Chất “Tiên” trong thơ “Thi tiên” – Lý Bạch

Thi Tiên Lý Bạch. Nguồn: tamtay.com

Học phần Văn học Châu Á mà tôi phụ trách kết thúc bằng một bài tiểu luận nho nhỏ với mục đích rèn luyện cho các bạn SV tinh thần tự học và sáng tạo, biết tập hợp tài liệu, viết bài báo cáo khoa học để truyền bá, chia sẻ kiến thức với tất cả mọi người. Đó là tinh thần đóng góp xây dựng vô cùng quan trọng của một trí thức trẻ trong tương lai. Tôi xin được đăng trên Blog bài tiểu luận này, một mặt để vinh danh và ngợi khen tinh thần học tập của Ngoan, một mặt để xây dựng kho tư liệu bổ ích giúp các bạn SV sau này ra trường, cũng như bạn đọc gần xa, có điều kiện học tập, tham khảo trong hoàn cảnh tài liệu tham khảo nơi này nơi kia còn nhiều thiếu thốn. Dĩ nhiên bài tiểu luận chưa phải hoàn thiện, đâu đó vài chỗ trong bài viết chưa ghi rõ nguồn tư liệu tham khảo và trích dẫn, nhưng với đối tượng sinh viên Sư phạm Ngữ văn năm II, tôi nghĩ những nỗ lực nghiêm túc của các bạn đáng để nghiêng mình thán phục.

Chất “Tiên” trong thơ “Thi tiên” – Lý Bạch

Nguyễn Thị Ngoan – SV DH11NV, ĐH An Giang

 I. Dẫn nhập

 Thời cổ trung đại, Trung Quốc có một nền văn học hết sức phong phú và đa dạng. Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, văn học Trung Quốc đã bắt đầu phát triển. Đến thời Tây Hán, tư tưởng Nho gia được đề cao. Nho gia là trường phái triết học rất coi trọng việc học tập, vì vậy từ Hán về sau những người có thể cầm bút viết văn trong xã hội Trung Quốc rất nhiều. Đến thời Tùy Đường, chế độ khoa cử bắt đầu ra đời, trong đó văn chương trở thành thước đo chủ yếu của tài năng; do đó văn học Trung Quốc càng có những thành tựu lớn lao. Văn học Trung Quốc thời kì này có nhiều thể loại như thơ, từ, phú, kịch, tiểu thuyết…

Thơ Đường được biết đến như một thành tựu rực rỡ của văn học đời Đường, văn học Trung Quốc nói riêng cũng như văn học thế giới nói chung. Với khoảng 48900 bài thơ của hơn 2300 tác giả, thơ Đường vừa độc đáo, vừa cổ điển, lại mang màu sắc Trung Quốc rõ nét, thể hiện đầy đủ, tập trung những thể loại thơ khác nhau. Ngôn ngữ thơ Đường đơn giản, quen thuộc, có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế, phong phú nhờ công phu tinh luyện của các nhà thơ. Thơ Đường là sự kết tinh của những đỉnh cao như: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu,…

Lí Bạch (701-762) được biết đến là một trong ba nhà thơ cự phách đời Đường. Con người và sự nghiệp thơ của Lí Bạch, từ suốt hơn 1300 năm nay, đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng, văn hóa, học thuật trên khắp thế giới, là ngôi sao rực rỡ để toàn thể loài người chiêm ngưỡng. Nếu như thơ Đỗ Phủ trầm uất sâu lắng với phong cách hiện thực bi thiết thì thơ Lí Bạch lại bay bổng khoáng đạt với phong cách lãng mạn mãnh liệt, tươi sáng. Ông được người đời ca ngợi là “Thi tiên”, để lại cho đời hàng ngàn bài thơ tuyệt tác. Là một kiếm khách – thi sĩ, ông coi thường danh lợi, thích ngao du sơn thuỷ, cầu tiên phỏng đạo. Trăng, rượu, hoa, cảnh núi sông tráng lệ, tình bằng hữu, tình quê hương, lòng khao khát tự do… luôn chứa chan trong những vần thơ lãng mạn tràn đầy tâm hồn nhà thơ.

Sáng tác của Lí Bạch rất nhiều. Tác phẩm nào cũng mang những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật. Nhà thơ Bì Nhật Hưu thời vãn Đường nói rằng: “Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, lường rồi thì lòng ôm bốn bể, lỗi lạc dị thường, không phải lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch“.

Từ niềm ngưỡng mộ chân thành đối với Lý Bạch, bài viết này mong muốn sẽ mang đến một số đóng góp cho việc nghiên cứu thơ văn Lý Bạch, đồng thời phục vụ cho công tác giảng dạy sau này vì Lý Bạch là tác gia được chọn giới thiệu ở trường phổ thông. Đi sâu vào việc tìm hiểu hình ảnh thiên nhiên trong thơ văn ông, chúng tôi mong muốn có cái nhìn toàn vẹn hơn về tài năng của Lý Bạch trong việc miêu tả thiên nhiên, đồng thời tìm hiểu những tâm sự mà nhà thơ gửi gắm đằng sau những bức tranh thiên nhiên tràn đầy màu sắc, hình ảnh, âm thanh và dạt dào cảm xúc ấy. Đặc biệt, chúng tôi muốn tìm hiểu vì đâu mà Lý Bạch được mệnh danh là “Thi Tiên”, trong thi đàn văn học Trung Quốc.

 II. Nội dung

 1. Giải thích vấn đề “Tiên”, “thi Tiên”:

 Tiên là, một người khác với người phàm, họ không chịu ảnh hưởng bởi quy luật sinh tử, có tuổi thọ bằng trời, bằng đất, họ có phép thần thông, có thể đạp gió, cưỡi mây, đi xa hàng ngàn dặm. Là người rủ bỏ được mọi ham muốn trần tục, thế giới của họ là thế giới lý tưởng, không có các thế lực quyền quý, không có những hiện tượng xấu xa như cuộc sống của người phàm tục. “Thi Tiên”, thi là thơ còn “Thi Tiên”, là một con người có thể tạo ra các tác phẩm không ai sánh được, tác phẩm đó có sắc thái của Tiên, một thế giới của Tiên, người phàm thì không thể nào mà có thể sáng tác ra được như vậy.

 2. Phong cảnh trong thơ ông lúc nào cũng tráng lệ, thanh tú hùng vĩ như cảnh thế giới thần tiên, đầu óc người phàm không thể nào cảm nhận được:

 Thơ ông đề cập đến rất nhiều đề tài khác nhau: phong cảnh non sông hùng vĩ, tráng lệ, ý chí giúp nước giúp đời, tình bạn tình yêu, đã kích bọn quyền quý xa hoa… Đề tài trong thơ ông không tập trung như Khuất Nguyên, phẫn uất vì có tài mà không được dùng, có chí mà không được thi thố. Tư tưởng của ông không thuần nhất như Đỗ Phủ là một nhà Nho buồn vui vì dân, vì nước. Lý Bạch bên cạnh tiếp thu tư tưởng Nho gia còn có tư tưởng Đạo gia và tinh thần hiệp khách. Cho nên cách nhìn của ông không thuần nhất như Đỗ Phủ.

Trong thơ Lý Bạch trước hết chúng ta thấy hiện lên hình ảnh non sông gấm vóc tráng lệ. nhà thơ đi nhiều thấy nhiều, hiểu nhiều với ngòi bút phóng khoáng đã tái hiện lại nước non hùng vĩ trong thơ. Sông Hoàng Hà, sông Trường Giang nhiều lần đi vào thơ ông thật hùng vĩ:

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thượng lai

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi

(Há chẳng thấy nước sông Hoàng Hà từ trời tuôn xuống

Chảy tuột về biển Đông, chẳng quay về)

 (Tương tiến tửu)

Dòng sông như sống dậy dưới ngòi bút nhà thơ. Ta thấy thế nước (cao từ trên trời xuống) tốc độ chảy (chảy một mạch không quay về) và sau đó là âm hưởng của câu thơ: khỏe khoắn, đầy sức sống. Ở bài Công vô độ hà, sông Hoàng Hà lại được nhân cách hóa cao hơn như lực sĩ cuồng nhiệt:

Sông Hoàng chảy vỡ núi Côn Lôn

Thét gào muôn dặm lúc Long Môn.

Sông Trường Giang cũng đi vào thơ ông như một vạch ngang trời:

Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

(Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo nhiên đi Quảng Lăng)

Bạn từ lầu Hạc lên đường

Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng

Bóng buồm đã khuất bầu không

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.

Thác Hương Lư (Giang Tây) được miêu tả sống động như sông ngân hà tuột khỏi mây.

Nắng rọi Hương Lư khói tía bay

Xa trông dòng thác trước sông này

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.

(Vọng Lư Sơn bộc bố)

Bài thơ chính là sự liên tưởng độc đáo, mạnh mẽ của một trí tưởng tượng phong phú, sự rung động sâu xa của một tấm lòng yêu thiên nhiên đất nước nồng nàn và tha thiết. Lư Sơn là dãy núi ở Sơn Tây Trung Quốc, có nhiều ngọn chạy dài, nhưng chỉ có một ngọn là có thác đổ.

Giữa nền xanh của núi, hơi nước trắng rọi tỏa bay như khói hương là dòng nước bạc đồ sộ, tuôn dài như một tấm vải trắng. Chỉ với ba câu thơ ngắn, ngòi bút tài tình của nhà thơ Lí Bạch, khung cảnh Lư Sơn như hiện ra trước mắt ta với đầy đủ màu sắc, hình khối, đường nét… Thấy dòng thác lấp lánh bạc đổ xuống tưởng như dải Ngân Hà lạc khỏi chín tầng mây ở trời cao, rơi xuống hạ giới. Đây là hình ảnh đầy tự hào về trí tưởng tượng của nhà thơ trước khung cảnh hùng vĩ và đầy thi vị của thiên nhiên.

Bài “Xa ngắm thác núi Lư” của Thi tiên Lí Bạch đã lưu lại muôn đời bằng phương tiện văn học cái đẹp hùng vĩ của một dòng thác khổng lồ kì lạ. Tả cảnh thiên nhiên mà tráng lệ như thế, rõ ràng tác giả đã yêu quê hương, đất nước biết nhường nào. Lòng yêu nước ở Lý Bạch chính là bắt nguồn từ lòng yêu sông núi quê hương vậy. Cảnh đẹp trên sông ban đêm: “Chèo thuyền xuống bến Quảng Lăng, Trên đình Chính Lỗ một vừng trăng treo, Hoa đồi như trải gấm thêu, Trên sông đốm lửa như chiều sao ra”. Có thể nói đất nước Trung Hoa không đâu được miêu tả hùng vĩ tráng lệ như trong thơ Lý Bạch.

 3. Ngoạn cảnh thần tiên siêu thoát, thế giới thần tiên kỳ ảo:

 Trong bài “Thái liên khúc” tác giả đã để cô hái sen xuất hiện giữa một sân khấu hoa. Trên trời hoa (tà áo màu trắng bay), mặt nước hoa, dưới nước hoa, bức thêu hoa bởi bóng lồng dưới nước. Vẻ đẹp của thiếu nữ được nhân lên gấp bội vì hình bóng cô ta thoắt ẩn thoắt hiện, mới ló ra là mất hút. Cô ta không đơn thuần là hái sen nữa mà trở thành tiên nữ không những làm cho mấy chàng trai ngẫn ngơ, mà còn làm cho người đọc lưu luyến:

Có cô con gái nhà ai

Hái sen chơi ở bên ngòi Nhược gia

Mặt hoa cười cách đóa hoa

Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh

Áo quần mặt mới trắng tinh

Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng

Thơm tho vạt áo gió tung

Bay lên phấp phới trong không ngọt ngào

Năm ba chàng trẻ nhà nào

Ngựa hồng rặng liễu bờ cao bóng người

Ngựa kêu lần bước hoa rơi

Đoái trong ai đó ngậm ngùi tiếc thương.

(Tản Đà dịch thơ)

Bên cạnh tư tưởng Nho gia, Lý Bạch cũng tiếp thu tư tưởng Đạo gia. Ngay từ lúc trẻ thì ông đã có lối sống phóng túng, tự do, khinh miệt công danh phú quý, coi thường công hầu danh tước, luật pháp. Khi ông “bất đắc chí” thì Đạo gia lại chiếm ưu thế.

Ông cười Khổng Tử :

Sở cuồng chính là ta

Hát rong cười Khổng Tử”,

ông nói:

“Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ

Bạc đầu đọc sách làm gì.

(Trào Lỗ Nho)

Ngoài tư tưởng Đạo gia, tư tưởng du hiệp cũng chiếm địa vị quan trọng trong thơ ông. Tạo nên những vần thơ phóng túng, sảng khoái.

Thơ ông thường mượn bóng trăng, cõi tiên để tâm sự. Cõi tiên trong thơ ông là một thế giới lý tưởng, không có sự tranh giành quyền lực, hiện tượng xấu xa như trong thực tại. Bài “Mơ chơi núi Thiên Mụ”, cấu tứ giống đoạn sau của Ly Tao, lúc đầu tác giả nằm mơ thấy mình lạc vào một thế giới thần tiên kỳ ảo. Nhưng sau khi tỉnh lại thấy có gối và chăn. Trở về hiện thực tác giả lại nhớ cảnh tiên và càng chán cảnh thực .

Trong bài Ðáp Hồ Châu Ca Diệp Tư Mã vấn Bạch thị hà nhân, ông tự xưng là Tiên bị đày:

Thanh Liên cư sĩ Trích Tiên nhân
Tửu tứ tàng danh tam thập niên
Hồ Châu Tư Mã hà tu vấn
Kim Túc Như Lai thị hậu thân.

Dịch nghĩa:

 Cư sĩ làng Thanh Liên người vốn là Tiên bị đày
Uống rượu thoải mái mai danh đã ba mươi năm
Tư Mã Hồ Châu hỏi tới làm gì
Kiếp sau sẽ là Kim Túc Như Lai đấy.

Lý Bạch say rượu, lấy rượu làm bạn, một mình hiên ngang giữa trời và đất. Mặc dù ông người cao tám thước, nhưng thân pháp nhanh nhẹn, như đang cầm bình rượu múa trong trời đất. Ông cứ uống cứ uống, rồi nằm ngủ và mơ thấy có một bầy tiên nữ bay xuống viếng thăm. Bầy tiên nữ hình dáng vô cùng mỹ lệ đoan trang, thay phiên nhau nhảy múa, vẩy nước cam lộ rồi cười chào tạm biệt Lý Bạch. Sau khi tỉnh dậy, Lý Bạch đã lấy cảm hứng từ những điệu nhảy của bầy tiên nữ và viết nên những vần thơ bất hủ:

Cửu nhật san ẩm
Hoàng hoa tiếu trục thần
Túy khán phong lạc mạo
Vũ ái nguyệt lưu nhân.

Phần dịch nghĩa:

Ngày Cửu Nhật ngồi uống rượu trên núi
Hoa vàng cười đuổi theo người ra đi
Say rượu ngồi nhìn mũ bị gió thổi bay
Nhảy múa vì trăng sáng muốn ta ở lại.

Chúng ta có thể hiểu được tại sao Lý Bạch lại ưu sầu khi ông bị giáng chức và muốn uống thật nhiều rượu sau khi rời khỏi kinh thành. Tuy say nhưng điều đó không ảnh hưởng tới khả năng sáng tác tuyệt vời của Lý Bạch, bởi vì cảm hứng của ông đến từ trên thiên thượng. Cảnh giới tâm thức của Lý Bạch đã tới được thiên thượng và do đó ông từ trên đó nhìn xuống thế giới trần tục mà viết. Đây là lý do mà người ta gọi ông là “Thi tiên”. Những tác phẩm của ông đều biểu hiện ra một cảnh giới “thiên nhân hợp nhất”. Tâm hồn lãng mạn tiêu dao tự tại không bị ràng buộc, thích làm gì thì làm. Sở dĩ Lý Bạch có thể phóng hạ được hết thảy những phiền não nơi trần thế là vì ông là người hiểu Đạo. Ông biết rằng ở trên trời cao có trăng sáng, có bầy tiên nữ bay lượn, những đám mây phước lành, và dải Ngân Hà rộng lớn. Việc ông bị giáng chức bất quá chỉ như cơn gió to thổi bay mũ, hà tất phải ưu sầu.

4. Đặc điểm nghệ thuật:

 Toàn bộ tác phẩm của Lý Bạch bao gồm hai nhân tố lãng mạn và hiện thực, nhưng nói về khuynh hướng chủ đạo thì ông là bậc thầy của chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Ông có tiếp thu ảnh hưởng của Thi kinh, nhưng ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với ông vẫn là Sở từ của Khuất Nguyên.

Trong lối tự sự, ngôn chí, thuật hoài cũng như miêu tả, Khuất Nguyên đã xây dựng được một loạt những hệ thống hình tượng sinh động, đẹp đẽ, kỳ vĩ khá hoàn chỉnh nhằm phản ánh chân thực mâu thuẫn xã hội và xung đột nội tâm. Từ đó người đọc nhận ra lý tưởng, tình cảm mãnh liệt cùng hoài bão to lớn của tác giả. “Huyền thoại hóa” có thể nói là bút pháp chủ đạo của Ly tao, Cửu chương, Cửu ca

Lý Bạch kế thừa Khuyất Nguyên nhưng phát huy cao hơn với tinh thần sáng tạo, cách tân. Trước hết, ông thường xuyên dùng thủ pháp khoa trương –nhân cách hóa. Khoa trương là phóng đại, nhưng nó có sức thuyết phục vì nó có cơ sở trong thực tại, có tác dụng khắc sâu thêm nhận thức, tô đậm tình cảm.

Lỗ Tấn thường nhắc đến hình ảnh:

Yên sơn tuyết hoa đại như tịch

(Hoa tuyết ở Yên sơn to như chiếu)

(Bắc phong hành)

Là khoa trương, song ở Yên Sơn có tuyết, vì vậy nó vẫn bao hàm cái thực ở trong đó, chúng ta có thể biết được ở Yên Sơn có cái lạnh như vậy. Thủ pháp khoa trương trong thơ Lý Bạch, nhiều khi “quá quắt”, vẫn là sự thật.

Ngâm thi tác phú bắc song lí

Vạn ngôn bất trị nhất bôi thủy!

(Ngâm thơ làm phú bên cửa sổ phía bắc, Vạn lời không đáng bằng chén nước lã!) là “quá quắt”  nhưng rất chân thực vì nó làm nổi bật được tính chất vô nghĩa của những ngày Lý Bạch ở trong cung.

Để thể hiện tình cảm mãnh liệt của mình, hình ảnh trong thơ ông thường sống động, to lớn, đẹp đẽ. Trước hết là hình ảnh của bản thân nhà thơ to lớn, phi phàm, siêu việt. Nhiều lần ông ví mình với con đại bàng, khi lâm chung coi mình là con đại bàng gãy cánh. Ông ví mình là “ hoàng hải ngư”- con cá nằm ngang biển.

Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ông cũng manh sắc thái đặc biệt. Thiên nhiên trong thơ ông không tĩnh như trong thơ Vương Duy, cũng không ngẹn ngào nức nở như trong thơ Đỗ Phủ mà thường mênh mông phóng túng, bay bổng huy hoàng. Hình ảnh sông Hoàng Hà, Trường Giang là một ví dụ…

Trong thơ ông luôn xuất hiện bóng trăng, hầu như chị Hằng trở thành người bạn thân thiết của nhà thơ, trăng ở đây tượng trưng cho cái gì đẹp đẽ trong sáng mà nhà thơ khao khát:

Chiều hôm bước xuống chân đèo

Bóng trăng trên núi cũng theo về người

(Nguyệt hạ độc chuốc)

Trên cơ sở của trí tưởng tượng phong phú bay bổng, trong mọi đề tài, ông thông qua cảnh giới thần tiên, ảo tưởng, siêu phàm để thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của bản thân, lấy chuyện ngày xưa để nói chuyện hiện tại, nhất là khi ông bày tỏ lòng căm ghét, phê phán, đả kích. Ông lại gửi gắm tâm hồn, tư duy của mình vào thiên nhiên. Thiên nhiên như một người bạn tri âm tri đắc, hiểu rõ nỗi lòng ông, an ủi, khuyến khích, giúp đỡ ông xua tan những cái xấu xa, đưa lại những điều tốt đẹp.

 Thủ pháp nhân hóa làm cho sự vật, dù yên tĩnh, vô tư, cũng trở nên đầy sức sống, mới mẻ, táo bạo, nẩy sinh từ sức tưởng tượng khác thường, đưa tình cảm sôi nổi và nguyện vọng thiết tha của nhà thơ vào đối tượng được miêu tả, khiến thơ ca giàu ý nghĩ và lôi cuốn. Ông kết hợp khéo léo các cách thể hiện tính lãng mạn như thần thoại hóa, nhân cách hóa, khoa trương ảo tưởng cùng với một thứ ngôn ngữ hào phóng để tạo nên những hình tượng nghệ thuật kỳ vĩ, biểu hiện những lý tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ cũng như lòng yêu ghét mãnh liệt do hiện thực khơi gợi ra. Trong bài Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt chẳng hạn, những hình ảnh “Thiên Mụ ngang trời chắn núi xanh”, “Mây xanh xanh chừ mưa tới, nước thăm thẳm chừ khói loang”, những âm thanh “Gấu thét rồng gào suối dội vang”, “Sấm vang chớp giật, gò sụt núi tan” cùng những so sánh, ẩn dụ, nhân hóa “Rừng sâu khiếp chừ núi kinh hoàng”, “Mống làm áo chừ gió làm ngựa”, “Loan kéo xe chừ hổ gảy đàn”… tạo nên một thế giới lạ lùng, hùng vĩ, bí ẩn, đưa tâm hồn con người lên chỗ cao rộng, thoát khỏi cuộc đời tầm thường, nhỏ mọn hàng ngày.

Lại nữa, Lý Bạch kế thừa có phê phán, chọn lọc truyền thống tốt đẹp của thơ ca Hán – Ngụy trở về sau, đồng thời ra sức học tập thơ ca dân gian quá khứ và đương đại nên có những thành tựu về ngôn ngữ, nghệ thuật: lời thơ tao nhã, uyển chuyển sinh động, hoa mỹ, trau chuốt nhưng trong sáng, giản dị, tự nhiên, đầy khí thế, không hề có dấu vết chạm trổ tỉ mỉ công phu, “áo nhà trời không có đường may” mà thật đẹp, thật hay. Thơ nhạc phủ của ông chiếm một phần đáng kể. Ông dùng đề mục cũ để sáng tạo ý mới, truyền lại hơn một trăm bốn chục bài. Những bài ông tự đặt đề mà làm cũng giàu phong cách dân ca: Tĩnh dạ tứ, Việt nữ từ, Tặng Uông Luân… Thơ thất ngôn tuyệt cú của ông – cùng với Vương Xương Linh – là thất ngôn tuyệt cú bậc nhất đời Đường, được xưng tặng là “tay thánh tuyệt cú”. Làm thơ luật ông cũng không câu nệ thanh vận, đối ngẫu, thoát khỏi khuôn khổ gò bó của niêm đối… Tất cả những đặc điểm nêu trên đã tạo nên một phong cách riêng của Lý Bạch, hào phóng, tự do, bay bổng.

 III. Kết luận

 Lý Bạch là nhà thơ lớn thời thịnh Đường. Người ta gọi là thi Tiên, đó là địa vị của ông trên thi đàn văn thơ là tình cảm quần chúng đối với ông, một nhà thơ lãng mạn tích cực. Ông thừa kế truyền thống ưu tú của Khuất Nguyên, là người đưa thơ ca phải có “phong cốt Kiến An” của Trần Tử Ngang thời thịnh Đường đến chổ được khẳng định. Ông có ảnh hưởng  tích cực đến đời sau, phong cách hào phóng bay bổng, tâm hồn lãng mạn, tiêu dao tự tại trong thơ ca Lý Bạch.

Đa số thời gian trong cả cuộc đời của Lý Bạch trôi qua trong hành trình du lịch, trong thời gian đó ông viết rất nhiều thơ miêu tả phong cảnh tự nhiên. Trong các câu thơ “Thục đạo chi nan, nan vu thượng thanh thiên” (Thục đạo nan), “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi” (Tương tiến tửu), “Phi lưu trực hạ tam thiên thước, nghi thị ngân hà lạc cửu thiên” (Vọng Lư Sơn bộc bố), Lý Bạch áp dụng thủ pháp khoa trương và ví dụ sinh động, khiến những câu thơ nói trên trở thành câu thơ được truyền tụng hàng nghìn năm.

Lý Bạch để lại hơn 900 bài thơ cho đến bây giờ, ngoài ra còn có hơn 60 bài văn xuôi. Với sức tưởng tượng lạ lùng và khí phách hoành tráng, thơ của Lý Bạch hấp dẫn mọi người, ảnh hưởng sâu xa tới đời sau, Lý Bạch được đời sau gọi là “Thi Tiên”.

N.T.N

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: