Đề cương chuyên đề: Tư tưởng du tiên trong thơ ca cổ điển Trung Quốc

Đào hoa nguyên ký - Đào Uyên Minh. Nguồn: http://www.hongkongpeople.net

Tư tưởng du tiên trong thơ ca cổ điển Trung Quốc

 Nguyễn Thanh Phong

1. Nguồn gốc vấn đề du tiên

– Trang Tử (Tr. CN 369~286) trong thiên Tiêu dao du.

– Khuất Nguyên (Tr. CN 340~278) trong thiên Viễn du.

– Hai từ du tiên được xác định thời Tào Thực.

– Tiêu Thống trong Văn tuyển lần đầu xem du tiên là một đề tài của thơ ca, xếp vào nhóm: Vịnh hoài, vịnh sử, công yến.

– Vu thuật nguyên thủy đất Sở.

– Thần tiên phương sĩ Tề Yên.

– Ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Huyền học đến thơ du tiên.

—: Bản chất đề tài du tiên là sự vượt lên sự hữu hạn đời người, là biểu trưng cho sự ý thức về cuộc sống hữu hạn của con người.

2. 4 giai đoạn phát triển của thơ Du tiên:

2.1. Tiên Tần:

– Thời kì sản sinh thơ du tiên, cụ thể là Hậu kì Chiến Quốc (Trang Tử, Khuất Nguyên).

– Nguồn gốc quan niệm du tiên:

+ Tín ngưỡng thần tiên ven biển Tề Yên.

+ Tín ngưỡng vu thuật nguyên thủy Sở.

—: Có nguốn gốc tín ngưỡng dân gian, thể hiện khát vọng trường thọ, sống mãi.

– Sách Thần tiên khảo: “Tín ngưỡng thần tiên đầu tiên sản sinh khi thiêu người chết, cầu linh hồn lên trời; sau dung hợp với ý thức mong cầu trường thọ, từ huyễn tưởng đi đến phối hợp ăn uống, đạt đến nhục thể trường sinh”.

– Làm sao vượt ra khỏi sự hữu hạn của sinh mệnh là vấn đề suy tư của triết nhân đương thời:

+ Kinh Thi (Lỗ tụng): “Kí ẩm chỉ tửu, vĩnh tích nan lão”.

+ Tả truyện (Chiêu Công năm 20): “Tề hầu… ẩm tửu lạc. Công viết: Cổ nhi vô tử, kì lạc nhược hà?”

 + Lã Thị Xuân Thu: “Thế chi nhân chủ, quán nhân, vô hiền bất tiêu, mạc bất dục trường sinh cửu thị”.

—: Sự nhận thức mơ hồ về sinh mệnh chính mình, động lực ban đầu cho quan niệm du tiên sản sinh và phát triển.

+ Chư Tử giải thích ý nghĩa sinh mệnh từ mặt triết học.

+ Phương sĩ, vu sĩ giải thích ý nghĩa sinh mệnh con người từ mặt hiện thực.

– Trang Tử và Khuất Nguyên bàn bạc về bản chất của sinh mệnh như sau:

+ Trang Tử quan tâm vấn đề thân (sinh mệnh) tâm (tinh thần) của cá thể, không quan tâm luân lí, chính trị. Nhân cách độc lập và tinh thần tự do được Trang Tử chú trọng, ông không nhấn mạnh vấn đề thần tiên mà nhấn mạnh vấn đề tồn tại của con người, hình tượng phiêu dật trong Tiêu dao du, đến cách gọi chí nhân, chân nhân, thần nhân.

+ Người sau xem Tiêu dao du là nguồn gốc của thơ du tiên, vì vượt lên sự hữu hạn của sinh mệnh và truy cầu tự do tuyệt đối là nhất trí nhau.

+ Khuất Nguyên dùng lượng lớn sáng tác thể hiện ý thức về giá trị sinh mệnh bản thân, một nhân cách độc lập dựa trên sự giác tỉnh lí tính, muốn thoát khỏi mọi ràng buộc và khát vọng tự do siêu việt. Nội dung, hình tượng, kết cấu, mô thức trong Li tao, Cửu ca, Viễn du tác động rất lớn đến thơ du tiên đời sau.

—: Đây là nguồn gốc của văn học du tiên, nhất là thơ ca du tiên.

2.2. Tần Hán:

– Thơ du tiên và phú du tiên.

– Đương thời có cuốn Tiên chân nhân thi, theo chân Thủy Hoàng tuần du lưu truyền khắp nơi. Đó là những ghi chép liên quan đến Tần Thủy Hoàng cầu tiên.

– Các phương sĩ Tề Yên: Dư Thị, Hàn Chung, Hầu Công, Thạch Sinh, Lư Sinh…

– Nhạc phủ thời Lưỡng Hán có nhiều bài thơ du tiên, về nguồn gốc có 2 loại:

+ Văn nhân cấp trên, dùng trong tế tự hoàng gia (giống Tụng trong Kinh thi): An thế phòng trung ca, Giao tự ca, Nghiêu ca, Thiên mã, Tượng tải du, Nhật xuất nhập, Thượng lăng

+ Dân gian: Trường ca hành, Đổng đào hành, Vương tử kiều, Lũng Tây hành, Diễm ca

—: Thơ du tiên trong Hán Nhạc phủ chiếm tỉ lệ cao.

– Nội dung du tiên trong Hán phú cũng rất nhiều: Tư Mã Tương Như (Đại nhân phú), Dương Hùng (Thái huyền phú), Phùng Diễn ( Hiển chí phú)…

– Ý vị du tiên trong sáng tác dân gian thể hiện rất triệt để, không còn chấp nghi những vấn đề cơ bản nhân sinh, tất cả đã có đáp án.

– Hán Võ Đế độc tôn Nho học, loại Nho học dung hợp âm dương này lấy kết cấu Thiên – Địa – Nhân để giải thích vũ trụ, nhân gian và mọi vấn đề. “Đạo thống”, “hợp thống”, “chính thống” hợp lưu khiến toàn bộ tư tưởng có sức mạnh, làm mất tính cá nhân của tư tưởng.

– Tư tưởng thống nhất của Tần Thủy Hoàng là không cần nhân dân đọc sách, còn Hán Võ Đế muốn nhân dân chỉ đọc một loại sách.

– Tín ngưỡng thần tiên Tiên Tần trong dân gian vẫn tiếp tục phát triển, thậm chí mở rộng, nhưng không có sự tham gia của trí thức tinh anh, tín ngưỡng thần tiên thời chuyển tiếp Lưỡng Hán ngày càng thế tục hóa. Thơ du tiên Tần Hán vì không có sắc thái ý thức sinh mệnh nên khá đơn giản thuần phác.

2.3. Kiến An – Tây Tấn:

– Thời hoàng kim của thơ du tiên. Những sáng tác kinh điển của thơ du tiên hầu như xuất hiện thời này.

+ Tào Tháo có 7 bài: Khí xuất xướng, Mạch thượng tang, Thu hồ hành, Liệt tinh… chiếm tỉ lệ 1/3 toàn bộ thơ Thào Tháo.

+ Tào Thực có hơn 10 bài: Du tiên thi, Ngũ du vịnh, Viễn du thiên, Tiên nhân thiên

+ Tào Phi có Chiết dương liễu hành.

—: Tam Tào tạo nên cao trào thơ du tiên.

– Nguyễn Tịch, Kê Khang, Đào Uyên Minh đều có thơ du tiên truyền thế, Quách Phốc đạt đến đỉnh cao thơ du tiên.

– Nếu dùng sự ảnh hưởng của Đạo Gia, Đạo giáo để giải thích sự hưng thịnh của thơ du tiên giai đoạn này thì hơi khiên cưỡng vì Tam Tào không tin đạo giáo. Nguyễn, Đào cũng không là tín đồ Đạo giáo, Kê Khang thích dưỡng sinh nhưng không hứng thú với thần tiên. Quách Phốc tuy giỏi bói toán tinh thông cái học thần tiên, chú nhiều sách nhưng cả đời gần gũi Nho gia.

– Thơ du tiên thời này trọng ở tả tâm, bộ phận tả thực ngày càng ít đi, cái nó phản ánh không phải thế giới ngoại tại, chủ yếu là ý thức tự ngã.

– Từ thế kỉ II, tầng lớp trí thức ngày càng rời khỏi việc lấy nhận thức chung của tập thể làm tiêu chuẩn, truy cầu độc lập tự do trong tinh thần cá nhân, học thuật Trung Quốc lần 2 bước vào thời đại tự do.

– Thơ du tiên thời này về cơ bản thoát khỏi Liệt tiên chi thú, Tào Thực quan tâm khai thác không gian sinh mệnh, hướng về không gian tự do mà bay bổng tâm cảnh, thơ du tiên Quách Phốc viết giống thơ ẩn dật, từ tiên giới thanh thoát đến cảnh tĩnh tại rừng núi.

– Sự phồn vinh của thơ du tiên có quan hệ trực tiếp với bối cảnh thời đại.

2.4. Tây Tấn Nam Bắc Triều về sau:

– Dần dần suy yếu.

– Đến vãn Đường có các tác gia sau sáng tác thơ du tiên: Vương Bưu Chi, Cát Hồng, Quách Văn, Dương Quyền, Vương Cách, Thẩm Ước, Giang Yêm, Tiêu Cương, Lưu Giáo Đạo, Dương Kiên, Nhan Chi Thôi, Lí Bạch, Tào Đường…

– Đời Tống, ngoài bộ phận từ đề cập đề tài du tiên ít bài hay, thơ hầu như đều không có giá trị. Thơ du tiên còn tồn tại đến Vãn Thanh, thậm chí cận đại.

– Khi Phật giáo ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng rãi đến Trung Quốc, tư tưởng luân hồi có thể an đốn ý thức và sự giác tỉnh về sinh mệnh. Phần lớn nhà thơ tìm thấy trong Phật giáo sự an trí tự ngã, tác dụng của thơ du tiên không còn rõ ràng như trước nữa.

– Sự thịnh hành của Phật giáo khiến văn nhân tìm thấy nơi thích hợp hơn cho việc an đốn tự ngã, tác dụng của thơ du tiên mờ nhạt đi, không quan trọng nữa, thơ du tiên sau thời Đông Tấn ngày càng yếu đi.

– Thơ du tiên về sau trở thành một kiểu thủ pháp nghệ thuật, giống phú tỉ hứng, ý nghĩa ban đầu không còn được chú ý.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: