Con rồng trong truyền thuyết Trung Quốc và Việt Nam

Rồng Việt Nam thời Lý. Nguồn: http://tulieu.violet.vn

1. Rồng là loài vật được hình thành từ trí tưởng tượng phong phú của cư dân vùng nông nghiệp lúa nước phía nam sông Dương Tử (nay là sông Trường Giang, Trung Quốc). Với đặc trưng nửa động vật nửa thần linh, con rồng chính là kết quả của sự phối hợp khéo léo giữa tín ngưỡng vật tổ Tô tem và quan niệm vạn vật hữu linh nguyên thủy.

Rồng được xem là vật tổ của người Bách Việt, là vị thần bảo hộ trong cuộc mưu sinh gắn liền với sông nước, đồng thời cũng là căn cứ để lý giải các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí (mưa gió, bão tố, lốc xoáy, mạch nước ngầm…) mà với nhận thức còn hạn hẹp của mình, cư dân nguyên thủy khó thể nào lý giải hết được. Do đó, hình ảnh con rồng không chỉ hàm chứa ý nghĩa triết học mà còn có giá trị tâm linh sâu sắc. Hình ảnh đó không chỉ được lưu lại trong các phong tục tập quán cổ xưa, các tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy, các hiện vật hay công trình kiến trúc, hội họa được lưu truyền qua các đời; mà sống động hơn, rồng còn là đối tượng được đề cập trong truyền thuyết của nhiều nước Đông Nam Á. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến hình tượng con rồng trong truyền thuyết Trung Quốc và Việt Nam. Trên cơ sở đối chiếu các lớp văn hóa bao phủ xung quanh nó, bài viết đưa ra một vài kết luận về quá trình giao lưu văn hóa của hai quốc gia trong lịch sử.

2. Người Trung Quốc luôn tự hào rằng mình là “truyền nhân của rồng”. Rồng và phụng là hai con vật linh tượng trưng cho giống đực và giống cái trong văn hóa của dân tộc Hoa Hạ cổ đại. Tại Trung Quốc và các nước lân cận khác, rồng là một trong tứ linh, trong sách Lễ ký (thiên Lễ vận) có chép: “Long, lân, quy, phụng vị chi tứ linh” (Long, lân, quy, phụng gọi là tứ linh). Tứ linh trong thuật phong thủy Trung Quốc có chút khác biệt, lân được thay bằng hổ: “Tiền chu tước, hậu huyền vũ, tả thanh long, hữu bạch hổ” (Phía trước là phượng đỏ, sau lưng là rùa đen, bên trái là rồng xanh và bên phải là hổ trắng). Trong kinh Dịch, rồng được dùng để giải thích cho quẻ càn trong bát quái, cũng là quẻ đầu tiên của kinh Dịch. Còn trong 12 con giáp, rồng là con vật duy nhất không có thật.

Rồng luôn hiện hữu trong các truyền thuyết, các cổ vật, tranh vẽ, lời bói trên mai rùa xương thú khai quật được, và trong các thư tịch cổ như Chu Dịch, Sơn hải kinh, Tả truyệnThuyết văn giải tự của Hứa Thận giảng về rồng (long) như sau: “Lân trùng chi trưởng, năng u năng minh, năng tế năng cự, năng đoản năng trường, xuân phân nhi đăng thiên, thu phân nhi tiềm uyên” (Rồng đứng đầu các loài có vảy, có thể ẩn hiện, có thể biến hóa nhỏ hoặc lớn, dài hoặc ngắn; tiết xuân phân thì bay lên trời, tiết thu phân thì lặn sâu đáy vực). Các học giả Trung Quốc, khi nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của rồng, đã đề xuất nhiều giả thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng rồng bắt nguồn từ rắn, mãng xà; có thuyết lại nói rồng có nguồn gốc từ cá sấu, thằn lằn; nhiều thuyết khác cũng chỉ ra nhiều loài vật khác nhau như: cá, ngựa, hà mã, heo, trâu bò, tằm, khủng long, thậm chí cả ếch… Đa số các nhà nghiên cứu thống nhất với nhau rằng, hình dáng của rồng được hình thành từ sự tập hợp các bộ phận của 9 loài động vật sống trên cạn, dưới nước và trên không trung là sừng hươu, mắt tôm, miệng trâu, mũi chó, bờm sư tử, mình rắn, vảy cá, móng chim ưng, râu cá chép.

Nhiều người Trung Quốc cho rằng, hình tượng con rồng nguyên thủy ra đời từ thời vua Vũ trị thủy (khoảng 2205 TCN – 2198 TCN). Cùng với việc khẳng định khả năng khống chế và làm chủ nước lụt của mình, người dân cũng hy vọng vĩnh viễn thoát khỏi sự uy hiếp của hồng thủy. Con rồng là hóa thân của những khát khao ước vọng đó. Truyền thuyết vua Vũ trị thủy đề cập đến 3 loại pháp bảo dùng để trị thủy là cuốn hà đồ do Phục Hy ban tặng, con hắc long trên trời dùng đuôi để đào đất mở đường sông thoát nước, con rùa lớn chở đất đá lấp những nơi địa hình ẩm thấp. Truyền thuyết kể về những trở ngại trong quá trình trị thủy của vua Vũ, một trong những trở ngại là con rồng đen to lớn, mang bản tính hung hăng hoang dã, mỗi lần rồng trở mình là phá hủy các đoạn đê do Vũ và rùa thần đắp. Thế là nhờ sự giúp sức của rùa thần, Vũ thu phục được rồng đen, biến rồng đen trở thành trợ thủ đắc lực cho mình trong quá trình trị thủy.

Ở Trung Quốc, hai truyền thuyết Hoàng Đế về trời và Hoàng Đế đánh Suy Vưu cũng khá phổ biến trong dân gian. Thiên Phong thiện trong Sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng, Hoàng Đế vốn là thủ lĩnh của người Hoa Hạ ở lưu vực sông Hoàng Hà. Vì luôn bị bộ tộc của Suy Vưu xâm chiếm quấy nhiễu, Hoàng Đế đã liên minh với các bộ tộc khác, được rồng và mãnh thú giúp sức, nên cuối cùng đánh bại Suy Vưu. Sau đó, Hoàng Đế cùng với dân chúng khai khoáng và rèn nên một cái đỉnh đồng lớn đặt dưới núi Kinh Sơn. Khi hoàn thành, có một con rồng bay xuống đón Hoàng Đế về trời, sau đó ông trở thành Thiên Đế cai quản cõi trời.

Tứ Hải Long Vương là bốn nhân vật xuất hiện từ rất sớm trong truyền thuyết Trung Quốc. Các truyện này lưu truyền trong dân gian qua nhiều đời và được ghi chép đầy đủ nhất trong hai bộ tiểu thuyết nổi tiếng thời Minh Thanh là Phong thần bảng của Hứa Trọng Lâm và Tây du ký của Ngô Thừa Ân. Tứ Hải Long Vương là bốn con rồng thần qua nhiều kiếp tu hành được Ngọc Hoàng giao cho nhiệm vụ cai quản các vùng biển khác nhau. Đông Hải Long Vương Ngao Quảng mặt xanh râu đỏ cai quản vùng biển phía đông, Nam Hải Long Vương Ngao Khâm râu tóc vàng cam cai quản vùng biển phía nam, Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận râu tóc màu trắng cai quản vùng biển phía Tây và Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận râu tóc toàn đen cai quản vùng biển phía Bắc. Tứ Hải Long Vương làm chủ tể của biển cả, có quyền hành tối cao có thể sai khiến các loài thủy tộc khác. Nội bộ họ cũng có đủ mối quan hệ quyến thuộc với nhau và với Long Vương ở các sông suối ao hồ khác. Trong truyền thuyết, vai trò của Long Vương được nhắc đến ở cả hai phương diện: tích cực là giáng mưa tạo phước cho bá tánh, và tiêu cực là làm nên thiên tai lụt lội gây hại cho bá tánh. Họ cũng mang nhiều mặt tính cách giống con người như: phò thiện trừ ác, ỷ mạnh hiếp yếu, hung hăng ngang ngược, ăn miếng trả miếng…

Trong một số truyền thuyết và truyện dã sử ở các địa phương, con rồng cũng thường xuyên được nhắc đến. Truyền thuyết về Ngọc Long kể chuyện con rồng có tình nghĩa, vì chứng kiến cảnh hạn hán đói khổ điêu linh của nhân dân, lòng bất nhẫn mà vận thần thông cho mưa xuống, chấp nhận vi phạm thiên điều. Ngọc Đế biết được nổi giận giam vào ngục, hạ lệnh khi nào cây đậu bằng vàng nở hoa mới được thả ra. Nhân dân cảm kích trước nghĩa cử của Ngọc Long nên đã tề tựu lại đốt bỏng ngô nở ra như đậu vàng nở hoa, khiến Thái Bạch Kim Tinh chịu trách nhiệm cai quản nhìn lầm mà tha tội cho Ngọc Long. Từ đó, tập tục làm bỏng ngô ăn mừng vào mồng 2 tháng 2 âm lịch hằng năm được lưu truyền về sau. Theo dã sử, Hán Cao Tổ Lưu Bang ra đời từ giấc mơ của mẹ ông thấy mình giao phối với con rồng đen rồi mang thai mà sinh ra ông. Ngoài ra, ở vô số địa danh gắn liền với chữ “long” như: Hắc Long Giang, Long Đàm, Long Đầu, hồ Ngọa Long, sông Thanh Long, vịnh Thanh Long, cảng Bạch Long… đều có vô số truyền thuyết gắn liền để giải thích nguồn gốc hình thành của địa danh đó.

3. Không thua kém gì người Trung Quốc, người Việt Nam ta tự nhận mình là “Con rồng cháu tiên”, tức là hậu duệ của các đấng thần tiên thời thượng cổ. Trong truyền thuyết sáng thế Hồng Bàng thị truyện được chép trong Lĩnh Nam chích quái do sử quan Võ Quỳnh biên soạn vào thế kỷ 15, thủy tổ của người Việt Nam là rồng thần Lạc Long Quân và chim tiên (chim lạc) Âu Cơ. Họ vừa là thần linh, vừa là người, lại mang dấu vết của động vật. Đặc điểm này rõ ràng minh chứng cho tính chất dung hợp Thần – Người – Vật trong tư tưởng của người Việt xưa, ở đó còn hiển hiện cả tín ngưỡng vật tổ Tô tem và quan niệm vạn vật hữu linh nguyên thủy. Hồng Bàng thị truyện chép rằng tổ tiên của Lạc Long Quân là Viêm Đế (vua xứ nóng) họ Thần Nông. Cháu ba đời của Thần Nông là Đế Minh lúc đi tuần thú về phía nam núi Ngũ Lĩnh (nay tỉnh Hồ Nam) đã lấy con gái của Vụ Tiên làm vợ, sinh ra một con trai là Lộc Tục. Sau đó, Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương trấn thủ phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Nước Xích Quỷ phía bắc giáp hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp Nam Hải. Kinh Dương Vương lấy Long Nữ là con gái của Động Đình Quân sinh ra một con trai là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Sùng Lãm lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm con trai, tức tổ tiên của người Bách Việt. Sau đó, Lạc Long Quân và Âu Cơ mỗi người dẫn theo năm mươi con lên rừng núi cao và xuống khu vực ven biển phía đông.[1]

Một truyền thuyết khác cũng được nhiều người biết đến là truyền thuyết Thủy thần – học trò nhà Nho hiền tài yêu nước Chu Văn An. Truyện kể rằng khi Chu Văn An còn dạy học ở Cung Hoàng, hằng ngày có một chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú không rõ quê quán ở đâu đến nghe giảng bài rất chăm chú. Sau nhiều lần cho người theo dò la, thầy Chu biết người học trò đó là Thủy thần ở đầm Cung Hoàng. Năm ấy trời đại hạn, đất đai khô cạn, cây cối úa vàng, Chu Văn An ngày đêm lo lắng cho dân, bèn nghĩ cách nhờ anh học trò phi thường của mình ra tay cứu vớt nhân dân trong cơn hoạn nạn. Vì cảm phục đức độ và tấm lòng thương dân của thầy, Thủy thần quyết định cải mệnh trời mà làm mưa cứu an trăm họ. Chàng bèn lấy nước lã mài mực, dùng bút nhúng mực vẩy lên trời, vận thần thông hô mưa gọi gió. Lập tức mây đen nổi lên, trời mưa như trút, nước đen màu mực chảy ngập đồng ruộng. Thấy trời mưa to nhân dân khắp nơi đều vui mừng, thầy Chu cũng vô cùng sung sướng. Nhưng từ ngày đó trở đi không thấy Thủy thần đến trường học nữa, thầy Chu lo lắng không nguôi, bèn cho học trò đi tìm khắp nơi thì thấy xác một con giao long (thuồng luồng) chết nổi giữa đầm. Xót thương trước sự hy sinh cao thượng của học trò, Chu Văn An cho người đem xác Thủy thần chôn cất tử tế và lập miếu thờ, tháng ngày nhớ ơn nhang khói.

Một truyền thuyết khác gắn liền với một địa danh nổi tiếng mà hầu như ai cũng biết đến là truyền thuyết Vịnh Hạ Long. Truyền thuyết cho rằng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai rồng mẹ mang theo một đàn rồng con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn rồng tới hạ giới. Đàn rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc chặn bước tiến của thuyền chiến giặc. Đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đã đâm vào các đảo đá và va chạm với nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, rồng mẹ và rồng con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí rồng mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ.

4. Rõ ràng, người dân cả hai nước đã gửi gắm vào hình ảnh con rồng những ước vọng cuộc sống và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Hình ảnh con rồng là thể tổng hợp nhiều vật tổ của nhiều dân tộc khác nhau, đồng thời mang trong nó nhiều đặc tính thần bí khác nhau như: sống dưới nước, thích bay, có thể thăng thiên, giỏi biến hóa, linh hiển lạ thường, mang điềm tốt lành, uy lực dũng mãnh… Rồng anh dũng thiện chiến, không sợ bất cứ loài nào; rồng thông minh đa trí, có thể hiểu thấu hiện tại vị lai; rồng có bản lĩnh cao cường, có khả năng hô phong hoán vũ, dời non lấp biển, biến hóa đa đoan; rồng giàu có tài vật, long cung được hình dung là kho báu khổng lồ không đâu có được; rồng là loài chính trực, sẵn sàng vi phạm thiên điều để bảo vệ dân chúng thoát hạn… Vì lẽ đó, rồng đại diện cho ước mơ nguyện vọng tốt đẹp của con người.

Trên phương diện tư tưởng triết học và tín ngưỡng, người Bách Việt sùng bái rồng và xem rồng là vật tổ, tức linh vật sáng tạo ra dân tộc mình, vì vậy quan niệm con cháu của rồng thấm sâu vào nhận thức của họ. Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ vì vậy nên mở rộng ra là truyền thuyết sáng thế của cả cộng đồng Bách Việt chứ không phải của riêng người Việt Nam. Bối cảnh của câu chuyện và chi tiết 100 trứng tương ứng với 100 tộc người Việt chứng minh rõ điều đó. Một số bộ tộc ở các tỉnh phía nam Trung Quốc có truyền thuyết sáng thế giống Việt Nam và sùng bái rồng, chim làm thủy tổ của dân tộc mình.

Tộc Lạc Việt ở miền bắc Việt Nam thời tiền sử là một bộ phận trong cộng đồng Bách Việt phía nam sông Dương Tử. Vì vậy, bên cạnh các tộc người Mân Việt, Dương Việt, Âu Việt, Nam Việt, Tây Âu, Đông Âu[2]…, người Lạc Việt, tức tổ tiên dân tộc chúng ta ngày nay, dĩ nhiên chia sẻ vai trò làm chủ đối với những thành tựu văn hóa tư tưởng của người Bách Việt thời trước. Con rồng là sản phẩm văn hóa chung của tộc Bách Việt mà tổ tiên chúng ta ngày xưa là chủ thể sáng tạo, đồng thời không ngừng biến đổi cho phù hợp với sự biến đổi của nhận thức cuộc sống và cảm thức thẩm mĩ của dân tộc.

Con rồng là sản phẩm được hình thành thông qua trí tưởng tượng của người nguyên thủy. Đến thời điểm này, khoa học chưa đủ cứ liệu để chứng minh rồng là con vật có thật trong giới sinh vật.

 Thanh Phong

 

Tài liệu tham khảo:

1. Theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, trang 23 – 25.

2. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng Hợp Tp:HCM, Tp.HCM, 2006.

3. Trang Bách khoa toàn thư Wikipedia.


[1] Theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, trang 23 – 25.

[2] Đông Âu, Tây Âu được nhắc đến ở đây không phải các khu vực của châu Âu hiện nay.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: