Thế nào là Trung tâm tri thức?

Nguồn: http://www.enews.agu.edu.vn

Hơn một lần người viết nghe phong thanh đâu đó câu nói: “ĐH An Giang là trung tâm tri thức (TTTT) lớn thứ hai của Đồng bằng sông Cửu Long sau Đại học Cần Thơ”. Kiểm tra lại nguồn tin này trên các phương tiện thông tin truyền thông đại chúng hay các cơ quan chủ quản thì không thấy. Do bản thân vốn chưa có nhiều hiểu biết về các trung tâm giáo dục khác nên người viết cũng không dám khẳng định ý kiến trên là đúng hay không đúng. Nhưng thiết nghĩ việc đó cũng không quan trọng cho bằng việc phải hiểu như thế nào là một TTTT và trường ta đã thật sự là một TTTT hay chưa. Trong bài viết này, người viết xin được nêu vài suy nghĩ chủ quan của cá nhân về vấn đề này.

Thế nào là một Trung tâm tri thức (TTTT)? Những yếu tố nào cấu thành nên một TTTT? Mối quan hệ giữa TTTT với các nhà trí thức, hệ thống lưu trữ dữ liệu và với đời sống xã hội như thế nào? Đó là những câu hỏi mà một trung tâm giáo dục muốn trở thành TTTT phải trả lời.

1. TTTT trước tiênphải là “trung tâm trí thức”

Một cơ sở giáo dục hay một cơ quan nghiên cứu nào đó muốn trở thành một TTTT thì yêu cầu đầu tiên và có lẽ quan trọng nhất nơi đó phải là “trung tâm trí thức”, tức là nơi tập hợp đượcđông đảo các nhà trí thức.

Nếu một nơi không có sự tập trung, quần tụ được đông đảo các nhà trí thức thì nơi đó không thể gọi là TTTT. Bởi lẽ, tri thức ở đây không chỉ là hệ thống những thông tin và dữ liệu khoa học đang được lưu trữ mà còn là hệ thống thông tin đã qua “bộ máy xử lý” hết sức tinh vi của các nhà trí thức. Nói cách khác, TTTT tất yếu phải có người biết sử dụng, chọn lọc, truyền đạt, nghiên cứu, sáng tạo hệ thống tri thức để phục vụ phổ biến rộng rãi cho toàn xã hội.

Một thư viện lớn, một viện bảo tàng, một hệ thống lưu trữ thông tin trên mạng internet… không thể được xem là một TTTT, mà đó chỉ là một trung tâm lưu trữ tri thức. TTTT nhấtđịnh phải có yếu tố con người, tức là đội ngũ trí thức, đội ngũ này càng đông đảo, chất lượng chuyên môn càng cao, năng lực nghiên cứu và sáng tạo càng dồi dào, uy tín khoa học càng lớn thì càng góp phần tạo nên quy mô của TTTT đó. Hiểu theo nghĩa đó thì TTTT sẽ không chấp nhận những nhà trí thức chỉ biết làm những công việc thuần chân tay mà một người bình thường nào cũng có thể làm được.

Ở góc độ này, có thể thấy vai trò vô cùng quan trọng của các nhà trí thức trong việc định hướng và phổ biến tri thức chođịa phương, vùng miền và toàn xã hội. Nghĩa là định hướng đời sống học thuật, khuynh hướng nghiên cứu khoa học, xu hướng phát triển kinh tế – xã hội, thói quen tư duy và xây dựng chuẩn mực văn hóa cho đời sống xã hội. TTTT càng lớn thì càng chứng tỏ mức độ phát huy được vai trò quan trọng đó trong xã hội của các nhà trí thức.

2. TTTT là “trung tâm đào tạo trí thức”

Không chỉ là nơi quần tụ, trung tâm tri thức phải là nơi đào tạo ra được nhiều thế hệ trí thức đáp ứng cho nhu cầu phát triển xã hội. Đó là các trường đại học, các học viện, các viện nghiên cứu hay bất kì những cơ sở giáo dục nào góp phần đào tạo nên những tầng lớp trí thức.

Khi đó, người học sẽ được tiếp cận với các cơ sở giáo dục, được sự hướng dẫn của các nhà trí thức ở đó, trải qua quá trình học tập và nghiên cứu trong những thời hạn nhất định để trở thành các nhà trí thức trong tương lai. Những trí thức đó hoặc là tiếp tục tham gia vào quá trình phổ biến, nghiên cứu, sáng tạo tri thức, hoặc trực tiếp tham gia làm việc trong các ngành nghề thuộc các lĩnh vực của xã hội.

Chất lượng sản phẩm đào tạo của một TTTT cũng góp phần quan trọng khẳng định vị trí của nó. Sản phẩm ở đây là con người, là những cử nhân hay kĩ sư luật sư, thạc sĩ, tiến sĩ… tốt nghiệp từ đó. Chất lượng thể hiện ở năng lực hoàn thành tốt công việc, năng lực sáng tạo, năng lực xử lý các tình huống phát sinh, năng lực khắc phục khó khăn… của những sản phẩm con người ấy.

3. TTTT là trung tâm sáng tạo ra tri thức

Một nơi nếu chỉ tiếp nhận hệ thống tri thức từ các nơi khác sáng tạo ra và mang đến thì nơi đó chưa phải là TTTT. Một trường Đại học nếu chỉ thuần túy giảng dạy để truyền đạt tri thức thì chưa được xem là một TTTT, thậm chí người ta so sánh nơi đó với một trường “cấp 4” phổ thông.

Ở nhiều nơi, TTTT phải không ngừng nghiên cứu khoa học và thường xuyên có các thành tựu nghiên cứu được công bố. Nơi công bố, phạm vi công bố càng chứng tỏ giá trị của công trình nghiên cứu đó, cũng như tầm vóc của TTTT đó.

Thực chất, nghiên cứu khoa học được xem là một hình thức đào tạo hiệu quả mà các TTTT luôn chú trọng gắn kết với công tác giảng dạy. Đào tạo không chỉ truyền thụ kiến thức suông mà còn phải đặt yêu cầu sáng tạo ra kiến thức mới. Muốn vậy, việc truyền đạt phương pháp nghiên cứu, tiếp cận hệ thống tri thức cho người học cần được chú trọng hơn là truyền đạt lại những điều mà sách vở đã chép sẵn. Việc giảng dạy, thi cử ở các TTTT cũng cần đi theo hướng đó.

4. TTTT là nơi tập hợp phong phú các nguồn tư liệu tri thức

Dĩ nhiên, bản thân TTTT phải có hệ thống dữ liệu tri thức. Hệ thống tri thức đó có thể là hệ thống tri thức quý giá do các nơi khác sáng tạo ra, cũng có thể là những tri thức của chính bản thân cơ sở giáo dục đó tạo ra. Hệ thống dữ liệu tri thức ở đây bao gồm các tài liệu sách vở, tạp chí chuyên ngành, báo chí, các phương tiện lưu trữ thông tin dạng nghe nhìn như CD hay VCD, các công trình học thuật, công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống dữ liệu số hóa được quản lí bằng công cụ máy tính… Hệ thống tri thức ấy có tác dụng bỗ trợ lớn cho quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của các nhà trí thức và người học.

Hệ thống dữ liệu tri thức càng rộng, càng sâu, càng có nguồn gốc khoa học rõ ràng, giá trị học thuật cao, càng phù hợp với thực tiễn xã hội thì càng có giá trị. Hơn nữa, hệ thống dữ liệu tri thức đó đòi hỏi phải được sắp xếp một cách chỉnh chu, dễ tiếp cận, thuận tiện cho việc tra cứu của người có nhu cầu dùng.

Điều này khẳng định công việc tập hợp một cách rộng rãi vốn tri thức quý giá từ khắp nơi, đã được sự thừa nhận của giới nghiên cứu khoa học sẽ góp phần quyết định tầm vóc của TTTTđó. Điều đó đảm bảo người học tiếp cận được nguồn thông tin mới nhất, giá trị nhất, đầy đủ nhất để phục vụ học tập và nghiên cứu.

Nơi có nguồn dữ liệu khoa học càng nhiều, càng quý hiếm, càng chất lượng, càng tiện ích thì nơi đó càng được xem là TTTT lớn. Vì vậy, công việc sưu tập, bổ sung, nghiên cứu, sáng tạo và chia sẻ tri thức là công việc hết sức quan trọng của các TTTT.

5. TTTT là nơi gắn kết trực tiếp giữa khoa học với thực tiễn cuộc sống

Quá trình đào tạo hay nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục lúc nào cũng hướng đến những mục đích cụ thể. Việc đào tạo từ lâu luôn gắn liền với việc xác định mục tiêu đào tạo ra ai, làm việc gì, ở đâu, làm như thế nào, nhu cầu xã hội ra sao… để có thể tạo nên nguồn nhân lực có năng lực gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Việc nghiên cứu cũng vậy, hướng đến ai, nhằm mục đích gì, khả năng ứng dụng như thế nào… luôn là những câu hỏi quan trọng định hướng quá trình nghiên cứu.

Do đó, cơ sở giáo dục cần thiết phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Điều đó đồng nghĩa, TTTT phải thật sự đem lại lợi ích thiết thực cho địa phương, vùng miền hay xã hội nơi TTTT đó tồn tại. Muốn có được lợi ích thiết thực đó thì việc gắn kết giữa nhà khoa học với các cơ quan, công ty, xí nghiệp, nhà máy, trường học, hợp tác xã, phụ huynh, người nông dân… phải càng trở nên chặt chẽ hơn nữa.

Vì vậy, việc góp phần ảnh hưởng xã hội càng sâu sắc, càng mật thiết, càng rộng lớn sẽ đánh giá quy mô của TTTT đó.

6. TTTT là nơi liên kết chặt chẽ, rộng rãi với các TTTT khác

Việc mở rộng sự liên kết, hợp tác với các TTTT khác trong khu vực hay quốc tế sẽ góp phần không nhỏ trong việc khẳng định vị thế của TTTT đó. Nói một cách nôm na là “chỉ cần xem anh chơi với ai là có thể đoán được anh đang ở mức nào”. Hơn nữa, xu hướng hợp tác, liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các TTTT là xu hướng tất yếu để khẳng định chúng ta đang tiến lên và không muốn thụt lùi.

Sự liên kết ở đây thể hiện trong vấn đề hợp tác đào tạo, trao đổi sinh viên, chia sẻ tư liệu thông tin, trang thiết bị dạy học; đó cũng có thể là các hoạt động hội thảo, hội nghị trao đổi thành tựu khoa học; cũng có thể hợp tác trong các dự án vì cộng đồng, hướng đến người nghèo, dự án bảo vệ môi trường hay phòng ngừa bệnh tật…

Sự hợp tác đó tạo nên uy tín cho TTTT đó, là cơ hội tốt để vươn lên và tiếp cận với trình độ kĩ thuật cao, phương pháp và phương tiện hiện đại…

Trường ĐH An Giang nhiều năm qua đã chú trọng phát triển đội ngũ trí thức phục vụ nhà trường, thu hút nhân lực có chất lượng, tạo điều kiện để cán bộ đi học nâng cao trình độ, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; bên cạnh đó, trường cũng kêu gọi và tạo điều kiện đổi mới giáo dục, dạy học sáng tạo, gắn liền lý thuyết với thực tiễn; thành lập các trung tâm nghiên cứu, kêu gọi tham gia nghiên cứu khoa học; chủ động hợp tác đào tạo, khuyến khích tổ chức và tham gia hội thảo, hội nghị khoa học; hợp tác phát triển dự án; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, xây dựng nguồn tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu ngày càng đa dạng, trường được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hiện đại… Những thành quả đó có thể khẳng định ĐH An Giang là một TTTT  . Còn vấn đề mức độ và tầm vóc như thế nào cần có sự đối chiếu với các nơi khác để xác định.

Và dĩ nhiên, muốn nâng cao chất lượng và vị thế của mình, chúng ta cần có biện pháp hợp lý để phát huy hơn nữa các tiêu chí nêu trên.

 

Thanh Phong – K. Sư Phạm

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: