Mô thức hình thái của “thần thoại ký kỷ” và màu sắc triết học tôn giáo ngoại lai

Izanami và Izanagi - Hai vị thần được xem là thủy tổ của người Nhật Bản

Mô thức hình thái của “thần thoại ký kỷ” và màu sắc triết học tôn giáo ngoại lai

 Nguyễn Thanh Phong

Thạc sĩ, BM Ngữ văn, Khoa Sư phạm, ĐH An Giang

 Tóm tắt

 Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia lân bang lớn ở Đông Á. Từ thời tiền sử, nền văn hóa dân gian hai nước đã sản sinh ra nhiều thần thoại phản ánh nhận thức về thế giới xung quanh của cư dân bản địa, đồng thời chứa đựng trong đó tư tưởng triết học tôn giáo thời nguyên thủy có giá trị đặc sắc.

Mặc dù có nguồn gốc hình thành khác nhau, nhưng thần thoại Trung Quốc và Nhật Bản có sự tương đồng lớn về nội dung phản ánh và mô thức hình thái thể hiện. Thần thoại Trung Quốc thì trang trọng, hàm súc, thể hiện tinh thần đấu tranh sinh tồn giữa con người với tự nhiên và thần linh; thần thoại Nhật Bản lại đề cao tinh thần thượng võ, mang đậm màu sắc thần trị và thần đạo. Đây cũng là những biểu hiện của tinh thần truyền thống vốn là đặc trưng của hai dân tộc.

Thần thoại Nhật Bản thời nguyên thủy phần lớn đã bị mai một, sáng tác còn sót lại được tập hợp trong các tài liệu cổ xưa nhất của Nhật Bản là Cổ sự kí, Nhật Bản thư kỷ. Đây được xem là những biến thể ở các mức độ khác nhau so với thần thoại nguyên thủy, nghĩa là đã dung hợp vào trong nó những yếu tố văn hóa dị tộc ngoại lai, nhất là những yếu tố tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại.

Thông qua nghiên cứu hình thức cấu thành của thần thoại nguyên thủy và thể biến dị của nó, bài viết chỉ ra con đường tiếp xúc và đặc tính dung hợp của văn hóa Nhật Bản với văn hóa các nước Đông Á trong giai đoạn thần thoại.

 

 Morphological patterns of myths and elements of ancient Chinese religious philosophy in Kojiki and Nihon Shoki

Abstract

ChinaandJapanare neighbors-countries in theEast Asia. In the periods of prehistory, many myths reflected people’s awareness of their surrounding world as well as consisted of valuable ideas of ancient religious philosophy were created in the culture of both countries.

Although derived from different sources, Chinese and Japanese mythology had many similar features in content and form. Almost all original Japanese mythology were lost, and there were some remains compiled in two ancient books Kojiki and Nihon Shoki, which could be regarded as their variations in different degrees, containing alien elements, especially elements of ancient Chinese philosophy.

By examining morphological patterns of original Japanese myths and their variations, I would like to figure out in my paper the way of contacting and acculturation betweenChinaandJapanin the period of mythology.

 

1. Vấn đề bảo tồn và lưu truyền thần thoại cổ đại Trung – Nhật 

 

Vấn đề bảo tồn và lưu truyền thần thoại cổ đại giữa Trung Quốc và Nhật Bản có nhiều điểm không tương đồng nhau. Có hai hình thức gìn giữ và lưu truyền thần thoại Nhật Bản, một là hình thức truyền miệng, thông qua các hoạt động tế lễ, nghi thức tín ngưỡng, tập tục dân gian mà lưu truyền qua các đời; hai là ghi chép trong sách vở, tiêu biểu là các bộ sách Cổ sự ký, Nhật Bản thư kỷ được biên soạn dưới thời Nara (奈良Nại Lương). Tác phẩm thần thoại nhờ đó được gìn giữ và lưu truyền đến nay.

Cổ sự ký (Kojiki古事記) là cuốn sử cổ đại Nhật Bản do Ono Yasumaro biên soạn theo mệnh lệnh của Thiên Hoàng Gemmei (Nguyên Minh) vào năm 711 và hoàn thành vào năm 712. Đây được xem là bộ sách biên niên sử cổ xưa nhất của Nhật Bản. Cổ sự ký ghi chép lại những câu chuyện lưu truyền trong dân gian qua các đời, ngoài một vài câu chuyện khá tương đồng với thần thoại thượng cổ của các nước Đông Á khác, phần còn lại đương nhiên mang đậm màu sắc Nhật Bản. Có thể chia Cổ sự ký làm 2 phần: phần 1 (quyển 1) bao gồm lời tựa, thần thoại và truyền thuyết về nguồn gốc hình thành của nước Nhật Bản và các vị thần; phần 2 (quyển 2 và 3) ghi chép phả hệ và sự tích các Thiên hoàng từ đời thứ nhất (Thiên hoàng Jimmu – Thần Võ) đến đời thứ 33 (Thiên hoàng Suiko Thôi Cổ).

Nhật Bản thư kỷ (Nihon Shoki日本書紀) là bộ chính sử sớm thứ hai còn lưu truyền đến nay, do hoàng thân Toneri đứng đầu nhóm người biên soạn, có sự trợ giúp của Ōno Yasumaro, hoàn thành năm 720. Bộ sách ghi chép về phả hệ các thần và các đời Thiên hoàng của Nhật Bản nối tiếp theo đó. Toàn bộ sách có 3 quyển, viết bằng Hán văn theo lối biên niên, cố định hóa thần thoại, truyền thuyết và những cứ liệu lịch sử tản mác trong dân gian trước đó theo hướng có lợi cho quyền thống trị của Thiên hoàng Nhật Bản.

Giới nghiên cứu thần thoại căn cứ vào hai bộ sách trên đặt ra một hình hệ thần thoại mới là “thần thoại ký kỷ” (記紀神話), tức thần thoại ghi chép quần hệ thần linh qua các đời. Có thể thấy “ký kỷ” là hình thức thể hiện, đồng thời là nội dung chủ yếu nhất của thần thoại Nhật Bản.

Ngoài những ghi chép thần thoại trong Cổ sự kýNhật Bản thư kỷ, một số ghi chép về văn hóa phong tục các vùng đất dưới dạng “phong thổ ký” như Bá Ma quốc phong thổ ký, Thường Lục quốc phong thổ ký, Xuất Vân quốc phong thổ ký, hay những ghi chép tế tự trong cung đình như Diên hỷ thức chúc từ cũng ít nhiều đề cập đến quần hệ thần linh. Các tài liệu trên mô tả quá trình mở trời lập đất, sự hình thành giới thần linh và vạn vật, sản sinh các đảo, mở rộng quốc thổ, sự biến của các vị thần trên thiên giới, đến cả việc thực hiện thần trị, thiết lập những tiền đề cơ bản của xã hội loài người… Trong những tài liệu này, hệ thống thần linh được sắp đặt một cách hệ thống rõ ràng, diễn tiến theo trật tự hợp lý, thể hiện nhận thức của người Nhật Bản nguyên thủy về xã hội tiền sử và quan niệm mỹ học của họ. Vì vậy, quá trình gìn giữ và lưu truyền thần thoại Nhật Bản thể hiện tính tập trung và tính hệ thống cao.

Thần thoại cổ đại Trung Quốc không được tập hợp trong một vài quyển sách cố định nào như Nhật Bản, tất cả được ghi chép tản mác trong Tả truyện, Quốc ngữ, Trang Tử, Hàn Phi Tử, Sở từ, Sơn hải kinh thời Tiên Tần; trong Lã thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử, Phong tục thông nghĩa thời Tần Hán; trong Liệt tử thời Ngụy Tấn Lục Triều và trong nhiều tiểu thuyết chí quái khác. Vấn đề lưu truyền thần thoại Trung Quốc có quan hệ mật thiết đến bối cảnh xã hội Trung Quốc cổ đại: đông tác giả, nhiều học phái, không khí tranh luận sôi nổi… khiến cho cùng một thần thoại nhưng trong các tài liệu khác nhau có những kiến giải khác nhau, nên việc hình thành nhiều dị bản là điều khó tránh khỏi. Cũng chính tiền đề xã hội đó làm hình thành nhiều hình hệ thần thoại khác nhau: hệ thần thoại núi Côn Luân, hệ thần thoại Phục Hy và Nữ Oa, hệ thần thoại Bàn Cổ… Các hình hệ thần thoại này trong quá trình di dân và giao lưu văn hóa đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các dân tộc khác. Thần thoại Trung Quốc dù được ghi chép tản mạn, nhưng đa phần được lưu truyền dưới dạng tiểu thuyết thần quái nên đậm màu sắc văn học, được văn nhân học giả các đời chú ý nhuận sắc. Trong khi thần thoại Nhật Bản trong thời gian dài được xem là “tín sử” (tức xem đó là yếu tố chân thật của lịch sử), trở thành căn cứ lập quốc của Nhật Bản, màu sắc thần thoại cũng vì thế phai nhạt đi.

Thời Minh Trị Duy Tân (Meiji-ishin明治維新), quan niệm về thần đạo và vương đạo vẫn vững chắc và phổ biến rộng rãi. Quan niệm “vạn thế nhất hệ” (muôn đời một dòng họ thống lĩnh) của thần thoại cổ đại giúp duy trì quyền lực của Thiên hoàng. Nhiều triết gia đương thời tiến hành nghiên cứu triết học Nhật Bản và tư tưởng triết học cổ điển Trung Quốc, từ đó đặt nhiều nghi vấn về giá trị “tín sử” của thần thoại trong Cổ sự kýNhật Bản thư kỷ. Các học giả đó nhận định rằng “thần thoại ký kỷ” không phải là những ghi chép lịch sử khách quan, điều này khiến cho giới học thuật, chính trị, quân sự đương thời thật sự kinh ngạc. Cổ sự ký thể hiện rõ xu hướng lịch sử hóa thần thoại, lấy phổ hệ các thần và phổ hệ vương triều chắp nối vào nhau dựa trên trí tưởng tượng phong phú và sự sùng bái Thiên hoàng của người dân.

Nhiều thần thoại trong hình thái “thần thoại ký kỷ” không còn là thần thoại nguyên thủy vốn có. Nhưng do vẫn còn ít nhiều tính chất của thần thoại nguyên thủy, nên bản thân những biến thể đó của thần thoại nguyên thủy cũng chính là thần thoại. “Thần thoại ký kỷ” được các văn nhân chỉnh lý và vẫn có thể bắt gặp những mô thức hình thái cơ bản của thần thoại nguyên thủy trong tín ngưỡng dân gian hoặc tế lễ cung đình. “Thần thoại ký kỷ” không mất đi những đặc trưng cơ bản của thần thoại mà còn trở thành cơ sở tư liệu để nghiên cứu thần thoại cổ đại Nhật Bản.

Từ những gì mà thần thoại cổ điển Trung Quốc và Nhật Bản cung cấp, căn cứ vào nội hàm của khái niệm thần thoại, chúng ta có thể tạm chia thần thoại thành hai bộ phận: một là thần thoại sáng thế, tức thần thoại giải thích sự hình thành của vũ trụ trời đất và vạn vật, bao gồm cả nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình và đất đai lãnh thổ gắn liền với quá trình đấu tranh sáng tạo của tiền nhân; hai là thần thoại duy mĩ, tức hình hệ thần thoại thể hiện lý tưởng nguyên thủy và quan niệm thẩm mĩ của dân tộc đó. Có thể nói, hai hình hệ thần thoại đó là hai mô thức hình thái cơ bản nhất của thần thoại cổ đại Trung – Nhật.

 

2. Hệ thống thần linh trong thần thoại cổ đại Nhật Bản

 

Thần thoại Nhật Bản là những câu chuyện thể hiện cái nhìn mang tính thần cách hóa của người Nhật Bản đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội loài người và nguồn gốc của vương quyền. Thần thoại Nhật Bản ước chừng ra đời từ thời đại Jōmon (縄文時代Thằng Văn thời đại, hay còn gọi là thời kỳ đồ đá mới ở Nhật Bản, tức thời tiền sử được tính từ khoảng năm 14.000 TCN đến năm 400 TCN). Khi chữ Hán truyền vào Nhật Bản, các thị tộc đã dùng chữ Hán để chép lại thần thoại truyền thuyết, mãi đến thế kỉ VIII, hệ thống chính quyền được thiết lập ổn định, Thiên hoàng mới hạ lệnh cho biên soạn Cổ sự kýNhật Bản thư kỷ để thống hợp thần thoại truyền thuyết của các thị tộc. Thần thoại Nhật Bản phản ánh hoàn cảnh cuộc sống, vũ trụ quan, sinh tử quan, tôn giáo quan… của người Nhật Bản đương thời. Đa số học giả cho rằng, thần thoại Nhật Bản tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo của Trung Quốc cùng với Phật giáo Ấn Độ; giai cấp thống trị đã đem những hệ thống tư tưởng đó dung hòa vào trong thần thoại Nhật Bản để củng cố quyền lực chính trị của mình.

Việc tập hợp và chỉnh lý thần thoại lưu truyền trong dân gian khiến cho thần thoại Nhật Bản trong hai bộ sách Cổ sự kýNhật Bản thư kỷ có tính hệ thống cao và được liên kết chặt chẽ. Quyển Thần đại của Cổ sự ký chép rằng, tiếp theo sau quá trình khai mở trời đất là sự đản sinh của chư thần. Đầu tiên trên thiên đường hóa sinh 3 vị thần là Amenominakanushi (天之御中主神), Takamimusubi (高御產巢日神) và Kamimusubi (神產巢日神), tiếp theo đó, trong không trung xuất hiện thêm 2 vị thần nữa là Umashiashikabihikoji (美葦芽彥知神) và Amenotokotachi (天之常立神). Hai vị thần này cùng với 3 vị thần trên tạo thành nhóm 5 vị thần độc thân Kotoamatsukami (別天津神), trong đó Amenominakanushi là thần trung ương, chủ tể của chư thần và vạn vật. Các vị thần sáng thế này hầu như ít xuất hiện trong các câu chuyện trở về sau.

Tiếp nối 5 vị thần trên là nhóm thần Kamiyonanayo (神世七代) gồm 7 đời thần nối tiếp nhau. Đời thứ nhất là thần Kuninotokotachi (国之常立神), xuất hiện khi trời đất hình thành, cai quản 4 phương mặt đất; đời thứ hai là thần Toyokumono (豊雲野神), xuất hiện khi trời – đất – biển chưa có sự phân biệt rõ rệt, đại diện cho vũng lầy; đời thứ ba là hai vị thần nam nữ Uhijini (宇比邇神) và Suhijini (須比智邇神), cả hai đại diện cho bùn đất; đời thứ tư cũng là hai vị thần một nam một nữ Tsunuguhi (角杙神) và Ikuguhi (活杙神), đại diện cho các loài cây nảy mầm cắm rễ sâu vào lòng đất; đời thứ năm lại là hai vị thần nam nữ Ōtonoji (意富斗能地神) và Ōtonobe (大斗乃弁神), đại diện cho nam tính và nữ tính, hai vị thần này bắt đầu có hình dáng con người; đời thứ sáu cũng là hai vị thần một nam một nữ Omodaru (淤母陀琉神) và Ayakashikone (阿夜訶志古泥神), nam thần đại diện cho diện mạo xinh đẹp tuấn tú, nữ thần đại diện cho ngoại hình xấu xí đáng sợ, nam nữ bắt đầu biết cầu hôn và ca ngợi hình dáng của nhau; đời thứ bảy cũng xuất hiện hai vị thần nam nữ là Izanagi (伊邪那岐神) và Izanami (伊邪那美神), đại diện cho sự phối hợp nam nữ, sáng tạo ra thế giới, quốc thổ và con người.

Hai vị thần đời thứ 7 của thiên quốc là Izanagi và Izanami giáng xuống một hòn đảo của Nhật Bản, sau đó trồng một cây cột lớn để chống trời, xây dựng cung điện rộng lớn. Hai vị thần này vốn là huynh muội của nhau. Trong cảnh hồng hoang sơ khai đó, họ đã kết thành vợ chồng, sinh ra nhiều con cái, sáng tạo nên quốc thổ và tinh thần Nhật Bản. Họ được xem là thủy tổ trực tiếp sáng tạo nên lãnh thổ và tổ tiên của người Nhật Bản.

 

3. Mô thức hình thái của “thần thoại ký kỷ” và màu sắc triết học tôn giáo ngoại lai

 

“Thần thoại ký kỷ” phân chia hệ thống thần linh thành hai bộ phận là thiên thần và quốc thần, mọi việc sáng tạo và quản lí thế gian vạn vật (gồm cả quốc thần và nhân loại) đều do thiên thần phụ trách. Căn cứ những ghi chép trong hai phần “ký” và “kỷ” của quyển Thần đại trong bộ sách Cổ sự ký, Nhật Bản ra đời dựa theo sự hình thành đặc biệt của thiên thần trên thượng giới. Sau đó thiên thần giáng thế tạo nên Đại Bát Châu, tức lãnh thổ Nhật Bản ngày nay.

Vị thần Amaterasu-ōmikami (天照大御神) là tổ sư của Thần đạo Nhật Bản và là vị thần cai quản cõi Trời, trên cõi đó hiện cư trú 8 triệu thần linh. Thiên Tôn Giáng Thế là vị thần khai quốc của Nhật Bản, vốn là con cháu của thần Amaterasu-ōmikami, nhận mệnh lệnh của tổ sư từ thiên giới đi xuống trần gian thực thi thần trị. Vị “Thiên tôn” này được xem là tổ tiên của Thiên hoàng Nhật Bản. Có thể thấy rằng, thiên thần trong phổ hệ “thần thoại ký kỷ” lấy thượng giới làm không gian hoạt động sinh tồn, do đó có người gọi “thần thoại ký kỷ” là “thần thoại Cao Thiên Nguyên hệ” (tức hệ thần thoại thiên giới).

Nhưng nếu quan sát toàn diện mô thức hình thái của “thần thoại ký kỷ”, thiên giới chỉ là một trong những không gian sinh tồn của thiên thần, ngoài ra họ còn sinh tồn trong một khu vực rộng lớn hơn. Mặt đất do thiên thần tạo dựng nên, là không gian sinh tồn của quốc thần. Vạn vật trên mặt đất là do Thiên Tôn Giáng Lâm quản lý, dưới mặt đất còn có một tầng nữa là hoàng tuyền (suối vàng). “Thần thoại ký kỷ” có đề cập đến vị nữ thần sản sinh ra đất nước Nhật Bản là Izanami, lúc sinh đứa con cuối cùng là thần lửa Kagutsuchi đã bị lửa nóng đốt đến chết. Thần Izanagi bèn tìm xuống suối vàng thăm, nhìn thấy cảnh tượng thê thảm của vợ mình, Izanagi vô cùng hoảng sợ. Có thể thấy, suối vàng là nơi ô trọc hung ác, nhuộm một màu đen tối, là chốn cư trú của đám hung thần.

Như vậy, hệ thống thần linh trong “thần thoại ký kỷ” sinh tồn trong ba tầng bậc khác nhau của không gian vũ trụ: thiên thần sống ở thiên giới, một bộ phận thiên thần khác và quốc thần sống trên mặt đất, còn các hung thần sinh sống ở dưới mặt đất. Đây là mô thức hình thái cơ bản của “thần thoại ký kỷ” Nhật Bản.

Sự hình thành mô thức hình thái của thần thoại cổ đại quan hệ mật thiết với hoàn cảnh tự nhiên và cuộc sống của cư dân nguyên thủy. Dân tộc sống ở vùng đất nhiều núi non sẽ sáng tạo ra những thần thoại có mô thức là núi cao, dân tộc sinh sống gần biển sẽ sáng tạo ra thần thoại có mô thức là biển cả. Hệ thống thần linh cư trú trên đỉnh Olympia trong thần thoại Hy Lạp, hệ thống thần lửa cư trú trong các ngọn núi lửa ở một số quốc gia biển đảo ven Thái Bình Dương… đều là những trường hợp tương tự. Do đó, hoàn toàn có thể căn cứ vào mô thức hình thái của thần thoại để truy tìm về hoàn cảnh cuộc sống của con người thời nguyên thủy.

Một số học giả cho rằng “thần thoại ký kỷ” thuộc hệ thần thoại nguồn gốc thiên giới, có người khẳng định mô thức hình thái này liên quan nhất định với hệ thần thoại núi Côn Luân của Trung Quốc. Hệ thần thoại núi Côn Luân ước chừng ra đời thời Tiên Tần, được nhắc đến trong nhiều thư tịch cổ như sách Thượng thư (thiên Vũ Cống), Nhĩ nhã (thiên Thích thủy), Sơn hải kinh (thiên Tây sơn kinh, thiên Hải nội tây kinh). Núi Côn Luân là nơi có địa thế hùng vĩ, là chốn cư trú của bách thần, nơi định đô của thiên đế. Những ghi chép về ngọn núi thiêng và các vị thần ở đây tạo nên hệ thần thoại núi Côn Luân của Trung Quốc. Về sau, trong Hán Vũ Đế nội truyện, Hán Vũ cố sự lại có thêm những nội dung về Tây Vương Mẫu, khiến cho hệ thần thoại này thêm phong phú lạ thường. Thế nhưng, khung cảnh thiên giới được miêu tả trong thần thoại núi Côn Luân và trong “thần thoại ký kỷ” không giống nhau, đồng nghĩa với việc mô thức thần thoại của hai bên là khác nhau.

Nhật Bản là quốc gia nhiều núi, bốn mặt giáp biển, cư dân nguyên thủy từ sớm đã hiểu biết nhiều về núi non biển cả. Nên trong cuộc sống của người Nhật Bản, biển và trời đặc biệt được sùng kính. Thế nhưng, những ghi chép về biển trong “thần thoại ký kỷ” không nhiều, mô thức ba tầng của vũ trụ gồm thiên giới, mặt đất, suối vàng về cơ bản đã thoát ly hoàn cảnh cuộc sống của cư dân nguyên thủy, nghĩa là chịu sự ảnh hưởng của quan niệm triết học tôn giáo ngoại lai. Mô thức ba tầng vũ trụ này và ý nghĩa nội hàm của nó rõ ràng tiếp thu ảnh hưởng từ quan niệm Saman giáo của người Thông Cổ Tư, triết học cổ điển Trung Quốc, và những kinh điển Phật giáo từ Ấn Độ thông qua Trung Quốc, Triều Tiên truyền vào Nhật Bản.

Không gian vũ trụ được chia thành 3 tầng; ở trên là thiên giới, nơi cư trú của thần linh; ở giữa là nhân gian, nơi cư ngụ của vạn vật; ở dưới là địa ngục, nơi cư trú của ác ma. Quan niệm này ở khu vực Đông Á và Đông Bắc Á từng là vũ trụ quan của Saman giáo. Vấn đề vũ trụ tam giới trong Saman giáo và ba cõi trong “thần thoại ký kỷ” của Nhật Bản hầu như thống nhất nhau. Có khả năng khi thần thoại Nhật Bản hình thành thì cũng là lúc vũ trụ quan của các tôn giáo nguyên thủy Đông Bắc Á truyền vào Nhật Bản, khiến thần thoại Nhật Bản càng đậm màu sắc đa nguyên dung hợp hơn.

Nhưng thiên giới trong vũ trụ quan của Saman giáo không hoàn toàn đồng nhất với thiên giới trong “thần thoại ký kỷ”. Thiên giới trong thần thoại đầy màu sắc tình cảm, mang nhiều biểu hiện của thất tình lục dục. Thiên thần trên thiên giới đội ngũ lớn mạnh, tài năng xuất chúng, ngoài truy cầu ăn uống, sắc đẹp, họ còn có những tình cảm hỉ nộ ai lạc của con người. Sinh linh quần cư ở thiên giới không phải là linh quang siêu tự nhiên, mà là loài vật hữu tình giống như người. Cấu tứ về “Trời” của “thần thoại ký kỷ”có thể chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Khoảng thế kỉ VI, Phật giáo Ấn Độ đi qua Trung Quốc, Triều Tiên và truyền vào Nhật Bản, còn “thần thoại ký kỷ” được cố định hóa trong sách sau đó khoảng 200 năm. Khoảng thời gian hai thế kỉ đó đủ để tư tưởng tôn giáo thẩm thấu vào thần thoại nguyên thủy, lấy quan niệm “thiên – nhân” vô cùng trừu tượng cụ thể hóa thành hệ thống thần linh sống động, làm cho quan niệm về thiên giới của thần thoại mới càng thêm phong phú.

Một vấn đề khác không kém phần quan trọng khi nghiên cứu “thần thoại ký kỷ” là tìm ra cơ sở triết học cho sự cấu thành mô thức hình thái của “thần thoại ký kỷ”, và quan niệm về sự sáng tạo vũ trụ trời đất. Vũ trụ quan được thể hiện trong Nhật Bản thư kỷ Cổ sự ký là khá tương đồng nhau, vận dụng học thuyết âm dương phân hợp để giải thích khởi nguyên của trời đất và sự hình thành thần linh. Quan điểm này có thể tiếp thu từ triết học cổ điển Trung Quốc, mà đại diện tiêu biểu là Chu dịch, Lão Tử, Trang TửHoài Nam Tử. Do đó, sự giải thích về nguồn gốc trời đất trong “thần thoại ký kỷ” đã tiếp thu ảnh hưởng của lý luận triết học cổ điển Trung Quốc, ngay cả cách gọi tên các vị thiên thần cũng thể hiện rõ điều đó. Trong Nhật Bản thư kỷ, hầu hết tên gọi các vị thiên thần đều thêm vào chữ “Tôn” ở cuối, ví dụ như: Quốc Thường Lập Tôn, Quốc Hiệp Chủy Tôn… cách gọi này rõ ràng tiếp thu từ các tên gọi Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn, Đạo Đức Thiên Tôn… trong Đạo giáo của Trung Quốc.

Từ nguồn tư liệu văn hóa của các dân tộc, chúng ta có thể thấy mối quan hệ khăng khít của “thần thoại ký kỷ” Nhật Bản với triết học tôn giáo ngoại lai, điều này minh chứng cho quá trình giao lưu văn hóa vốn diễn ra hết sức tự nhiên của các nước Đông Á trước đây.

 

 4. Vấn đề giao lưu tiếp biến của thần thoại sáng thế Trung – Nhật 

 

Có thể chia thần thoại sáng thế của các dân tộc trên thế giới thành 2 loại: thần thoại thần độc thân và thần thoại thần ngẫu sinh. Thần thoại thần độc thân là thần thoại mà thế gian vạn vật, bao gồm cả thần linh và con người, đều do một vị thần sáng tạo ra. Đây là quan niệm cổ xưa nhất, nguyên thủy nhất, có khả năng khi đó con người chưa thận thức được ý nghĩa duy trì nòi giống từ việc kết hợp nam nữ. Còn thần thoại thần ngẫu sinh là thần thoại mà thế gian và vạn vật do hai vị thần nam nữ phối hợp nhau sáng tạo ra. Lúc này, con người nhận thức được khả năng sinh sản của chính mình mà không phó thác vấn đề tạo dựng giống nòi lên vai thần linh, hình thành quan niệm xây dựng gia đình, một kiểu quan hệ xã hội loài người. Tất cả các dân tộc cổ xưa đều đã trải qua hai giai đoạn thần thoại này, thần thoại Hy Lạp và Trung Quốc (Hán tộc) là những ví dụ điển hình. Các dân tộc hình thành trễ hơn thường khiếm khuyết loại thần thoại thứ nhất, chỉ có loại thần thoại thứ hai. Thần thoại Nhật Bản cũng có các vị thần độc thân như nhóm thiên thần Kotoamatsukami và 12 vị thần khác trong Thần đại, ngoài số đó ra, toàn bộ thần thoại còn lại hầu như đều mang hình thức thần thoại thần ngẫu sinh.

Thần thoại sáng thế Trung Quốc lúc đầu cũng đề cập đến các vị thần độc thân sáng tạo ra vũ trụ trời đất và con người; đó là Bàn Cổ một mình khai mở trời đất, khi kiệt sức chết đi thân thể hóa sinh tự nhiên vạn vật; đó là Nữ Oa 1 vạn 8 ngàn năm sau khi hình thành trời đất đã dùng bùn đất kết hợp thổi khí âm dương mà sáng tạo nên loài người. Thần thoại sáng thế của người Hán Trung Quốc đồng thời cũng đề cập đến sự phối hợp giữa nam thần và nữ thần để sáng tạo nên loài người; đó là thần thoại Phục Hy và Nữ Oa. Nữ Oa từ chỗ là vị thần vô tính nguyên thủy được chuyển biến thành nữ thần, cùng Phục Hy kết thành phu phụ, con người nhờ đó mà được sản sinh. Nữ Oa trở thành người mẹ vĩ đại của loài người, cùng với Phục Hy được tôn xưng là thủy tổ của người Hán. Hiện tượng này còn được lặp lại trong thần thoại sáng thế của các dân tộc thiểu số Trung Quốc: Miêu, Dao, Nùng…

Hiện tượng nhị thần hợp hôn trong thần thoại chứng minh tổ tiên của người Nhật Bản từng thực hiện chế độ hôn nhân cùng huyết thống. Ba nhân tố cơ bản cấu thành hình thái thần thoại nhị thần hợp hôn của Nhật Bản là cây cột chống trời (đạo cụ thực hành hợp hôn), hành động đi vòng quanh cây cột (hình thức thực hành hợp hôn), hướng đi nam tả nữ hữu (phương hướng thực hành hợp hôn). Ba nhân tố này có khả năng chịu ảnh hưởng từ thần thoại Phục Hy (伏羲) và Nữ Oa (女媧) của một số dân tộc ở Trung Quốc.

Hình thái biểu hiện nhị thần hợp hôn trong “thần thoại ký kỷ” của Nhật Bản tương thông với thần thoại thần ngẫu sinh của một số dân tộc ở Trung Quốc. Có khả năng đó là kết quả của hiện tượng dung hợp giữa người Hán và người Nam Dương di cư đến sinh sống tại các hòn đảo của Nhật Bản với cư dân bản địa Nhật Bản.

Theo nghiên cứu của giới khảo cổ Nhật Bản, từ thế kỉ 3 trước Công nguyên, trên đất Nhật Bản đã có người di cư từ Trung Quốc đến. Căn cứ những ghi chép trong Nhật Bản thư kỷ, năm Ứng Thần Thiên hoàng (應神天皇) thứ 14 (khoảng thế kỉ II), cháu 5 đời của Tần Thủy Hoàng là Dung Thông Vương 融通 (tức Cung Nguyệt Quân 弓月君) dẫn “người Tần” di cư đến; lại năm Ứng Thần Thiên hoàng thứ 20, cháu 4 đời của Hán Linh Đế (漢靈帝) là Lưu A Tri (劉阿知) (tức A Tri Sử Chủ 阿知使主) tiếp tục dẫn người của 17 huyện di cư đến. Sử sách Nhật Bản phân loại người Hán di cư vào Nhật Bản làm hai nhóm: nhóm di cư từ thế kỷ III về trước gọi là nhóm di cư Tần Hán, nhóm di cư từ thế kỷ III trở về sau gọi là người Hán mới. Kĩ thuật nuôi tằm dệt vải của người Hán di cư mang theo rất được người Nhật hoan nghênh. Đương thời, không ít quan chức cao cấp của Nhật Bản do hậu duệ của người di cư từ Trung Quốc sang đảm nhiệm. Dưới hoàn cảnh lịch sử đó, văn hóa Trung Quốc dần dần ảnh hướng đến Nhật Bản.

Trong quần hệ thần thoại sáng thế cổ đại Nhật Bản còn có một nhóm thần thoại giải thích quá trình tạo dựng địa hình sông núi và sáng tạo ngũ cốc của Nhật Bản. Khảo sát nhóm thần thoại này trong sự đối chiếu với thần thoại Bàn Cổ mở trời lập đất của Trung Quốc, ta có thể nhận thấy nhiều điểm tương đồng giữa trí tưởng tượng phong phú của cư dân bản địa Nhật Bản và cư dân Trung Quốc nguyên thủy.

Theo ghi chép của quyển Thần đại trong sách Cổ sự ký, địa hình sông núi của Nhật Bản do thi thể của thần Kagutsuchi (火之迦具土神), vốn là con của Izanagi và Izanami, phân hóa mà thành. Kagutsuchi vốn là thần lửa, lúc thần được sinh ra, hơi nóng của lửa đã đốt chết người mẹ Izanami, vì vậy bị cha là Izanagi dùng kiếm giết chết. Sau khi chết, thân thể thần Kagutsuchi đứt thành 8 phần tương ứng với 8 vị thần: đầu là thần Masakayamatsumi (tạo nên những chỗ núi non hiểm trở), ngực là thần Odoyamatsumi (tạo thành vùng trung tâm của núi), bụng là thần Okuyamatsumi (tạo thành chỗ sâu của núi), phần dưới là thần Kurayamatsumi (tạo thành hàng loạt khe cốc), tay trái là thần Shigiyamatsumi (tạo thành các loại cây cỏ), tay phải là thần Hayamatsumi (tạo thành chân núi), chân trái là thần Harayamatsumi (tạo thành dải đất bằng quanh núi), chân phải là thần Toyamatsumi (tạo thành phạm vi địa hình quanh núi).

Thần thoại trên rõ ràng có nhiều điểm tương đồng về phương diện kết cấu và thủ pháp biểu hiện với thần thoại Bàn Cổ của Trung Quốc. Bàn Cổ sau khi khai mở trời đất vì kiệt sức mà chết, hơi thở biến thành mây gió, âm thanh biến sấm sét, mắt trái thành mặt trời, mắt phải thành mặt trăng, tứ chi ngũ thể biến thành 5 ngọn núi, máu biến thành sông suối, da thịt biến thành đất đai, gân mạch biến thành địa lý, lông tóc biến thành cây cỏ, răng xương biến thành đá ngọc, mồ hôi thành mưa rơi xuống…

Không chỉ vậy, khi giải thích nguồn gốc lương thực ngũ cốc, người Nhật Bản tiếp tục dùng hình thức thi thể phân hóa tạo thành. Quyển Thần đại trong bộ sách Cổ sự ký có viết về nguồn gốc hình thành ngũ cốc như sau: “Thần Susanoo (速须佐之男命) gặp thần Uke Mochi (大气津比卖神) xin lương thực, thần Uke Mochi bèn lấy từ trong lỗ mũi, miệng và hậu môn ra đủ loại lương thực, sau đó mang tặng thần Susanoo. Thần Susanoo trước tình cảnh đó nổi giận, cho rằng thần Uke Mochi khinh thường mình nên cố ý lấy những thứ dơ bẩn cho mình ăn, bèn ra tay giết chết thần Uke Mochi. Thần Uke Mochi sau khi chết, trên xác mọc lên nhiều loài vật và cây cối: đầu sản sinh ra tằm, hai mắt sinh ra giống lúa, hai tai sinh nhiều thóc, lỗ mũi sinh ra nhiều đậu nhỏ, phần dưới sinh ra lúa mạch và hậu môn sinh ra nhiều đậu lớn. Sau đó, thần Kamimusubi (神產巢日御祖命) mới cho người mang những giống đó đi trồng”. Vai trò của vị thần ngũ cốc Uke Mochi trong thần thoại Nhật Bản khá giống với thần Hậu Tắc (后稷) được ghi chép trong sách Sơn hải kinh của Trung Quốc. Thần Hậu Tắc sau khi chết, thi thể cũng hóa sinh ra đủ loại lương thực ngũ cốc.

 

 5. Tính đa nguyên của thần thoại duy mĩ Nhật Bản

 

 Người nguyên thủy khi bắt đầu nhận thức thế giới đã bắt đầu hoạt động thẩm mĩ. Vẽ hình lên cơ thể, cắt tỉa cây cối, làm đồ trang sức, âm nhạc vũ đạo, tế lễ thần thánh tổ tiên… đều là những hoạt động truy cầu cái đẹp của nhân loại. Những hình thái mang tính quan niệm này biểu hiện trong thần thoại, làm sản sinh thần thoại duy mĩ. Thần thoại duy mĩ không phải vì để nhận thức thế giới tự nhiên mà được sáng tác ra như thần thoại sáng thế, mà nó được sáng tác dựa trên nhu cầu nhận thức cái đẹp của con người. Nên đặc trưng cơ bản của loại thần thoại này là thổi vào hình tượng nghệ thuật của thần thoại những tín niệm tâm linh về cái đẹp. Do trạng thái tâm lý khác nhau, các dân tộc có thái độ cảm thụ cái đẹp cũng khác nhau. Trong tâm lý truyền thống của người Nhật Bản, quỷ được xem là sự thể hiện của tinh thần dũng võ; còn trong tâm lý truyền thống của người Trung Quốc, quỷ lại tượng trưng cho cái xấu xa độc ác đáng sợ hãi. Đặc tính của dân tộc thể hiện qua thần thoại duy mĩ đôi khi còn rõ ràng hơn thể hiện qua thần thoại sáng thế.

Nội dung chủ yếu của thần thoại duy mĩ Nhật Bản là tôn sùng tinh thần dũng võ, yêu thích biển cả, dùng vật thực để trấn hung trừ tà, truy cầu cát tường… Nhiều câu chuyện thần thoại thể hiện quan niệm về cái đẹp của dân tộc Nhật Bản, ca tụng sức mạnh và trí tuệ con người. Những thần thoại thể hiện tâm lý mĩ cảm thông qua diệt trừ bạo ngược này dễ dàng tìm thấy trong tiểu thuyết chí quái Trung Quốc từ thời Tần Hán đến Lục Triều. Ca tụng các bậc anh hùng vì dân trừ hại tức là ca tụng hình tượng mẫu của cái đẹp mà tất cả các dân tộc đang truy cầu. Về mặt nội dung và phương pháp biểu hiện, thần thoại duy mĩ cổ đại Trung Nhật có nhiều điểm tương đồng.

 

 Tài liệu tham khảo:

 1. Dương Thiệu Thang, Trung Tây Tiến (chủ biên), Trung Nhật văn hóa giao lưu sử đại hệ (quyển 6), Triết Giang Nhân dân xuất bản xã, Hàng Châu, 1966.

2. Mạng bách khoa toàn thư Wikipedia.

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: