Sử dụng ngoại ngữ dưới vài góc nhìn

 

Giờ học ngoại ngữ của HS trường TH Sư phạm tại phòng Lab TT Ngoại ngữ ĐHAG. Nguồn: Enews.

Ai cũng biết, ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng. Một khi bất đồng ngôn ngữ, người tham gia giao tiếp có thể sử dụng cử chỉ điệu bộ hoặc hình vẽ để kết nối với đối phương; nhưng hiệu quả giao tiếp đoan chắc rằng không bao giờ đạt được như khi sử dụng ngôn ngữ. Đối với hai người không đến cùng một quốc gia, không dùng chung một ngôn ngữ thì tất nhiên một trong hai, hoặc cả hai, phải biết ngoại ngữ mới có thể giao tiếp được với nhau. Khi đó, hoặc là họ sẽ quy ước với nhau dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của một trong hai người làm ngôn ngữ giao tiếp nếu một trong hai biết ngôn ngữ của đối phương, hoặc là họ sẽ chọn một ngôn ngữ thứ ba làm cầu nối nếu cả hai đều biết ngôn ngữ này.

Tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữNgôn ngữ được xem là vỏ vật chất của tư duy. Vỏ vật chất muốn nói đến ở đây có thể hiểu là những câu chữ do các kí tự liên kết với nhau trên trang giấy tạo thành mà mắt chúng ta nhìn thấy và đọc được, cũng có thể là lời nói dưới dạng những luồng âm thanh trầm bổng nặng nhẹ, nối tiếp hoặc đứt quảng được phát ra mà tai chúng ta có thể nghe được. Mỗi câu chữ hay lời nói đều được quy chiếu bằng những ý nghĩa nhất định, nét nghĩa đó có thể chỉ những thứ cụ thể xung quanh chúng ta như “cái bàn” “cái ghế”, cũng có thể là những thứ hết sức trừu tượng mà qua sự tư duy, liên tưởng chúng ta mới có thể hiểu được như “gia đình”, “yêu nước”. Nên sau khi tiếp nhận phát ngôn từ dạng vật chất (nghe hoặc đọc) thì trong bộ não chúng ta đã diễn ra quá trình tư duy để có thể lãnh hội nội dung ý nghĩa của phát ngôn đó.Đó là trong trường hợp sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, còn trong trường hợp sử dụng ngoại ngữ thì vấn đề phức tạp hơn một chút. Phức tạp ở chỗ, người tiếp nhận đôi khi phải qua một bước trung gian là đối chiếu, so sánh với ngôn ngữ mẹ đẻ; hoặc là phải xác định nghĩa từng từ vựng trước khi hiểu nghĩa toàn câu, toàn văn bản, xác định nghĩa tường minh trước khi hiểu nghĩa hàm ẩn, xác định nghĩa biểu niệm trước khi hiểu nghĩa biểu thái… Dĩ nhiên quá trình xác định này nhanh hay chậm tùy thuộc vào kĩ năng và công phu rèn luyện ngoại ngữ của bản thân từng người.Phân tích vấn đề này để thấy rằng, việc sử dụng ngoại ngữ không hoàn toàn tương đồng với việc sử dụng tiếng mẹ đẻ. Dùng ngoại ngữ, ta sẽ mất nhiều thời gian để tư duy và tiếp nhận hơn, tốn nhiều năng lượng hơn so với sử dụng tiếng mẹ đẻ. Cho nên, trong những cuộc giao tiếp, người sử dụng ngoại ngữ lúc nào cũng yếu thế hơn một bậc so với người sử dụng tiếng mẹ đẻ, có khi phải chịu phụ thuộc vào đối phương. Điều này lí giải vì sao trong những cuộc gặp gỡ hay đàm phán có tính chất quan trọng, chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ thông qua phiên dịch để lôi kéo đối phương trở về điểm xuất phát cân bằng với ta, mặc dù có thể chúng ta chưa hẳn yếu kém về ngoại ngữ. Có như vậy, chúng ta mới có thể tranh thủ được nhiều quyền lợi hơn về phía mình.Người viết có một anh bạn Việt Nam du học ngành Văn hóa học ở Trung Quốc. Anh ta gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng tiếng Trung để báo cáo chuyên đề trước đám đông, nhiều lần báo cáo của anh diễn ra không suông sẻ. Trong lớp có một sinh viên Trung Quốc biểu hiện thái độ xem thường năng lực của anh ta. Về sau khi gặp sinh viên Trung Quốc này, anh ta viện lí do tiếng Trung yếu nên không nói chuyện bằng tiếng Trung nữa và chỉ nói tiếng Anh. Sinh viên bản địa này lúng túng vì khả năng tiếng Anh của bản thân cũng kém, từ đó mới hiểu ra những chướng ngại của việc sử dụng ngoại ngữ và không tỏ ý xem thường anh bạn Việt Nam này nữa. Rõ ràng, việc kết nối với nhau từ một xuất phát điểm tương đồng là một điều quan trọng trong các tình huống sử dụng ngoại ngữ. Hơn nữa, sử dụng được nhiều ngoại ngữ tất nhiên là có thêm nhiều lợi thế.Mở rộng góc nhìn về ngoại ngữHọc ngoại ngữ không đơn thuần chỉ là học kĩ năng sử dụng ngoại ngữ. Ai cũng biết, ngôn ngữ chuyển tải văn hóa, tư tưởng, tình cảm, phong tục tập quán và nhiều thứ khác của con người ở đất nước sử dụng nó. Các yếu tố đó hiện diện khéo léo đằng sau từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, hoàn cảnh giao tiếp, thói quen sử dụng ngôn ngữ, những kiêng kị khi sử dụng ngôn ngữ… Nhất là đối với những ngôn ngữ có chữ viết là chữ tượng hình như chữ Hán thì vấn đề này càng bộc lộ sâu sắc. Học ngoại ngữ chính là gián tiếp học văn hóa và tư tưởng của đất nước sử dụng ngoại ngữ đó. Đây là cơ hội để chúng ta hiểu hơn về đất nước và con người họ, nhưng cũng là nguy cơ một khi quá lệ thuộc vào ngoại ngữ, chúng ta sẽ dễ dàng bị lệ thuộc vào văn hóa và thói quen tư duy của họ, có thể dẫn đến việc phai nhạt dần khả năng sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, bằng chứng là nhiều người khi nói chuyện phải chêm vào những từ tiếng Anh hoặc tiếng Trung vì nhất thời không tìm ra từ tiếng Việt tương ứng. Thế mới thấy, câu nói của học giả Phạm Quỳnh ở những năm đầu thế kỉ trước “Truyện Kiều còn thì tiếng Việt còn, tiếng Việt còn thì nước ta còn” đầy tính minh triết.Ngoại ngữ một mặt góp phần giải phóng người sử dụng nhưng một mặt khác cũng góp phần ràng buộc người sử dụng. Góp phần giải phóng ở chỗ, ngoại ngữ giúp người học mở ra những hiểu biết mới, những chân trời mới, những kiến thức mới mà không phải lúc nào cũng thấy được trong ngôn ngữ mẹ đẻ. Điều này đồng nghĩa với việc, biết thêm một ngoại ngữ, chúng ta có khả năng tiếp cận với vốn hiểu biết của thêm một quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó, của thêm những cộng đồng người trên khắp thế giới đang sử dụng ngôn ngữ đó. Khi đó, chắc chắn cách nhìn vấn đề của chúng ta cũng sẽ khác.Còn góp phần ràng buộc ở chỗ cuộc đời chúng ta ắt phải gắn liền với ngoại ngữ đó nếu chúng ta muốn tiến bộ và phát triển. Chúng ta sẽ tìm những việc làm gắn liền với sở trường ngoại ngữ này của mình, như thế là góp phần mở rộng phạm vi ảnh hưởng ngôn ngữ, đồng thời cũng là văn hóa và tư tưởng của quốc gia đó trong quá trình làm việc. Đó là chưa nói tới việc chịu ảnh hưởng về quan điểm, cách tư duy, tác phong học thuật và nhiều thứ khác. Đây là hệ quả tất yếu của xã hội hiện đại mà chắc rằng không nơi nào có thể tránh được. Ngôn ngữ bây giờ trở thành một thứ “quyền lực mềm” có thể tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều thứ. Các quốc gia sở hữu nó có thêm một công cụ đầy quyền uy và ưu thế hơn một bước so với các quốc gia khác. Nói như vậy không có nghĩa chúng ta không cần phải học ngoại ngữ, mà ngược lại chúng ta cần phải học ngoại ngữ thật giỏi, càng giỏi càng tốt, biết nhiều ngoại ngữ càng tốt hơn nữa. Thế nhưng, có lẽ điều quan trọng nhất là chúng ta cần có một nền tảng văn hóa và ngôn ngữ mẹ đẻ vững chắc trước khi tiếp cận với ngoại ngữ.Hiện nay, báo chí nói nhiều đến việc nhiều trường tiểu học quốc tế được mở ra, các tiết học ngoại ngữ được tăng cường bên cạnh những tiết học bằng tiếng Việt. Có thể bằng sự điều chỉnh khéo léo của nhà trường, học sinh vừa giỏi tiếng Việt vừa có khả năng sử dụng tốt ngoại ngữ. Nhưng cũng ở những trường học như vậy, không ít trẻ em lại giỏi ngoại ngữ hơn cả tiếng Việt, thậm chí có em không thể dùng tiếng Việt để giao tiếp thông thường trong gia đình. Nhiều bậc cha mẹ chẳng thấy lo lắng về điều này vì sau này con họ có thể làm việc tốt ở những môi trường sử dụng ngoại ngữ. Nhưng từ góc độ văn hóa mà nói thì đây là vấn đề đáng lo ngại của xã hội.Ở trường Đại học, việc giảng dạy và tạo cơ hội sử dụng ngoại ngữ hết sức quan trọng. Trước khi học ngoại ngữ, người học cần có một nền tảng ngôn ngữ mẹ đẻ vững chắc, khả năng nghe nói đọc viết thành thạo và ít sai sót; có thể dùng tiếng Việt diễn đạt tất cả mọi vấn đề mà không gặp phải chướng ngại; diễn đạt càng sắc sảo khéo léo càng tốt. Một khi có sự chuẩn bị tốt này, người học sẽ đủ bản lĩnh để tiếp nhận và làm chủ ngoại ngữ.Ngoài ra, cũng cần đa dạng hóa ngoại ngữ trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ ở nhà trường. Một khi quá độc tôn bất kì ngoại ngữ nào thì cũng đồng nghĩa tự hạn chế khả năng hòa nhập của mình trong những môi trường không sử dụng ngoại ngữ đó. Đa dạng hóa ngoại ngữ để tạo môi trường ngôn ngữ học thuật nhiều màu sắc, phù hợp với nguyện vọng và chuyên môn của từng đối tượng, chuyên ngành.Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ toàn cầu, văn hóa và nếp sống phương Tây đã ít nhiều luồn lách vào mọi ngỏ ngách Á Đông. Tiếng Trung cũng đang trở mình trỗi dậy với hàng trăm học viện Khổng Tử được mở ra để dạy tiếng Trung Quốc và nhân đó quảng bá văn hóa tư tưởng Trung Quốc. Thế còn tiếng Việt và văn hóa Việt ? Câu hỏi này đang chờ thế hệ trẻ ViệtNam – trong đó phần lớn sử dụng thành thạo từ một đến nhiều ngoại ngữ – sẽ có câu trả lời thỏa đáng !

Thanh Phong – K. Sư phạm

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: