So sánh cách gọi học vị của Việt Nam và Trung Quốc

Học vị. Nguồn: http://www.lambodarsahu.com
Học vị theo cách giải thích của từ điển Từ Hải là từ dùng để chỉ vị trí đạt được của những người có học vấn hoặc làm công tác nghiên cứu, học vị được chia 3 loại là học sĩ, thạc sĩ và bác sĩ. So với cách gọi ở Việt Nam, các cách gọi trên của Trung Quốc xem ra có nhiều điểm chưa tương đồng.

Nói như trên, trình độ học vấn ở những cấp học thấp hơn bậc đại họckhông được gọi là học vị mà chỉ được gọi là đạt trình độ phổ thông các cấp tương ứng. Chẳng hạn Trung Quốc gọi ngườitốt nghiệp trung học phổ thông như cách gọi ở Việt Nam là tốt nghiệp cao trung (từ cao trungđược dùng để phân biệt với sơ trung là bậc trung học cơ sở). Trong khi đó, ở Việt Nam ngoài cách gọi tốt nghiệp trung học phổ thông ra còn có cách gọi khác là tốt nghiệp tú tài (cách gọi này hiện nay không phổ biến). Từ Hải giải thích từ tú tài như sau: các học sinh vào học ở các huyện, châu, phủ hai đời Minh Thanh, những người có tài năng học vấn thuộc hạng ưu (ngày xưa người có khả năng học đến tú tài không nhiều). Danh từ này cũng không còn được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc như thời phong kiến nữa.

Học vị tốt nghiệp đại học ở Việt Nam được gọi phổ biến làcử nhân (nhiều nhất là các ngành đại học khoa học xã hội và nhân văn, sư phạm, kinh tế). Ngoài ra còn có các cách gọi khác cùng cấp độ tuỳ thuộc vào đặc trưng từng chuyên ngành học tập như kĩ sưkiến trúc sưluật sưdược sĩ… Cử nhân theo cách giải thích của tự điển Hán Việt Thiều Chửu dùng để chỉ người đỗ thi hương trong khoa cử phong kiến ngày xưa. Cũng giống như cách gọi đa dạng đó của Việt Nam, thế nhưng cách gọi chủ yếu và phổ biến nhất cuả Trung Quốc cho các ngành làhọc sĩ. Trung Quốc không gọi người học tập để nhận được học vị học sĩ đó một cách chung chung là sinh viên (cả hai chữ đều có nghĩa là người) như Việt Nam mà gọi là đại học sinh (người học bậc đại học).
Cả Trung Quốc và Việt Nam đều giống nhau cách gọi học vị bậc học đầu tiên sau đại học là thạc sĩ (thạc có nghĩa là to lớn, sĩ là người có học vấn). Thạc sĩ được Từ Hải giải thích là người có phẩm chất nổi bật, học vấn sâu rộng, sau khi tốt nghiệp đại học được học vị học sĩ, tiếp tục học tập tại sở nghiên cứu từ 2 năm trở lên, thông qua khảo hạch đạt yêu cầu mà nhận được học vị thạc sĩ. Nhưng có điều khác biệt là Việt Nam có cách gọi bậc học thạc sĩ là cao học và người theo học là học viên cao học, trong khi Trung Quốc gọi bậc học này là nghiên cứu sở và người đi học là nghiên cứu sinh (người nghiên cứu).
Cách gọi nghiên cứu sinh dùng để chỉ những người theo học học vị cao nhất là Tiến sĩ ở Việt Nam. Trung Quốc bắt đầu gọi nghiên cứu sinh từ bậc thạc sĩ và gọi người có học vị cao nhất là bác sĩ (bác chỉ sự rộng lớn, uyên thâm). Từ Hải giải thích bác sĩ là người có học vị cao nhất hiện tại, thường sau khi tốt nghiệp qua nhiều năm nghiên cứu có các trứ tác tâm đắc, được cơ quan học thuật cao nhất hoặc chính phủ cấp cho học vị. Tiến sĩvà bác sĩ trước đây vốn đều là tên các chức quan thông qua khoa cử thời phong kiến, tuy nhiên đến ngày nay đã có sự phân biệt khi sử dụng ở hai nước, Trung Quốc không gọi học vị cao nhất là tiến sĩ và Việt Nam lại dùng từ bác sĩ để gọi những người công tác trong lĩnh vực y khoa. Một điều nữa, người Trung Quốc không đồng ý với cách nói “đi học nghiên cứu sinh” như Việt Nam mà chỉ đồng ý cách nói “đi học nghiên cứu sở”. Xét về cấu trúc ngữ nghĩa thì cách phản đối đó là hợp lý vì không thể nói “đi học người nghiên cứu” mà phải nói là “đi học ở cơ quan nghiên cứu”. Thế nhưng dù sao cách nói trên cũng đã quá phổ biến ở Việt Nam nên vấn đề sửa đổi tuỳ thuộc quá trình sử dụng ngôn ngữ của mỗi người.
Sự so sánh như trên có thể diễn đạt tóm tắt như bảng dưới đây: 
Cách gọi
Việt Nam
Trung Quốc
Bậc đại học
Bậc học
Đại học
Đại học
Người học
Sinh viên
Đại học sinh
Học vị
Cử nhân, kĩ sư, luật sư…
Học sĩ, công trình sư, luật sư…
Bậc cao học
Bậc học
Cao học
Nghiên cứu sở
Người học
Học viên cao học
Nghiên cứu sinh
Học vị
Thạc sĩ
Thạc sĩ
Bậc tiến sĩ
Bậc học
Nghiên cứu sinh
Nghiên cứu sở
Người học
Học viên nghiên cứu sinh
Nghiên cứu sinh
Học vị
Tiến sĩ
Bác sĩ
 Quá trình so sánh trên cho thấy rằng bên cạnh một vài cách gọi tương đồng của hai nước vẫn còn nhiều cách gọi chưa tương đồng. Số lượng từ ngữ được huy động để định danh có sự tương đồng khá cao. Cách gọi của Việt Nam chịu ảnh hưởng của cách gọi thời phong kiến nhiều hơn, từ ngữ được sử dụng phong phú hơn nên ít trùng lặp, sử dụng trong quá trình giao tiếp thuận lợi hơn. Xét về mặt ngữ nghĩa thì cách gọi của Việt Nam có nhiều chỗ chưa định danh rõ ràng đối tượng (sinh viên, cao học, nghiên cứu sinh) trong khi cách gọi của Trung Quốc phần này có vẻ ưu thế hơn. Chẳng hạn, từ bậc thạc sĩ trở lên phải là “người nghiên cứu” rõ ràng chứ không phải “học ở bậc cao” một cách chung chung.
Dù sao, các cách gọi trên đã được sử dụng phổ biến ở mỗi quốc gia, các chức năng ngôn ngữ học của chúng vẫn được đảm bảo đầy đủ. Không cần phải sửa đổi cho giống nhau một khi việc sửa đổi mang lại nhiều trở ngại trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên, sự khác biệt đó có tác động gì đến ngành giáo dục của mỗi nước hay không là điều không thể suy đoán một cách đơn giản.
Thanh Phong – K. Sư phạm
Tham khảo:
  1. Tự điển Hán Việt, Thiều Chửu, Nhà xuất bản Thanh Niên 2006.
  2. Từ điển Từ Hải (tân biên), Lôi Phi Hồng chủ biên, Thế Nhất xuất bản xã, 2006.
  3. http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_v%E1%BB%8B
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: