cấm trong đạo Phật, tư tưởng của ông rõ ràng thể hiện màu sắc tổng hợp của tư tưởng Nho và Phật.

Nước Việt Nam từ thời Ngô về sau độc lập tự chủ, vua tôi các triều Lí Trần để khẳng định cương vực lãnh thổ của quốc gia đã nhiều lần vận dụng tư tưởng mệnh trời để tăng thêm sức đanh thép của lời tuyên bố: “Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời, cớ sao lũ gic phản nghịch còn sang xâm phạm, chúng bây ắt sẽ chuốc lấy bại vong.”[85] (Lí Thường Kiệt – Nam quốc sơn hà) “Sách trời” mà vị tướng quân Lí Thường Kiệt nhấn mạnh không ngoài loại sách ghi rõ sự khác biệt về cương vực lãnh thổ giữa Nam Bắc theo mệnh lệnh của Trời, nên rõ ràng sách trời cũng chính là mệnh trời. Nhờ sử dụng quan niệm “mệnh trời”, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến được khẳng định ở mức cao hơn. Lí Thường Kiệt đã rất thông minh trong việc vận dùng một học thuyết mà Trung Quốc luôn đề cao để đả phá lại dã tâm xâm lược của bọn giặc phương Bắc. Ông còn khéo léo cảnh cáo bọn giặc đi ngược lại với mệnh trời (nghịch lỗ) sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại. Với Lí Thường Kiệt, sách trời vạch rõ sự khác biệt về cương thổ thì đối với Nguyễn Bá Tĩnh, sách trời còn ghi chép sự khác biệt về thổ sản giữa Nam và Bắc: “Sách trời đã định nước Nam có những thổ sản khác biệt với phương Bắc.”[86] (Trực giải chỉ nam dược tính phú)

Tóm lại, văn học Lí Trần khẳng định có mệnh trời, bao gồm mệnh lệnh do Trời ban hành và cả thứ định mệnh mang tính tất nhiên. Con người khi đối diện với bất kì hoàn cảnh nào nhất thiết đều phải tuân theo mệnh trời, bằng ngược lại ắt sẽ chuốc lấy tổn thất bại vong. Tư tưởng thiên mệnh trong văn học Lí Trần rõ ràng tiếp thu từ học thuyết thiên mệnh của Nho gia, nhưng hầu như không có tác giả nào khẳng định tính chủ động biến đổi hoàn cảnh của con người trước hoàn cảnh như Tuân Tử.

3.5. Trời mang nghĩa đạo trời (Thiên đạo chi thiên)

Hàm nghĩa “đạo trời” cũng có mối quan hệ mật thiết với hàm nghĩa “thượng đế”. Đạo trời (thiên đạo) chính là quy luật và chuẩn mực vận động của trời đất vạn vật. Quy luật này bao phủ tất cả sự vật và hiện tượng của giới tự nhiên, đồng thời điều chỉnh tất cả mọi hành vi đạo đức của con người, tạo nên quỹ đạo tồn tại và phát triển của vạn vật.

Tác giả văn học thời Lí Trần cho rằng Trời xây dựng đạo trời để làm khuôn mẫu cho vũ trụ vạn vật, các bậc thánh nhân căn cứ vào đạo trời mà thiết lập đạo người (nhân đạo) để giáo hóa nhân quần. Một vị Nho sĩ đời Trần phát biểu: “Lớn lao thay vị thần thánh Hy Hiên, căn cứ vào đạo trời mà lập ra đạo “đại trung” để dy dân. Đặt ra văn tự để tiện dùng, lấy chữ nghĩa để mà ghi chép. Lập ra sử quan để giữ gìn phép tắc, làm ngay ngắn mối quan hệ giữa vua tôi. Đến khi Nghiêu Thuấn nối ngôi, công nghiệp lại rỡ ràng hơn thuở trước. Vũ Thang khép mình nên cung kính, Kiệt Trụ buông lỏng nên bạo tàn. Văn Vũ hoà mục mà khiêm cung, U Lệ hôn mê mà tàn bạo… Người lấy đức để dấy nền thịnh trị, kẻ tối tăm nên làm mất nước nhà. Ai cầm bút ghi chép thẳng thắn mà được nêu đầy đủ rõ ràng nơi sử sách? Ôi! Từ khi bánh xe họ Cơ dời sang phía đông, kỷ cương của nhà vua suy đồi không dựng lại được. Giáo mác ngổn ngang bờ cõi, người hoá ra cầm thú ăn thịt lẫn nhau. Tôi giết vua, con lại giết cha, luân thường theo đó mà mai một.[87] (Khuyết danh – Đổng Hồ bút phú) Phục Hi và Hiên Viên chính là những vị thánh hiền thời cổ đại Trung Quốc, họ căn cứ vào đạo trời mà sáng tạo ra văn tự và chức quan chép sử với mục đích ghi chép đạo làm người để giáo hóa muôn dân. Nghiêu Thuấn, Vũ Thương, Văn Vũ vì nghiêm mật tuân theo nhân đạo nên quốc gia thịnh vượng, bách tính lạc nghiệp âu ca. Thời Kiệt Trụ, U Lệ vì thi hành bạo chính, không tuân giữ nhân đạo nên bách tính thống khổ, quốc gia suy vong. Con người một khi không biết giữ gìn nhân đạo, kỉ cương xã hội ắt sẽ suy đồi, đạo lý luân thường bại hoại, loài người sống chẳng khác nào cầm thú. Các tác giả vận dụng những câu chuyện và nhân vật trong lịch sử Trung Quốc cổ đại để chứng minh cho quan niệm đạo trời của mình.

Trời xây dựng đạo trời để làm khuôn mẫu cho quá trình tu thân của con người, cương thường đạo đức cũng do Trời thiết lập để giáo hóa con người theo lễ nghĩa, và đó cũng là yêu cầu của Trời đối với người: “Đạo đức con người vốn do trời tạo ra[88] (Ngụy Tự Hiền – Báo Ân thiền tự bi kí), “Hiếu tâm đà thấu trời Nghiêu rộng, nhân trạch thêm sâu đất Vũ tràn.[89] (Phạm Nhân Khanh – Hỗ bái Sơn Lăng hồi kinh)

Tóm lại, tác giả thời Lí Trần bàn về đạo trời không nhiều, những tài liệu còn lưu lại chủ yếu nhấn mạnh con người căn cứ vào đạo trời để thiết lập đạo đức nhân luân làm rường mối cho xã hội, trở thành khuôn mẫu để con người tu thân.

3.6. Trời mang nghĩa lý trời (Thiên lý chi thiên)

Học giả Lí Thân xác định phạm trù “lý trời” như sau: “Khi con người nhận thức càng sâu sắc về thế giới, thì họ sẽ phát hiện ra, không chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, mà cả kết cấu tự thân của sự vật, quan hệ tương hỗ giữa vật và vật, cùng với tính vận động tất nhiên của sự vật… đều là quá trình vận hành khách quan không chịu sự ảnh hưởng, tác động của con người; tiếp đó lại mang trật tự xã hội và các loại hành vi quy phạm do chính trật tự này quyết định đều xem như một loại tồn tại mang tính tự nhiên, vạn cổ bất biến, con người chỉ có thể tuân thủ chứ không thể phản đối. Thứ này lúc đầu gọi là lý, về sau gọi là thiên lý. Lý tức là sự tồn tại tự nhiên, là xu thế tất nhiên, cũng chính là trời, trời vì vậy có thêm hàm nghĩa là lý, mà ngay chính ý nghĩa của trời cũng đã bao hàm lý”[90] .

Các tác giả thời Lí Trần cho rằng Trời có thiên tính, thiên chân. Cái thiên tính, thiên chân này thể hiện rõ rệt nhất trên chính thân thể con người. Vua Trần Nhân Tông thông qua việc miêu tả hình ảnh cây trúc để tán thưởng phẩm chất cao quý của đội ngũ nô bộc của mình: “Trải tuyết lạnh mà tâm thông suốt, dầu giải trong sương mà đốt cứng cỏi. Mượn ngươi làm tôi đòi, sợ rằng trái với tính tự nhiên của nhà ngươi.[91] (Trúc nô minh) Ông ca ngợi những người nô bộc mặc dù hứng chịu bao nhiêu gian khổ nhưng vẫn giữ trọn tấm lòng trung trinh, tiết tháo. Trần Hiệu Khả lại lấy “thiên chân” để nhấn mạnh cuộc sống ẩn dật đầy thú vị của mình: “Ngả nghiêng một giấc, vui với tính trời, tỉnh dậy muôn việc đều quên hết.[92] (Tức sự) Vì Trời ẩn chứa thiên chân, thiên tính, tức cái lý tồn tại của Trời, nên Trời là đối tượng chí thanh, chí hư và chí đại: “Trong việc ‘xuất’, ‘xử’ của kẻ hiền đạt, thì ‘xuất’ là để hành động theo lẽ trời, ‘xử’ là để tìm thú yên vui, cũng theo lẽ trời. Trời là gì? Là cái chí thanh chí hư, chí đại đó thôi! Bốn mùa thành năm mà không tỏ ra có công, vạn vật chịu ơn mà không lộ rõ dấu vết. Không phải trời là chí thanh, chí hư, chí đại, thì đâu được như thế?[93] (Thanh hư động kí) Trời trong mắt của các tác giả đương thời vốn viên mãn không khiếm khuyết, do đó cũng được xem là mục đích cuối cùng của đời người, nên có lời khấn nguyện như sau: “Nguyện thứ 10 đạt được thanh tịnh như Trời.”[94] (Trần Thái Tông – Lục thời sám hối khoa nghi, Chí tâm phát nguyện)

Trời vốn có cái lý sinh hóa vận chuyển vũ trụ vạn vật: “Đất trời có tượng, tỏ chở che để nuôi dựng muôn linh; thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hoá thành vạn vật. Vì thế cho nên, ngó nhòm trời đất, kẻ cung phàm đều biết được mối manh; tra xét âm dương, bậc thánh triết hiếm nay cùng vận số. Thế nhưng, đất trời chứa đựng âm dương, mà dễ hiểu, là vì có tượng; hai khí ở trong trời đất, mà khó hay, là bởi không hình. Cho nên mới biết, tượng rõ dễ hay, tuy ngu chẳng rối; hình ngầm khó thấy, dẫu trí còn mê. Phương chi, đạo Phật chuộng hư, cưỡi ‘không’ ngự ‘tịch’.[95] (Phạm Sư Mạnh – Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự) Trời đất ẩn tàng hai khí âm dương, hai khí này phối hợp sản sinh và dưỡng nuôi vạn vật. Con người đều có thể nhận thức được lý trời, nhưng tuyệt không thể cùng thấu nó. Nguyễn Bá Tĩnh cho rằng cái “tính nhất” biến hóa khôn lường tạo thành vạn vật thù biệt nhau: “Trời sinh một tính, vật hóa muôn loài. Đôi khí âm dương chuyển vận, bốn mùa hàn thử vãng lai.[96] (Nam dược quốc ngữ phú) Quan điểm này cũng từng được Nguyễn Cố Phu phát biểu như sau: “Một khí hồng quân chuyển cả trời đất, tám phương bốn biển đều được nhào luyện.”[97] (Bắc sứ ứng tỉnh đường tịch thượng phú thi)

Tóm lại, lý trời trong văn học Lí Trần được thể hiện không nhiều. Các tác giả cho rằng Trời có thiên tính, thiên chân, đồng thời phản chiếu lên con người tạo thành tính người (nhân tính). Trời ẩn chứa hai khí âm dương, dưỡng dục nên vũ trụ vạn vật, từ “nhất lý” phát tán ra thành “vạn thù”, do đó con người không thể cùng thấu được đặc tính của nó. Các quan điểm này về cơ bản tiếp thu tư tưởng lý học Trung Quốc thời Tống Minh.

3.7. Trời có phân biệt Nam Bắc (Bắc Nam khu biệt chi thiên)

 

Khẳng định quốc gia độc lập tự chủ là một trong những vấn đề đối ngoại quan trọng dưới các triều đại phong kiến ViệtNam. Các vương triều ViệtNamđã nhiều lần tuyên bố với phương Bắc về nền độc lập tự chủ của đất nước, nhất là khi hai bên giao chiến hay khi phía ViệtNamđón tiếp sứ thần Trung Quốc. Vấn đề này đã thể hiện phong phú trong văn học thời Lí Trần.

Nếu như có sự phân biệt giữa hai nước Trung Việt, thì rõ ràng chỉ cần chỉ ra sự khác biệt về cương vực lãnh thổ là được, tại sao các tác giả còn nhấn mạnh sự khác biệt về “thiên vực”? Giải thích vấn đề này không khó, một là bởi vì trời đất vốn không có sự phân chia, sự khác biệt về địa vực tất yếu dẫn đến sự khác biệt về “thiên vực”; hai là để nhấn mạnh Việt Trung không chỉ khác biệt nhau về cương vực lãnh thổ, mà còn khác biệt nhau về các phương diện tư tưởng, văn hóa, chính trị, xã hội…; ba là muốn ám chỉ sự phân biệt cương vực Nam Bắc là ý chỉ của Trời, tức đấng Thượng đế. Trời đã chia bầu trời thành trời Bắc (Bắc thiên) và trờiNam(Namthiên, hay Việt thiên) khác biệt nhau tương ứng với lãnh thổ hai nước Trung Quốc và Đại Việt. Trời đã phân chia như vậy, con người tất nhiên không được phản nghịch thiên mệnh. Do đó, vận dụng ý trời để khẳng định danh nghĩa và tư cách chính đáng của quốc gia, người Việt nhờ vậy tiến thêm một bước vững chải trong việc củng cố nền độc lập tự chủ của đất nước.

Đầu tiên, các tác giả thời Lí Trần đã nhấn mạnh sự phân biệt lãnh thổ Bắc Nam: “Đất chia giới hạn nam bắc, hiểm trở như thành bằng sắt, hào nước sôi; trời đặt ra nơi động phủ thần tiên, cao chênh vênh[98] (Phạm Sư Mạnh – Tam Thanh động), sau đó khẳng định sự phân biệt khu vực bầu trời Bắc Nam: “Trời đất có bắc có nam, tầm mắt thênh thang; núi sông chỗ bằng chỗ hiểm, tấc lòng trung trinh.[99] (Nguyễn Phi Khanh, Tống Trung sứ Vũ Thích Chi) Trong hai bài thơ thù ứng với sứ Trung Quốc, vua Trần Nhân Tông một mặt biểu hiện thái độ tôn kính đối với khách quý từ phương Bắc đến, một mặt khéo léo khẳng định sự khác biệt về cương vực quốc gia: “Chẳng hay phúc lành của hai ngôi sao sứ thần, còn vằng vặc soi trời Việt được mấy đêm nữa![100] (Tống bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai), “Hai ngôi sao sứ thần chiếu xuống trời Nam, ánh sáng dẫn theo cung độ mỗi đêm diễu quanh ba vòng.[101] (Tống bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng) Vị Phật hoàng sáng lập thiền phái Trúc Lâm này chủ trương mặc dù cương vực trời đất có sự phân chia Nam Bắc, thế nhưng lòng “kiêm ái” tuyệt không có sự thù biệt Nam Bắc: “Trời đất vốn một lòng yêu thương không phân biệt nam bắc; còn lo gì gặp bước gian truân gió mưa sấm sét.[102] (Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn)

Các tác giả tiếp tục chỉ ra, trời Bắc có hoàn cảnh của nước phía bắc, trời Namcũng có tình cảnh của nước phía nam. Thiền sư Đỗ Pháp Thuận đáp lời vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước như sau: “Vận nước như dây leo quấn quít, trời Nam mở nền thái bình. Hãy dùng phép vô vi ở nơi cung đình, thì mọi chốn đều dứt hết đao binh.[103] (Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn) Trong một bài thơ đậm màu sắc sấm vĩ, thiền sư Nguyễn Vạn Hạnh đã dự tri triều Lí sẽ thay thế triều Tiền Lê chấp chính, thiết lập một vương triều thịnh trị ở cõi trời Nam: “Cây tật lê chìm xuống biển Bắc, cây mận mọc lên ở trời Nam, bốn phương dẹp yên binh lửa, tám cõi mừng chúc cảnh thái bình.[104] (Yết bảng thị chúng)

Nguyễn Bá Tĩnh là danh y Việt Nam đương thời, khi bàn về các loại thảo dược của phương Nam, ông ca ngợi trời đất phương Nam đã ban tặng cho bách tính đời sống bình yên ổn định: “Cây cỏ tuy nhiều nhưng gốc rễ khác nhau, tập hợp thành các phương thuốc tốt, rộng tay cứu độ chúng sanh. Nếm một viên linh đơn, quả ứng nghiệm là thuốc tiên độ thế. Người người được sống trong cõi trường thọ nhân ái, nơi nơi tụ hội hòa khí của gió xuân, dựng xây cuộc sống đủ đầy, đặt thế nước vững mạnh, thật không phụ ơn rộng của đất trời phương nam.[105] (Trực giải chỉ nam dược tính phú) Quan điểm của Nguyễn Bá Tĩnh rõ ràng đã dung hợp tư tưởng tam giáo. Sức khỏe của thân thể con người chính là nền tảng quan trọng của nhân nghĩa đạo đức xã hội, tất cả do trờiNam của người nướcNam ban giáng.

Tóm lại, các văn nhân thi sĩ trong quá trình tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, đương nhiên cũng đã hấp thu thuyết “trung tâm luận” của người Trung Quốc. “Trời Nam” có lúc được dùng để nhấn mạnh là khu vực phía nam của quốc gia trung tâm Trung Quốc, cũng có lúc để khẳng định tinh thần độc lập tự chủ của Đại Việt, xem mình là quốc gia ngang hàng không thua kém gì với Trung Quốc. Ngoài ra, ở vùng đất phương nam này cũng có quốc gia, có thái bình, có nhân dân, có hoàng đế, có dược thảo… Loại Trời này rõ ràng mang đặc trưng ViệtNam, nó là sự mở rộng và kết hợp của hai hàm nghĩa Trời là thế giới vật chất và Trời là vị thần chủ tể.

3.8. Trời mang nghĩa cảnh giới siêu thoát (Thiên giới chi thiên)

“Thiên giới” được đề cập ở đây chính là cảnh giới thần bí trên trời, các tôn giáo thường gọi là thiên đường, tiên cảnh, cõi trời… Trời này là nơi trú ngụ của thượng đế và các đấng thần linh mà người phàm không thể nào đến được. “Thiên giới” vốn không phải là sản phẩm của văn học thời Lí Trần, mà nó có nguồn gốc từ tín ngưỡng tôn giáo dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng Trung Quốc thời cổ đại, được các nhân sĩ Việt Nam tích cực tiếp thu và chuyển hóa như một hình tượng trong sáng tác văn học.

Thượng đế là vua ở thiên giới, thiên tử là vua ở nhân gian, tư cách và thân phận của cả hai đối tượng trên có sự tương đồng. Vì vậy, cung điện của thiên tử đôi lúc bị xem như là cung điện của thượng đế, tức là cung điện chốn thiên đình. Nguyễn Phi Khanh trong lúc lòng ngập tràn cảm hứng văn học đã hình dung lầu các của vua như cung khuyết ở 9 tầng trời: “Gác cao vừa mở, đồng hồ nước qua đêm đã cạn, cung khuyết chín tầng khí trời lành lạnh, mây mở ngày lành, bầu trời hửng sáng, xuân gieo đức vua, mưa móc rộng khắp.[106] (Hoạ Chu hàn lâm vị ương tảo triều) Phạm Nhữ Dực trong một bài thơ của mình đã dùng hình ảnh của cõi tiên đầy sự thần bí mầu nhiệm để miêu tả nơi ở của hoàng đế: “Bốn ngựa ruổi rong trong mây mù lam chướng, ngoảnh đầu trông cửa trời, mịt mùng năm thức mây, mưa tới cửa cung cấm giật mình nghe đội vòng kêu rộn, trông vời trên điện Thông Minh thấy một đoá hồng. Từ trong hang núi bay ra đượm nhuần muôn vật, tấm lòng tha thiết được theo sau xe rồng, sớm chiều mong được vời gọi đến bên nhà vui, làm trận mưa rào của nhà Thương dội xuống tưới khắp cho dân bốn biển.[107] (Ngũ vân xí chiêm) Phạm Nhữ Dực thông qua bài thơ trên thể hiện lòng trung quân và ý nguyện trí quân trạch dân của ông. Các tác giả không chỉ xem các triều đình thời Lí Trần là thiên đình mà còn xem các vương triều Trung Quốc là thiên triều, cách nhìn này thể hiện thái độ hòa hiếu, tôn trọng nước lớn của người Đại Việt. Ngô Chân Lưu khi tiễn sứ thần Trung Quốc Lí Giác có viết: “Ánh nắng lành, gió tốt, cánh buồm gấm giương; thần tiên trở về quê hương của hoàng đế; ngàn trùng muôn dặm lướt sóng xanh; đường về nơi chín tầng trời xa xôi.[108] (Ngọc lang quy) Nhà sư gọi triều Tống là thiên triều, sứ Tống là thần tiên trên trời giáng thế.

Không chỉ cung điện của vua mới được xem là thiên cung, những kiến trúc chùa miếu nơi làng quê hay núi đồi cũng được thi nhân xem là cảnh giới của thiên cung. Đương nhiên chức phận của giới đạo sĩ hay tăng lữ hoàn toàn khác với hoàng thiên và vua chúa, thế nhưng phong cảnh thần bí của chùa miếu lại giống tiên cảnh ở phong vị thanh tịnh giải thoát. Nguyễn Phi Khanh sau một đêm ngủ ở chùa Thiên Thánh Hựu Quốc đã phấn khích viết rằng: “Cung điện thần tiên gần với cảnh Bồng Lai, nhạc trời ở bên tai nên giấc mộng dễ tỉnh, sáng mùa xuân thức dậy không có việc gì làm, chỉ xem hoa nở trước gió xuân ở ngoài sân.[109] (Thiên Thánh Hựu Quốc tự tảo khởi) Cuộc sống nơi chùa miếu khiến cho tinh thần thi nhân an nhiên tự tại, giống như đang sống trong không gian sinh đẹp của Bồng Lai tiên cảnh. Một tác giả khác cũng có cảm nhận như vậy: “Gió thổi trên nhánh tùng xanh, giống như tiếng tấu nhạc nơi cung trời; trăng chiếu lên khóm trúc biếc, lồng lộng như ánh sáng soi tỏ nơi cõi Phật.[110] (Khuyết danh – Hưng Phúc tự bi) Những ví dụ trên rõ ràng cho thấy các tác giả thời này tiếp thu sâu sắc ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian.

Cõi trời cũng chính là nơi trú ngụ của thế giới thần linh. Các nhân vật Ngưu Lang Chức Nữ trong thần thoại Trung Quốc đều cư trú ở thiên giới: “Chuôi sao Bắc Đẩu chuyển về tây, mặt trời lặn, là kỳ hẹn mùa thu của Chức Nữ và Ngưu Lang ở trên trời, mây giăng chót vót trên bến sông Ngân như chiếc lọng, trăng vắt chênh chếch ở cầu sao như lưỡi câu.[111] (Phạm Nhân Khanh – Thất tịch, kì nhất) Thiên giới và âm giới được xem là nơi mà người ta sau khi chết trở về. Trần Duệ Tông đau xót ái phi của mình ra đi mà than rằng: “Than ôi thương thay chừ hồn bỏ trẫm đi, nếu ở trên trời chừ như chim kia dực phi, nếu ở dưới đất chừ như cây liên lý chi.[112] (Nguyễn Bích Châu tế văn) Vì thiên giới là nơi lực lượng thần linh thường trú, nên việc tế tự của người phàm sẽ cảm ứng đến thiên giới: “Bạch đàn hương ấy hương bạch đàn, vẫn lấy làm lục cúng; trầm thủy hương này hương trầm thủy, cũng cảm đến chư thiên.[113] (Nguyễn Bá Tĩnh –Nam dược quốc ngữ phú)

Tóm lại, Trời mang nghĩa cảnh giới giải thoát trong sáng tác thời Lí Trần là kết quả tổng hợp của các yếu tố hình tượng văn học, tư tưởng triết học và tôn giáo tín ngưỡng. Trời này là cảnh giới giải thoát, hoàn toàn khác với không gian cuộc sống đời thường, chỉ có cung điện của vua hay chùa miếu mới có màu sắc tương tự. Hàm nghĩa này rõ ràng cũng đã tiếp thu từ tín ngưỡng dân gian Trung Quốc.

3.9. Trời là không gian càn khôn vũ trụ (theo Nho) hay hư không pháp giới (theo Phật) (Càn khôn vũ trụ dữ hư không pháp giới chi thiên)

 

Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ xuất phát từ triết học cổ điển Trung Quốc. Học giả La Quang cho rằng Kinh Dịch từng đề cập đến Trời này: “Cách gọi chung trời đất trong triết học bắt đầu từ trong Kinh Dịch. Kinh Dịch dùng trời đất để đại diện cho càn khôn, cũng đại diện cho âm dương. Trời đất ở đây đã không phải là thượng đế và hậu thổ trong tôn giáo” [114]. Nhiều triết gia thời Tống Minh cũng giải thích Trời thành “càn khôn vũ trụ”. Học giả Trương Lập Văn bàn về vấn đề này như sau: “Thời Bắc Tống, Trương Tải dùng ‘thái hư’ để giải thích trời, ‘vì có thái hư, mới có cách gọi Trời’ (由太虛,有天之名Do thái hư, hữu thiên chi danh). Thái hư là căn cứ để gọi trời, ‘thái hư chính là vốn quý của Trời’ (太虛者,天之寶也Thái hư giả, thiên chi bảo giả), cũng chính là thực thể của Trời. Cái chất quý giá của thái hư là gì? Trương Tải cho rằng, ‘thái hư tức khí’ (太虛即氣Thái hư tức khí)” [115]. Có thể thấy, hàm nghĩa càn khôn vũ trụ của Trời là do Nho gia đề xướng.

Cụm từ “hư không pháp giới” vốn là cách gọi càn khôn vũ trụ trong kinh điển Phật giáo. Phật giáo cho rằng trong hư không pháp giới có hằng hà sa số thế giới, cũng có thể chia chúng thành tam thiên đại thiên thế giới. Các giác quan của con người không thể nào hiểu thấu được, chỉ khi nào giác ngộ bản tính mới thật sự có thể thể nghiệm được cảnh giới hùng vĩ này của Trời. Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ hay hư không pháp giới chính là sự tổng hợp tư tưởng Trời của hai trường phái triết học trên.

Tác giả thời Lí Trần khi biên soạn sách Phật hay sáng tác thơ kệ thường hay đề cập đến Trời với nét nghĩa “hư không pháp giới”. Trời này có khi được gọi là “không”, “đại thiên”, “tam giới”: “Chúng sinh đông đảo như số bụi trong không gian… Phép Phật rất từ bi, ánh sáng linh quang bao trùm cả nghìn đại thiên thế giới, muôn vị thần đều hướng theo giáo hoá, ba cõi đều trở về sự hồn toàn[116] (Khuyết danh – Phật pháp), cũng có lúc gọi là “đại thiên sa giới”, “thái hư”: “Đạo vốn không màu sắc, ngày ngày vẫn phô bày vẻ mới lạ, tươi trẻ, dù ở ngoài thế giới hà sa, tức ba nghìn đại thiên thế giới, chốn nào mà chẳng là nhà của nó.[117] (Phạm Thường Chiếu – Đạo), “Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ trọi, kêu dài một tiếng, lạnh cả bầu trời.[118] (Dương Không Lộ – Ngôn hoài) Trời “hư không pháp giới” cũng không hoàn toàn là thực thể mang tính vật chất, giác quan con người không thể nào bao quát hết vì nó chính là cảnh giới của nội tâm: “Tìm cái tâm ở ngoài trời thì khó mà định được cái thể của nó, như ở đời mà trồng quế, sao thành rừng được, tất cả càn khôn đều ở trên đầu một sợi lông, mặt trời, mặt trăng đều nằm gọn trong hột cải.[119] (Nguyễn Khánh Hỉ – Đáp Pháp Dung sắc không, phàm thánh chi vấn) Chỉ có những người giác ngộ mới cảm nhận được diện mạo chân thật của cảnh Trời này. Có thể nói, Trời này chính là cảnh giới tâm linh của người tu hành.

Phật giáo xem Trời “hư không pháp giới” là cảnh giới nửa hư nửa thực, Nho gia lại xem “càn khôn vũ trụ” đồng nghĩa với không gian trời đất: “Ngang trời dọc đất, lòng cầm chắc trước[120] (Trần Nguyên Đán – Đề Quan lỗ bạ thi tập hậu), “Ngoảnh nhìn bốn phía trời đất, trăng sáng như ban ngày, cây cỏ nửa phần xơ xác, trời đang xuống sương.[121] (Phạm Nhân Khanh – Thu dạ), “Thân trượng phu đội trời đạp đất, chí khí phải cao vượt người cùng lứa, để lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất, thì đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người  toàn vẹn nghìn xưa.[122] (Nguyễn Chế Nghĩa – Ngôn hoài) Nhưng có điều, hàm nghĩa của “càn khôn vũ trụ” ngoài bao quát không gian trời đất, còn hàm chứa thời gian vĩnh hằng của trời đất. Vì vậy, phạm vi của càn khôn vũ trụ còn rộng lớn hơn cả phạm vi trời đất.

Các tác giả thời Lí Trần đã sử dụng phạm trù Trời với hàm nghĩa siêu việt không thời gian của Nho Phật, từ đó tạo nên sự liên thông dung hợp giữa hai trường phái triết học này ở thời Lí Trần.

4. Kết luận

 

Thời đại Lí Trần tiếp thu hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc từ thời Minh trở về trước. Sáng tác văn học thời kì này tiếp thu và tổng hợp tư tưởng Trời từ ba trường phái triết học Nho – Phật – Đạo, trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là tư tưởng Nho gia. Tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần ngoài sáu hàm nghĩa giống Trung Quốc là Trời mang nghĩa trời đất, Trời mang nghĩa tự nhiên, Trời mang nghĩa thượng đế, Trời mang nghĩa mệnh trời, Trời mang nghĩa đạo trời, Trời mang nghĩa lý trời, còn có thêm ba hàm nghĩa mở rộng mang đậm màu sắc thời đại là Trời có phân biệt nam bắc, Trời mang nghĩa cảnh giới siêu nhiên, Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ và hư không pháp giới.

Nhìn tổng thể có thể thấy, văn học Lí Trần đã hấp thu và thể hiện trọn vẹn hệ thống tư tưởng Trời của Trung Quốc, bao gồm tư tưởng thần học về Trời, tư tưởng vật lý về Trời và tư tưởng triết học về Trời. Trong đó, tư tưởng thần học về Trời và tư tưởng vật lý về Trời rõ ràng chiếm vị trí ưu thế, trong khi tư tưởng triết học về Trời ít được các tác giả thời Lí Trần quan tâm thể hiện.

Ba hàm nghĩa mở rộng về Trời của văn học thời này về cơ bản có nguồn gốc từ tư tưởng Trời của Trung Quốc. Mặc dù chủ trương Trời có sự phân chia nam bắc, thế nhưng các tác giả đều khẳng định không có sự phân chia ở các hàm nghĩa thượng đế, lý trời, mệnh trời, đạo trời, ý trời.

Nguyễn Thanh Phong*

* Thạc sĩ, Giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư  phạm, ĐH An Giang.

* 碩士,越南安江大學師範系語文部門講師。

[1] Học giả Trương Lập Văn trong cuốn “Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên” phát biểu: “Trời là phạm trù cổ xưa nhất, thường thấy nhất trong hệ thống triết học cổ điển Trung Quốc; đồng thời, Trời cũng là phạm trù xuyên suốt tự cổ chí kim. Từ thời Tam đại trở về sau, Trời luôn là vấn đề trọng tâm mà các nhà triết học quan tâm tìm hiểu. Ngày nay, mặc dù cách giải thích và nhìn nhận về Trời so với người trước có nhiều khác biệt, nhưng Trời vẫn luôn là một đề tài triết học thu hút nhiều người quan tâm”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 1).

[2] Học giả Trương Lập Văn trong sách trên cũng cho rằng: “Trong quá trình phát triển của triết học Trung Quốc, nội hàm ý nghĩa của phạm trù Trời tùy theo nhu cầu và diễn biến của từng thời đại, đã không ngừng cụ thể hóa và phong phú thêm”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 1).

[3] Hứa Thận, Thuyết văn giải tự, nguyên văn:「天,顛也,至高無上,從一大。」(Thiên, điên dã, chí cao vô thượng, tùng nhất đại).

[4] Học giả Lí Thân trong cuốn “Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học” giải thích quá trình mở rộng hàm nghĩa này như sau: “Trời là cách gọi chung của vạn vật, trạng thái tồn tại của vạn vật có điểm chung là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Do đó nói đến Trời, tức là chỉ những thứ vốn ‘tự nhiên nhi nhiên’ mà hình thành; ngược lại, nói đên những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’ mà hình thành tức cũng là nói đến Trời. Từ đó, tự nhiên và Trời trở thành từ đồng nghĩa, Trời bắt đầu mang hàm nghĩa ‘tự nhiên nhi nhiên’, ‘thiên nhiên’ gọi tắt là Thiên”. (Lí Thân, Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 102).

[5] Tác giả Trương Lập Văn nhận định: “Đạo gia cho rằng Trời là tự nhiên, loại tự nhiên này không phải giới tự nhiên mà Nho gia tuyên nói, mà là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Mặc dù Đạo gia cũng xem Trời là vật chất tự nhiên, nhưng cũng nhấn mạnh tính chất và đặc điểm căn bản của nó là ‘tự nhiên vô vi’, so với quan niệm xem Trời là sự vật hiện tượng tự nhiên của Nho gia có điểm khác biệt”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2).

[6] Học giả Trương Lập Văn giải thích quá trình mở rộng hàm nghĩa này như sau: “Trong lúc con người ngẩng đầu nhìn lên trời, một mặt từ tầm mắt của mình, con người quan sát thấy bầu trời tự nhiên, một mặt nhận thấy muôn vàn sự biến đổi nhanh chóng của hiện tượng thiên nhiên, vô cùng thần bí mà đầu óc con người không thể tính toán đo lường được, do đó Trời mang thêm ý nghĩa là lực lượng siêu nhiên, có phẩm chất của con người nhưng năng lực vượt lên trên con người…… Thời Hạ, Thương, Chu, do trình độ nhận thức của con người còn thấp kém, nét nghĩa thần linh tối cao mang phẩm chất con người của Trời được xác lập, Trời không chỉ có năng lực chi phối mọi sự vận hành biến đổi của giới tự nhiên, mà còn có khả năng điều khiển mọi việc trong xã hội loài người, từ việc nước, việc vua đến công việc cá nhân của mỗi người. Kim văn, Thượng thư đều có những ghi chép về việc Trời muốn vua Thành Thang nhà Thương chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ, Chu Võ Vương chinh phạt vua Trụ nhà Thương để thay thế hôn quân trị vì thiên hạ. Nét nghĩa vị thần tối cao này của Trời được gọi tắt là Thượng đế, Thiên đế hoặc Đế”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2). Cũng về vấn đề này, học giả Lí Thân giải thích như sau: “Trời đầu tiên được dùng để chỉ bầu trời, về sau do thượng đế thường trụ ở trên bầu trời, mệnh lệnh của thượng đế cũng từ trên trời mà truyền xuống, do đó, mệnh lệnh từ trên trời truyền xuống chính là mệnh lệnh của thượng đế, lệnh Trời tức là lệnh của thượng đế. Trong sự diễn biến quan niện đó, người ta bèn dùng trú xứ của thượng đế để gọi thượng đế, tức Trời. Hai danh từ Trời và Thượng đế cùng biểu đạt một khái niệm: thần tối cao”. (Lí Thân, Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 101).

[7] Cách viết chữ Hán của những từ trên lần lượt là: 皇天、上天、昊天、蒼天、旻天、玉皇上帝、皇天上帝、昊天上帝、明昭上帝等。

[8] Dư Đôn Khang cho rằng: “Trong hệ thống tư tưởng thần học thiên mệnh thời Tây Chu, Trời được dùng để chỉ vị thần tối cao đồng thời mang tư cách chủ tể thống lĩnh giới tự nhiên và xã hội. Vị Trời này không chỉ thống lĩnh mặt trời, mặt trăng, các vì sao, chưởng quản tất cả thần linh của giới tự nhiên, luôn quan tâm không mệt mỏi đến trật tự cuộc sống con người, thiết lập hệ thống quy phạm đạo đức và trật tự xã hội cho loài người”. (Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 45~50).

[9] Nguyên văn:「順天意者,兼相愛,交相利,必得賞;反天意者,別相惡,交相賊,必得罰」(Thuận thiên ý giả, kiêm tương ái, giao tương lợi, tất đắc thưởng; phản thiên ý giả, biệt tương ố, giao tương tặc, tắc đắc phạt) (墨子‧天志上)。

[10] Học giả Mâu Chung Giám (牟鍾鑒) bàn về tư tưởng “mệnh trời” của Khổng Tử như sau: “Khổng Tử tin tưởng và kính sợ mệnh trời, ông đã giải thích mệnh trời trên cơ sở triết học, Khổng Tử nói: ‘Chỉ có Trời là lớn’ (唯天為大,Duy thiên vi đại) (Luận ngữ, Nghiêu viết), ‘Sợ mệnh trời’ (畏天命,Úy thiên mệnh) (Luận ngữ, Quí thị), ‘Năm mươi tuổi mà biết được mệnh trời’ (五十而知天命,Ngũ thập nhi tri thiên mệnh) (Luận ngữ, Vi chính). Học sinh của Khổng Tử là Tử Hạ cũng nói rằng: ‘Sống chết có số mệnh, giàu sang là do trời sắp đặt’ (生死有命,富貴在天 Sinh tử hữu mệnh, phú quí tại thiên) (Luận ngữ, Nhan Uyên). Khổng Tử cho rằng việc sống chết, giàu sang khốn khó và sự nghiệp thành bại của đời người là do trời quyết định, nên con người không thể xem thường Trời”. (Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 90).

[11] Tác giả Trương Lập Văn cho rằng: “Nhà Nho quan niệm, ý chí của trời và ý chí của dân không xung đột đối lập nhau, mà có tính nhất trí nhau. Sự thành bại, hưng vong của vương nghiệp nhà Thương Chu đều do nhà vua biết “kính đức bảo dân”; ai biết “kính đức bảo dân”, người đó sẽ được hoàng thiên chấp nhận cho trị vì thiên hạ; bằng ngược lại, hoàng thiên sẽ giáng tai ương để cảnh cáo thiên tử, sau đó thu hồi sứ mệnh trị vì thiên hạ”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2).

[12] Học giả Lí Thân tiến hành kết hợp hai khái niệm “Thiên” và “Lý”, từ đó nhận định: “Khi nhận thức của con người về thế giới ngày một sâu sắc thì người ta phát hiện ra rằng, không chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, mà ngay cả kết cấu tự thân của sự vật, quan hệ tương hỗ giữa các sự vật, tính tất nhiên liên động của sự vật… đều là những quá trình vận động khách quan không chịu sự ảnh hưởng của con người, tiếp đó lại lấy trật tự xã hội và các loại hành vi quy phạm do trật tự xã hội quyết định, cũng đều xem như một thứ tồn tại tự nhiên, xưa nay không đổi, con người chỉ có thể tuân thủ, mà không thể làm trái ngược. Cái này lúc đầu gọi tên là ‘lý’, sau đó gọi là ‘lý trời’. ‘Lý’ tức là tồn tại tự nhiên, là xu thế tất nhiên, cũng chính là Trời, Trời vì vậy mang hàm nghĩa của ‘lý’, hơn nữa, hàm nghĩa của Trời bản thân nó cũng đã bao hàm ‘lý’. (Lí Thân, Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 102-103).

[13] Xem rõ thêm tại: Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2.

[14] Học giả Trương Lập Văn nhận định: “Tâm ý của Trời là nhân đức thương người, thông qua âm dương nóng lạnh mà thể hiện lòng yêu mến điều nhân, tránh xa điều ác, mở mang đức lớn, dùng hình phạt nhẹ. Khi Trời dùng các hiện tượng tai dị để khiến trách, cảnh cáo thiên tử, thì cũng là lúc Trời thể hiện bản tâm nhân đức, yêu mến việc mang lại lợi ích cho con người. Nói như vậy có nghĩa là, bản chất của Trời đã hàm chứa các chuẩn mức đạo đức luân lý nhân, nghĩa, trung, tín… Chính vì bản thân đã hàm chứa những phẩm chất đạo đức, cho nên Trời có thể phú cho con người những đức tính nhân, nghĩa, trung, tín…” (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 9).

[15] Học giả Trương Đại Niên thống nhất các hàm nghĩa của Trời thành ba nhóm: chủ tể tối cao, thế giới tự nhiên rộng lớn và nguyên lý tối cao. (Trương Đại Niên, Phân tích tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất” trong triết học Trung Quốc, Bắc Kinh đại học học báo – Triết học xã hội khoa học bản, 1985, kì 1). Học giả Trương Lập Văn chia quá trình diễn biến về hàm nghĩa của phạm trù Trời thành 9 giai đoạn, tương ứng với 9 nét nghĩa khác nhau: “Diễn biến của phạm trù Trời trong triết học Trung Quốc, từ thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) sang thời Xuân Thu Chiến Quốc, Tần Hán, Ngụy Tấn, đến thời Tùy Đường, Tống Minh Thanh, cho đến thời cận đại suốt bốn năm ngàn năm phát triển, có 9 giai đoạn tiến triển từ Thiên đế → Thiên đạo → Thiên nhân → Thiên nhiên → Thiên chân → Thiên lý → Thiên tâm → Thiên khí → Thiên diễn, thể hiện tinh thần thời đại của mỗi giai đoạn hoặc tinh hoa trào lưu tư tưởng của mỗi thời đại”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 20).

[16] Xem thêm tại: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, trang 23~25.

[17] Học giả Trương Lập Văn từng giải thích tường tận về loại Trời này như sau: “Trời là giới tự nhiên, là không gian vũ trụ. Trời xanh cao vời vợi, cũng chính là bầu trời phía trên đỉnh đầu con người. Người thượng cổ thường dùng mặt đất để đối xứng với bầu trời, đây chính là hai thực thể lớn, trong đó con người ở giữa, chịu sự dưỡng dục của trời đất. Trời trở thành không gian tự nhiên rộng lớn không giới hạn, bao hàm trong nó mặt trăng, mặt trời, các vì sao không ngừng vận hành, cả sấm vang chớp giật. Trời cũng là không gian sinh tồn của người và vạn vật. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Đài Bắc, Thất Lược xuất bản xã, 1996, trang 9). Chu Hi gọi Trời này là “Trời xanh của tự nhiên” (自然的蒼蒼之天Tự nhiên đích thương thương chi thiên), Phùng Hữu Lan gọi là “Trời vật chất” (物質之天 Vật chất chi thiên).

[18] Viện Văn học Việt Nam biên soạn, Thơ văn Lí Trần, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, trang 386. Từ đây trở đi, người viết thống nhất viết tắt là: Thơ văn Lí Trần, [I‧386]. Trong đó, phía trước là tên sách, phía  sau là số tập và trang trích dẫn. Nguyên văn:「萬里清江萬里天」(Vạn lí thanh giang vạn lí thiên)(〈漁閒〉)。

[19] Thơ văn Lí Trần, [II‧407]. Nguyên văn:「秋景遠來天外遠」(Thu cảnh viễn lai thiên ngoại viễn)(〈自述〉)。

[20] Thơ văn Lí Trần, [II‧620]. Nguyên văn:「海闊天高何處尋?」(Hải khoát thiên cao hà xứ tầm)(〈題福成祠堂〉)。

[21] Thơ văn Lí Trần, [II‧734]. Nguyên văn:「五湖天地闊,好訪舊漁磯」(Ngũ Hồ thiên địa khoát, Hảo phỏng cựu ngư ki)(〈浴翠山〉)。

[22] Thơ văn Lí Trần, [III‧473]. Nguyên văn:「潮生天地曉,月白又江空」(Triều sinh thiên địa hiểu, nguyệt bạch hựu giang không)(〈化城晨鐘〉)。

[23] Thơ văn Lí Trần, [II‧684]. Nguyên văn:「江水連天一鷗白」(Giang thủy liên thiên nhất âu bạch)(玄光禪師‧〈舟中〉)。

[24] Thơ văn Lí Trần, [III‧53]. Nguyên văn:「潮回江笛迥,天闊樹雲低」(Triều hồi giang địch huýnh, thiên khoát thụ vân đê)(朱文安‧〈月夕步仙遊山松徑〉)。

[25] Thơ văn Lí Trần, [II‧618]. Nguyên văn:「天色依依雁沒雲」(Thiên sắc y y nhạn một vân)(陳光朝‧〈過安隆〉)。

[26] Thơ văn Lí Trần, [II‧412]. Nguyên văn:「水有秋涵天有秋」(Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu)(陳聖宗‧〈幸天長行宮〉)。

[27] Thơ văn Lí Trần, [III‧79]. Nguyên văn:「行役登家山,矯首萬里天……安阜天一握。」(Hành dịch đăng gia sơn, Kiều thủ vạn lí thiên… An Phụ thiên nhất ác)(范師孟‧〈行役登家山〉)。

[28] Thơ văn Lí Trần, [III‧423]. Nguyên văn:「雨後線聲流簌簌,天晴嵐氣靜涓涓。」(Vũ hậu tuyền thanh lưu tốc tốc, Thiên tình lam khí tịnh quyên quyên)(阮飛卿‧〈遊崑山〉)。

[29] Thơ văn Lí Trần, [III‧117]. Nguyên văn:「海邊化日明黃道,天上文星清瘴嵐。」(Hải biên hóa nhật minh hoàng đạo, Thiên thượng Văn tinh thanh chướng lam)(范師孟‧〈和大明使余貴〉)。

[30] Thơ văn Lí Trần, [III‧87]. Nguyên văn:「鯨波天上下,鰲背海東南。」(Kình ba thiên thượng hạ, ngao bối hải đông nam)(范師孟‧〈登浴翠山留題〉)。

[31] Thơ văn Lí Trần, [I‧221]. Nguyên văn:「中天揭日月」(Trung thiên yết nhật nguyệt)(欠名‧〈出處〉)。

[32] Thơ văn Lí Trần, [III‧504]. Nguyên văn:「江山花鳥春天地,城郭樓臺世古今。」(Giang sơn hoa điểu xuân thiên địa, thành quách lâu đài thế cổ kim)(陳舜俞‧〈寶山寺〉)。

[33] Thơ văn Lí Trần, [II‧585]. Nguyên văn:「頂天立地丈夫身,志氣堂堂邁等倫。……。留得乾坤忠義節,高談千古一完人。」 (Đỉnh thiên lập địa trượng phu thân, chí khí đường đường mại đẳng luân… Lưu đắc càn khôn trung nghĩa tiết, cao đàm thiên cổ nhất hoàn nhân)(阮制義‧〈言懷〉)。

[34] Thơ văn Lí Trần, [II‧830]. Nguyên văn:「悠悠身世倚欄杆,天外客帆歸鳥疾。」(Du du thân thế ỷ lan can, thiên ngoại khách phàm qui điểu tật)(范宗悟‧〈遊浮石巖乃先祖修行之地舟中作〉)。

[35] Thơ văn Lí Trần, [III‧471]. Nguyên văn:「人生天地一蘧廬,無奈離群久索居。」 (Nhân sinh thiên địa nhất cừ lư, vô nại li quần cửu tỏa cư)(阮飛卿‧〈贈東潮范先生〉)。

[36] Thơ văn Lí Trần, [II‧226]. Nguyên văn:「千青萬翠迷鄉國,海角天頭是養真。」(Thiên thanh vạn thúy mê hương quốc, Hải giác thiên đầu thị dưỡng chân)(慧中上士‧〈養真〉)。

[37] Thơ văn Lí Trần, [II‧738]. Nguyên văn:「舳艫千里,旌旗旖旎。貔貅六軍,兵刃蜂起。雌雄未決,南北對壘。日月昏兮無光,天地凜兮將毀。」(Trục lô thiên lí, tinh kì ỷ nĩ; tì hưu lục quân, binh nhận phong khởi. Thư hùng vị quyết, Nam Bắc đối lũy; Nhật nguyệt hôn hề vô quang, thiên địa lẫm hề tương hủy)(張漢超‧〈白藤江賦〉)。

[38] Thơ văn Lí Trần, [II‧438]. Nguyên văn:「天地有誰窮變滅,筆端無口語興亡。」(Thiên địa hữu thùy cùng biết diệt, bút đoan vô khẩu ngữ hưng vong)(丁拱垣‧〈瞿塘圖〉)。

[39] Thơ văn Lí Trần, [I‧229]. Nguyên văn:「宅天地區域之中,得龍蟠虎踞之勢,正南北東西之位,便江山向背之宜,其地廣而坦平,厥土高而爽塏,民居蔑昏墊之困,萬物極繁阜之豐,遍覽越邦,斯為勝地,誠四方輻輳之要會,為萬世帝王之上都。」(Trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế, chính nam bắc đông tây chi vị, tiện giang sơn hướng bội chi nghi, kì địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải, dân cư miệt hôn điếm chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong, biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa, thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô)(李公蘊‧〈遷都詔〉)。

[40] Lí Thân李申,Trung Quốc cổ đại triết học và tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân dân Xuất bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 102。

[41] Thơ văn Lí Trần, [III‧528]. Nguyên văn:「山重水復客程遠,冬盡春生天道還,萬事無心隨節變。」(Sơn trùng thủy phục khách trình viễn, đông tận xuân sinh thiên đạo hoàn, vạn sự vô tâm tùy tiết biến)(〈江中逢立春日〉)。

[42] Thơ văn Lí Trần, [II‧723]. Nguyên văn:「天地包容量,冬寒繼以陽春。」(Thiên địa bao dung lượng, dông hàn kế dĩ dương xuân)(〈擬英宗皇帝謝上皇表〉)。

[43] Thơ văn Lí Trần, [III‧160]. Nguyên văn:「梅含玉粒傳天信,竹迸琅簪洩地機。」(Mai hàm ngọc lạp truyền thiên tín, trúc tính lang trâm tiết địa cơ)(〈小雨〉)。

[44] Thơ văn Lí Trần, [I‧461]. Nguyên văn:「治亂在庶官,得人則治,失人則亂。臣歷觀前世帝王未嘗不以用君子而興,不以用小人而亡者也。原其致此非一朝一夕之故,所由來者漸矣。天地不能頓為寒暑,必漸於春秋;人君不能頓為興亡,必漸於善惡。」(Trị loạn tại thứ quan, đắc nhân tắc trị, thất nhân tất loạn. Thần lịch quan tiền thế đế vương vị thường bất dĩ dụng quân tử nhi hưng, bất dĩ dụng tiểu nhân nhi vong giả dã. Nguyên kì trí thử phi nhất triêu nhất tịch chi cố, sở do lai giả tiệm hĩ. Thiên địa bất năng đốn vi hàn thử, tất tiệm ư xuân thu; nhân quân bất năng đốn vi hưng vong, tất tiệm ư thiện ác)(〈天下興亡治亂之原論〉)。

[45] Thơ văn Lí Trần, [III‧101]. Nguyên văn:「天開地闢三江路」(Thiên khai địa khoát Tam Giang lộ)(范師孟‧〈巡視真登州〉)。

[46] Thơ văn Lí Trần, [II‧710]. Nguyên văn:「景和冷,圖似幀。意窖,閑之孛修行。湖蓮張傘綠,磊竹砭彈爭。」(玄光禪師‧〈詠雲煙寺賦〉)。

[47] Thơ văn Lí Trần, [II‧362]. Nguyên văn:「天地並其覆載,日月並其照臨,故能生成萬物,發育庶類。」(Thiên địa tính kì phú tái, nhật nguyệt tính kì chiếu lâm, cố năng sinh thành vạn vật, phát dục thứ loại)(黎文休‧《大越史記‧溺私論》)。

[48] Thơ văn Lí Trần, [III‧499]. Nguyên văn:「此天地設險,以壯南極坤維之勢。」(Thử thiên đại thiết hiểm, dĩ trángNam cực khôn duy chi thế)(阮伯聰‧〈天興鎮賦〉)。

[49] Thơ văn Lí Trần, [II‧738]. Nguyên văn:「自有宇宙,固有江山,信天塹之設險。」(Tự hữu vũ trụ, cố hữu giang sơn, tín thiên tiệm chi thiết hiểm)(張漢超‧〈白藤江賦〉)。

[50] Thơ văn Lí Trần, [II‧265]. Nguyên văn:「休尋少室與曹溪,體性明明未有迷。古月照非關遠近,天風吹不揀高低。」(Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê, thể tính minh minh vị hữu mê, cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận, thiên phong xuy bất giản cao đê)(慧中上士‧〈示眾〉)。

[51] Xem thêm tại: La Quang, Trung Quốc triết học đại cương, Đài Loan Thương vụ xuất bản xã, Đài Bắc, 1999, trang 47~48.

[52] Xem thêm tại: Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Đài Bắc, Thất Lược xuất bản xã, 1996, trang 4.

[53] Thơ văn Lí Trần, [III‧484]. Nguyên văn:「手天尺而締匠乎乾坤,躬化鈞而陶成乎庶彙。……。苟非造物之妙,化工之至,安能致是乎!」(Thủ thiên xích nhi đề tượng hồ càn khôn, cung hóa quân nhi đào thành hồ thứ vị… Cẩu phi tạo vật chi diệu, hóa công chi chí, an năng trí thị hồ?)(〈葉馬兒賦 〉)。

[54] Thơ văn Lí Trần, [II‧381]. Nguyên văn:「天生民而作之君,使司牧之,非自奉也。」(Thiên sinh dân nhi tác chi quân, sử tư mục chi, phi tự phụng dã)(《大越史記‧自奉論》)。

[55] Thơ văn Lí Trần, [II‧723]. Nguyên văn:「天非無至教。」(Thiên phi vô chí giáo)(段汝諧‧〈擬英宗皇帝謝上皇表〉)。

[56] Thơ văn Lí Trần, [III‧408]. Nguyên văn:「天教星鳳展彝章。」(Thiên giao Tinh Phượng triển di chương)(阮飛卿‧〈賀中書侍郎〉)。

[57] Thơ văn Lí Trần, [III‧456]. Nguyên văn:「天遺一老扶昌運,帝眷三朝倚舊臣。」(Thiên di nhất lão phù xương vận, đế quyến tam triều ý cựu thần)(阮飛卿‧〈元日上冰壺相公〉)。

[58] Thơ văn Lí Trần, [III‧163]. Nguyên văn:「昌期社稷天方作,肯使先生老碧隈。」(Xương kì xã tắc thiên phương tác, khẳng sử tiên sinh lão bích ôi)(陳元旦‧〈贈朱樵隱〉)。

[59] Thơ văn Lí Trần, [III‧233]. Nguyên văn:「三孤位重德彌彰,天不留公在廟堂。」(Tam cô vị trọng được di chướng, thiên bất lưu công tại miếu đường)(陳廷琛‧〈挽王少保汝舟〉)。

[60] Thơ văn Lí Trần, [III‧407]. Nguyên văn: 「頭上老天依日月,人間夢景付煙雲。」(Đầu thượng lão thiên y nhật nguyệt, nhân gian mộng cảnh phó yên vân)(阮飛卿‧〈城中有感寄呈同志〉)。

[61] Thơ văn Lí Trần, [II‧591]. Nguyên văn:「二老風流千載遠,天教菊隱出承當。」(Nhị lão phong lưu thiên tải viễn, thiên giao cúc ẩn xuất thừa đương)(杜克終‧〈詠菊〉)。

[62] Thơ văn Lí Trần, [III‧466]. Nguyên văn:「官閑我得修身訣,老去天知學道心。」(Quan nhàn ngã đắc tu thân quyết, lão khứ thiên tri học đạo tâm)(阮飛卿‧〈題玄天寺〉)。

[63] Thơ văn Lí Trần, [I‧231]. Nguyên văn:「兵刃交攻之際,或枉傷忠孝,或誤害賢良,致使皇天震怒。以彰其過,雖遭傾隕,亦無憾焉。其在六軍,罪犹可恕,唯簡在上帝之心。」(Binh nhẫn giao công chi tế, hoặc uổng thương trung hiếu, hoặc ngộ hại hiền lương, trí sử hoàng thiên chấn nộ. Dĩ chương kì quá, tuy tao khuynh vẫn, diệc vô hám yên, Kì tại lục quân, tội do khả thứ, duy giản tại thượng đế chi tâm)(〈征還過汴口,遇暴風驟雨,禱於天〉)。

[64] Thơ văn Lí Trần, [I‧232]. Nguyên văn:「間者主上昏暴,多行不義,天厭其德,弗克終壽。」(Gián giả chúa thượng hôn bạo, đa hành bất nghĩa, thiên yếm kì đức, phất khắc chung thọ)(〈勸李公蘊即帝位〉)。

[65] Thơ văn Lí Trần, [I‧559]. Nguyên văn:「朕以不德,獲淚於天,絕無繼嗣,傳位於女 …… 且上王以二郎為嗣,乃天意也,天與不取,反受其咎。」(Trẫm dĩ bất đức, hoạch lệ ư thiên, tuyệt vô kế tự, truyền vị ư nữ… Thả thượng vương dĩ nhị lang vi tự, nãi thiên ý dã, thiên dữ bất thủ, phản thụ kì cữu)(《越史略‧李惠宗欲遜位於陳燛之爭辯》)。

[66] Thơ văn Lí Trần, [III‧565]. Nguyên văn:「料得天心方厭亂。」(Liệu đắc thiên tâm phương yếm loạn)(范汝翼‧〈避賊山中除夜〉)。

[67] Thơ văn Lí Trần, [II‧354]. Nguyên văn:「畢竟知心有老天。」(Tất cánh tri tâm hữu lão thiên)(范汝翼‧〈和阮運同遣悶詩韻其一〉)。

[68] Thơ văn Lí Trần, [I‧439]. Nguyên văn:「賴祖宗之靈,皇天孚佑,四海無虞,邊陲微警。」(Lại tổ tông chi linh, hoàng thiên phù hựu, tứ hải vô ngu, biên thùy vi cảnh)(〈臨終遺詔〉)。

[69] Thơ văn Lí Trần, [II‧155]. Nguyên văn:「朕荷上天之眷,享至尊之位。民事艱難,國政繁夥。」(Trẫm hạ thượng thiên chi quyến, hưởng chí tôn chi vị. Dân sự gian nan, quốc chính phồn khỏa)(《六時懺悔科儀‧序》)。

[70] Thơ văn Lí Trần, [III‧236]. Nguyên văn:「豈非天降厥祥以章君臣之德於當時乎?……。噫!天命之如此,豈非天錫玉璜而示厥祥者乎?……。豈不示以明徵而表其嘉瑞者乎?」(Khỉ phi thiên giáng quyết tường dĩ chương quân thần chi đức ư đương thời hồ?… Y, thiên mệnh chi như thử, khỉ phi thiên tích ngọc huỳnh nhi thị quyết tường giả hồ?… Khỉ bất thị dĩ minh trưng nhi biểu kì gia thụy giả hồ?)(〈蟠溪釣璜賦〉)。

[71] Thơ văn Lí Trần, [I‧463]. Nguyên văn:「齋戒沐浴、擇土立壇,植儀秉珪,而請代之。皇天憫其忠孝,惠賜神方,金丹立效。」(Trai giới mộc dục, trạch thổ lập đàn, thực nghi bỉnh khuê, nhi thỉnh đại chi. Hoàng thiên mẫn kì trung hiếu, huệ tứ thần phương, kim đan lập hiệu)(欠名‧〈鉅越國太尉李公石碑銘序〉)。

[72] Thơ văn Lí Trần, [I‧418]. Nguyên văn:「若後有何人取三寶田以為生利私事,願皇天十八龍神誅之滅之。」(Nhược hậu hữu hà nhân thủ tam bảo điền dĩ vi sinh lợi tư sự, nguyện hoàng thiên thập bát long thần chu chi diệt chi )(〈大越國當家第四帝崇善延齡塔碑‧塔碑的負面〉)。

[73] Thơ văn Lí Trần, [II‧354]. Nguyên văn:「焚香祝天,願天為我越早生聖人,自帝其國,以免北人之侵漁者也。」(Phần hương chúc thiên, nguyện thiên vị ngã Việt tảo sinh thánh nhân, tự đế kì quốc, dĩ miễn Bắc nhân chi xâm ngư giả dã)(《大越史記‧我越屬東漢之時論》)。

[74] Thơ văn Lí Trần, [II‧361]. Nguyên văn:「殆天意為我越復生聖哲,以接趙王之統也歟?」(Đãi thiên ý vị ngã Việt phục sinh thánh triết, dĩ tiếp Triệu Vương chi thống dã dư?)(《大越史記‧丁先皇論》)。

[75] Thơ văn Lí Trần, [I‧562]. Nguyên văn:「自古南越帝王治天下者有矣。唯我李受天眷命,奄有四海,列聖相承,二百餘年。」(Tự cổ Nam Việt đế vương trị thiên hạ giả hữu hĩ. Duy ngã Lí thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu tứ hải, liệt thánh tương thừa, nhị bách dư niên)(李昭皇‧〈禪位詔〉)。

[76] Thơ văn Lí Trần, [I‧229]. Nguyên văn:「以其圖大宅中,為億萬世子孫之計。上謹天命,下因民志,苟有便輒改,故國祚延長,風俗富阜。而丁、黎二家,乃徇己私,忽天命,罔蹈商周之跡,常安厥邑于茲,致世代弗長,算數短促,百姓耗損,萬物失宜。」(Dĩ kì đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế. Thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải, cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh, Lê nhị gia, nãi tuẫn kỉ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, chí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi)(〈遷都詔〉)。

[77] Thơ văn Lí Trần, [I‧245]. Nguyên văn:「今存福妄自尊大,竊號施令,聚蜂蠆之眾,毒邊鄙之民。朕以之恭行天討,俘存福等五人,并斬之于都市。」(Kim Tồn Phúc vọng tự tôn đại, thiết hiệu thi lệnh, tụ phong mại chi chúng, độc biên bỉ chi dân. Trẫm dĩ chi cung hành thiên thảo, phu Tồn Phúc đẳng ngũ nhân, tính trảm chi vu đô thị)(李佛瑪‧〈平儂詔〉)。

[78] Thơ văn Lí Trần, [III‧36]. Nguyên văn:「將壇拜了奉天誅。」(Tướng đàn bái liễu, phụng thiên tru)(阮億‧〈送菊堂主人征刺那〉)。

[79] Thơ văn Lí [Trần, III‧547]. Nguyên văn:「行藏用舍無非命。」(Hành tàng dụng xả vô phi mệnh)(〈寄郭縣丞〉)。

[80] Thơ văn Lí Trần, [III‧555]. Nguyên văn:「吾儕會合無非數,莫漫遲遲倒碧筒。」(Ngô tề hội hợp vô phi số, mạc mạn trì trì đảo bích giản)(范汝翼‧〈蓮亭雅集〉)。

[81] Thơ văn Lí Trần, [I‧439]. Nguyên văn:「生物之動,無有不死。死者,天地之大數,物理當然。」(Sinh vật cho động, vô hữu bất tử. Tử giả, thiên địa chi đại số, vật lí đương nhiên)(〈臨終遺詔〉)。

[82] Thơ văn Lí Trần, [II‧411]. Nguyên văn:「無端天上編年月,不管人間有死生。」(Vô đoan thiên thượng biên niên nguyệt, bất quản nhân gian hữu tử sinh)(〈輓陳仲徵〉)。

[83] Thơ văn Lí Trần, [III‧605]. Nguyên văn:「其所致兮實天之為,其所然兮是朕之非。」(Kì sở chí hề thực thiên chi vi, kì sở nhiên hề thị trẫm chi phi)〈阮碧珠祭文〉。

[84] Thơ văn Lí Trần, [II‧94]. Nguyên văn:「爭知福貴在天,但肆貪求為意。哺犴穴室,鑿壁穿墻。踵跡山羊將軍,習行梁上君子。逆天悖地,欺法輕刑。生前遭公事施行,死後被冥司拷掠。」(Tranh tri phú quý tại thiên, đãn tứ tham cầu vi ý. Bộ ngạn huyệt thất, tạc bích xuyên tường. Chủng tích sơn dương tướng quân, tập hành lương thượng quân tử. Nghịch thiên bội địa, khi pháp khinh hình. Sinh tiền tao công sự thi hành, tử hậu bị minh ty khảo lược)(《論文語錄‧戒偷盜》)。

[85] Thơ văn Lí Trần, [I‧321]. Nguyên văn:「南國山河南帝居,截然定分在天書,如何逆虜來侵犯,汝等行看取敗虛。」 (Nam quốc sơn hà nam đế cư, tiệt nhiên định phận tại thiên thư, như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư)(李常杰‧〈南國山河〉)。

[86] Thơ văn Lí Trần, [III‧600]. Nguyên văn:「天書粵定南邦;土產有殊北國。」(Thiên thư việt định nam bang, thổ sản hữu thù Bắc quốc)(〈直解指南藥性賦〉)。

[87] Thơ văn Lí Trần, [III‧333]. Nguyên văn:「偉羲軒之聖神兮,原天道而建極。造書契以利用兮,協斯文於載籍。立史官以持法兮,正君臣之典則。迨堯舜之繼統兮,功有光於前日。禹湯儼以祇敬兮,桀紂縱以暴虐。文武穆以懿恭兮,幽厲昏而戕賊。彼以德而興隆兮,此以昏而喪國。誰秉筆而直書兮,具昭昭於史冊?嗟姬轍之東遷兮,王綱頹而弗植。干戈滿於字內奚,人禽獸而相食。臣弒君而子弒父兮,彞倫從而泯息。」( Vĩ Hy Hiên chi thánh thần hề, nguyên thiên đạo nhi kiến cực. Tạo thư khế dĩ lợi dụng hề, hiệp tư văn ư tải tịch. Lập sử quan dĩ trì pháp hề, chính quân thần chi điển tắc. Đãi Nghiêu, Thuấn chi kế thống hề, công hữu quang ư tiền nhật. Vũ, Thang nghiễm dĩ chỉ kính hề, Kiệt, Trụ túng dĩ bạo ngược. Văn, Vũ mục dĩ ý cung hề, U, Lệ hôn nhi tường tặc. Bỉ dĩ đức nhi hưng long hề, thử dĩ hôn nhi táng quốc. Thuỳ bỉnh bút nhi trực thư hề, cụ chiêu chiêu ư sử sách ? Ta! Cơ triệt chi đông thiên hề, vương cương đồi nhi phất thực. Can qua mãn ư vũ nội hề, nhân cầm thú nhi tương thực. Thần thí quân nhi tử thí phụ hề, di luân tòng nhi dẫn tức) (欠名‧〈董狐筆賦〉)。

[88] Thơ văn Lí Trần, [I‧539]. Nguyên văn:「德本由天所造。」(Đức bản do thiên sở tạo)(魏嗣賢‧〈報恩禪寺碑記〉)。

[89] Thơ văn Lí Trần, [III‧298]. Nguyên văn:「孝心昭格堯天上,仁澤旁霑禹甸間。」(Hiếu tâm chiêu cách Nghiêu thiên thượng, nhân trạch bàng triêm Vũ điện gian)(范仁卿‧〈扈拜山陵回京〉)。

[90] Lí Thân李申,Trung Quốc cổ đại triết học và tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân dân Xuất bản xã,Thượng Hải, 2001, 102-103。

[91] Thơ văn Lí Trần, [II‧484]. Nguyên văn:「傲雪心虛,凌霜節勁。假爾為奴,恐非天性。」(Ngạo tuyết tâm hư, lăng sương tiết kính. Giả nhĩ vi nô, khủng phi thiên tính)(〈竹奴銘〉)。

[92] Thơ văn Lí Trần, [II‧821]. Nguyên văn:「頹然一枕樂天真,醒來萬事都忘記。」(Đồi nhiên nhất chẩm lạc thiên chân, tỉnh lai vạn sự đô vong ký)(〈即事〉)。

[93] Thơ văn Lí Trần, [III‧494]. Nguyên văn:「賢達者之出處,其動也以天,其樂也以天。天者何?一至清虛至大而已。四時成歲而不顯其功,萬物蒙恩而不顯其蹟。非至清至虛至大者,疇若是乎?」(Hiền đạt giả chi xuất xử, kỳ động giả dĩ thiên, kỳ lạc dã dĩ thiên. Thiên giả hà? Nhất chí thanh chí hư chí đại nhi dĩ. Tứ đời thành tuế nhi bất hiển kỳ công, vạn vật mông ân nhi bất hiển kỳ tích. Phi chí thanh chí hư chí đại giả, trù nhược thị hồ?)(阮飛卿‧〈清虛洞記〉)。

[94] Thơ văn Lí Trần, [II‧200]. Nguyên văn:「十願清淨等天成。」(Thập nguyện thanh tịnh đẳng thiên thành)(陳太宗‧《六時懺悔科儀‧志心發願》)。

[95] Thơ văn Lí Trần, [III‧130]. Nguyên văn:「二儀有像,顯覆載以含靈生,四時無形,潛寒署以化物。爰以:窺天監地,庸愚皆識其端;明陰問陽,賢哲罕窮其數。然而:天地包乎陰陽,而易識者,以其有象也;陰陽處乎天地,而難窮者,以其無形也。故知:像顯可徵,雖愚不惑;潛形莫睹,在智猶迷。況乎佛道崇虛,乘虛控寂。」(Nhị nghi hữu tượng, hiển phúc tải dĩ hàm linh sinh; từ thời vô hình, tiềm hàn thử dĩ hoá vật. Viên dĩ, khuy thiên giám địa, dong ngu giai thức kỳ đoan; minh âm vấn dương, hiền triết hãn cùng kỳ số. Nhiên nhi, thiên địa bao hồ âm dương, nhi dị thức giả, dĩ kỳ hữu tượng dã; âm dương xử hồ thiên địa, nhi nan cùng giả, dĩ kỳ vô hình dã. Cố tri, tượng hiển khả trưng, tuy ngu bất hoặc; tiềm hình mạc đổ, tại trí do mê. Huống hồ, Phật đạo sùng hư, thừa hư không tịch.)(范師孟‧〈崇嚴事雲磊山大悲寺〉)。

[96] Thơ văn Lí Trần, [III­‧596]. Nguyên văn:「生性,物化類,堆氣陰陽轉運,務寒暑往來。」

[97] Thơ văn Lí Trần, [III­‧146]. Nguyên văn:「洪鈞一氣轉天地,八方四海並陶甄。」(Hồng quân nhất khí chuyển thiên địa, bát phương tứ hải tịnh đào kiên)(〈北使應省堂命席上賦詩〉)。

[98] Thơ văn Lí Trần, [III­‧110]. Nguyên văn:「地分南北金湯險,天設神仙洞府高。」(Địa phân nam bắc kim thang hiểm, thiên thiết thần tiên động phủ cao)(范師孟‧〈三清洞〉)。

[99] Thơ văn Lí Trần, [III­‧405]. Nguyên văn:「天地北南雙眼闊,山河夷險寸心平。」(Thiên địa bắc nam song nhãn khoát, sơn hà di hiểm thốn tâm bình)(阮飛卿‧〈送中使武適之〉)。

[100] Thơ văn Lí Trần, [II­‧458]. Nguyên văn:「不知兩點軺星福,幾夜光芒照越天。」(Bất tri lưỡng điểm thiều tính phúc, kỷ dạ quang mang chiếu Việt thiên)(〈送北使李仲賓,蕭方崖〉)。

[101] Thơ văn Lí Trần, [II­‧458]. Nguyên văn:「軺星兩點照天南,光引台躔夜繞三。」(Thiều tinh lưỡng điểm chiếu thiênNam, quang dẫn thai triền dạ nhiễu tam)(〈送北使麻合,喬元郎〉)。

[102] Thơ văn Lí Trần, [II­‧474]. Nguyên văn:「乾坤兼愛無南北,何患雲雷復有屯。」(Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc, hà hoạn vân lôi phục hữu truân)(〈贈北使李思衍〉)。

[103] Thơ văn Lí Trần, [I­‧204]. Nguyên văn:「國祚如藤絡,南天裡太平,無為居殿閣,處處息刀兵。」(Quốc tộ như đằng lạc,Nam thiên lí thái bình, vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh)(〈答國王國祚之問〉)。

[104] Thơ văn Lí Trần, [I­‧217]. Nguyên văn:「蒺藜沈北水,李子樹南天,四方戈干靜,八表賀平安。」(Tật lê trầm Bắc thuỷ, lý tử thụNam thiên. Tứ phương qua can tĩnh, bát biểu hạ bình yên)(〈揭榜示眾〉)。

[105] Thơ văn Lí Trần, [III‧600]. Nguyên văn:「物類雖繁,根苗有異。集諸方良藥,大垂佛手濟民。味一粒靈丹,果驗仙真度世。人人陶壽域仁臺,處處囿春風和氣。措生民衽席,奠國勢泰磐;斯不負南天廣惠。」(Vật loại tuy phồn, căn miêu hữu dị. Tập chư phương lương dược, đại thùy phật thủ tế dân. Vị nhất lạp linh đơn, quả nghiệm tiên chân độ thế. Nhân nhân đào thọ vực nhân đài, xứ xứ hữu xuân phong hòa khí. Thố sinh dân nhẫm tịch, điện quốc thế thái bàn; tư bất phụ nam thiên quảng huệ) (〈直解指南藥性賦〉)。

[106] Thơ văn Lí Trần, [III‧434]. Nguyên văn:「高閣纔開夜漏乾,九天宮闕悄輕寒,雲開瑞日乾坤曉,春布皇仁雨露寬。」(Cao các tài khai dạ lậu can, cửu thiên cung khuyết tiễu khinh hàn, vân khai thuỵ nhật càn khôn hiểu, xuân bố hoàng nhân vũ lộ khoan)(〈和朱翰林未央早朝〉)。

[107] Thơ văn Lí Trần, [III‧553]. Nguyên văn:「四牡馳驅瘴霧中,天門回首五雲重,夢驚瑣闥雙環響,望極聰明一朵紅。澤物有情時出岫,依乘在念切從龍,日邊早晚行宣召,沛作商霖四海同。」(Tứ mẫu trì khu chướng vụ trung, thiên môn hồi thủ ngũ vân trùng, mộng kinh toả thát song hoàn hưởng, vọng cực Thông Minh nhất đoá hồng. Trạch vật hữu tình thời xuất tụ, y thừa tại niệm thiết tòng long, nhật biên tảo vãn hành tuyên triệu, bái tác Thương lâm tứ hải đồng)(〈五雲企瞻〉)。

[108] Thơ văn Lí Trần, [I‧209]. Nguyên văn:「祥光風好錦帆張,遙望神僊復帝鄉,萬重山水涉滄浪,九天歸路長。」(Tường quang phong hảo cẩm phàm trương, dao vọng thần tiên phục đế hương, vạn trùng sơn thủy thiệp thương lãng, cửu thiên quy lộ trường)(〈玉郎歸〉)。

[109] Thơ văn Lí Trần, [III­‧474]. Nguyên văn:「仙家宮闕近蓬萊,耳伴鈞天夢易回,睡起春朝無個事,東風庭院看花開。」(Tiên gia cung khuyết cận Bồng Lai, nhĩ bạn quân thiên mộng dị hồi, thuỵ khởi xuân triêu vô cá sự, đông phong đình viện khán hoa khai)(〈天聖佑國寺早起〉)。

[110] Thơ văn Lí Trần, [II­‧633]. Nguyên văn:「風度青松,彷彿天宮之奏响;月篩翠竹,搖颺乎佛界之放光。」(Phong độ thanh tùng, phảng phất thiên cung chi tấu hưởng; nguyệt si thúy trúc, dao dương hồ Phật giới chi phóng quang )(欠名‧〈興福寺碑〉)。

[111] Thơ văn Lí Trần, [II­I‧305]. Nguyên văn:「斗柄西轉火輪收,天上秋期會女牛,銀渚高橫雲似傘,星橋斜掛月如鉤。」(Đẩu bính tây chuyển hoả luân thu, thiên thượng thu kỳ hội Nữ Ngưu, Ngân chử cao hoành vân tự tán, tinh kiều tà quải nguyệt như câu)(范仁卿‧〈七夕,其一〉)。

[112] Thơ văn Lí Trần, [II­I‧605]. Nguyên văn:「嗚呼痛哉兮魂今何之?如在天兮天有比翼飛,如在地兮地有連理枝。」(Ô hô thống tai hề hồn kim hà chi? Như tại thiên hề thiên hữu thử dực phi, như tại địa hề địa hữu liên lý chi)(〈阮碧珠祭文〉)。

[113] Thơ văn Lí Trần, [II­I‧596]. Nguyên văn:「白檀香意香白檀,吻藍六供;沉水香尼香沉水,共感典諸天。」(〈南藥國語賦〉)。

[114] La Quang, Trung Quốc triết học đại cương, Đài Loan Thương vụ xuất bản xã, Đài Bắc, 1999, trang 55.

[115] Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 5.

[116] Thơ văn Lí Trần, [II‧212]. Nguyên văn:「滿空塵數眾 …… 佛法慈悲大,威光覆大千,萬神俱向化,三界盡回旋。」(Mãn không trần số chúng… Phật pháp từ bi đại, uy quang phúc đại thiên, vạn thần câu hướng hoá, tam giới tận hồi tuyền)(欠名‧〈佛法〉)。

[117] Thơ văn Lí Trần, [I‧532]. Nguyên văn:「道本無顏色,新鮮日日誇,大千沙界外,何處不為家。」(Đạo bản vô nhan sắc, tân tiên nhật nhật khoa, đại thiên sa giới ngoại, hà xứ bất vi gia)(范常照‧〈道〉)。

[118] Thơ văn Lí Trần, [I‧385]. Nguyên văn:「有時直上孤峰頂,長嘯一聲寒太虛。」(Hữu thì trực thướng cô phong đỉnh, trường khiếu nhất thanh hàn thái hư)(楊空路‧〈言懷〉)。

[119] Thơ văn Lí Trần, [I‧458]. Nguyên văn:「天外覓心難定體,人間植桂豈成叢,乾坤盡是毛頭上,日月包含芥子中。」(Thiên ngoại mịch tâm thể, nhân gian nan địch thực quế khởi thành tùng, càn khôn tận thị mao đầu thượng, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung)(阮慶喜‧〈答法融色空凡聖之問〉)。

[120] Thơ văn Lí Trần, [III‧196]. Nguyên văn:「經天緯地心先覺。」(Kinh thiên vĩ địa tâm tiên giác)(陳元旦‧〈題觀鹵簿詩集後〉)。

[121] Thơ văn Lí Trần, [III‧304]. Nguyên văn:「乾坤四顧月如晝,草木半枯天正霜。」(Càn khôn từ cố nguyệt như trú, thảo mộc bán khô thiên chính sương)(范仁卿‧〈秋夜〉)。

[122] Thơ văn Lí Trần, [II‧585]. Nguyên văn:「頂天立地丈夫身,志氣堂堂邁等倫 …… 留得乾坤忠義節,高談千古一完人。」(Đính thiên lập địa trượng phu thân, chí khí đường đường mại đẳng luân… Lưu đắc càn khôn trung nghĩa tiết, cao đàm thiên cổ nhất hoàn nhân)(阮制義‧〈言懷〉)。

Quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần

Thanh Phong

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: