Vận dụng học thuyết Tam tài (Thiên – Điạ – Nhân) để phân tích một số bài thơ của Lí Bạch

Trích Tiên Lí Bạch. Nguon: daovien.com

Học thuyết Tam tài hình thành từ thời cổ đại Trung Quốc và chi phối đến tư tưởng quan điểm của đại bộ phận cư dân nông nghiệp nguyên thủy. Học thuyết này đề cao mối quan hệ hài hòa giữa trời – người – đất, sống hài hòa với đất trời cũng là nội dung trọng tâm xuyên suốt trong các trường phái triết học cổ điển Trung Quốc. Tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu sắc đến các loại hình nghệ thuật truyền thống, nhất là đối với tác phẩm văn chương thời trung đại. Lí Bạch được biết đến là nhà thơ lớn vào bậc nhất nhì của Trung Quốc. Ông tiếp thu tư tưởng Nho Đạo, nhưng biểu hiện nổi bật nhất trong phần lớn cuộc đời nhà thơ là tư tưởng Đạo giáo. Học thuyết Tam tài đi vào thơ ông một cách tự nhiên, kì thú. Lê Huỳnh Như đã chọn được một đề tài hay, mạnh dạn thử nghiệm bằng cách tạo mối liên hệ gắn kết giữa một học thuyết triết học với hình tượng nghệ thuật trong các bài thơ cụ thể. Bài viết lý thú này bước đầu đưa ra những suy nghĩ táo bạo, có giá trị, đáng để biểu dương và giới thiệu cho bạn bè tham khảo.

Vận dụng học thuyết Tam tài (Thiên – Điạ – Nhân) để phân tích một số bài thơ của Lí Bạch

 Lê Huỳnh Như, SV lớp DH11NV

 1. Dẫn nhập

Tìm hiểu Văn học Trung Quốc là một công việc vô cùng thú vị, bổ ích đối với sinh viên Ngữ Văn nói riêng và những người yêu thích, nghiên cứu học tập môn Ngữ Văn nói chung. Đến với nền văn học có bề dày lịch sử lâu đời này, chúng ta sẽ có vô vàn đối tượng để tìm hiểu, để nghiên cứu. Trong số vô vàn đối tượng đó, vấn đề mà tôi hướng tới trong bài tiểu luận lần này là mối quan hệ giữa thuyết tam tài và thơ Lý Bạch. Như ta đã biết, do nhu cầu nhận thức về cấu trúc không gian vũ trụ, từ cổ chí kim, cư dân phương Nam nói chung và người dân Trung Hoa nói riêng đã phát minh ra các học thuyết về triết lý âm dương, ngũ hành… Và với đầu óc quan sát tinh tế của mình, họ đã nhận ra, định hình hàng loạt các bộ tam tài mà trong đó Thiên – địa – nhân là bộ quan trọng nhất, gần gũi và thiết thực nhất.

Thuyết tam tài cùng nhiều học thuyết khác chẳng những đã đi vào trong đời sống vào trong tâm tưởng của người dân Trung Hoa mà còn đi sâu vào trong thơ ca, văn chương, và thơ ca của Lý Bạch là một điển hình. Với đề tài này, tôi sẽ tiến hành tập hợp nguồn tài liệu từ các sáng tác của Lý Bạch, các bài nghiên cứu phê bình về thơ Lý Bạch và một số tài liệu về thuyết tam tài. Sau đó vận dụng những điều mình biết được về thuyết tam tài đề phân tích một số bài thơ của Lý Bạch.

Phân tích thơ Lý Bạch từ góc nhìn của học thuyết tam tài (Thiên – địa – nhân) ta sẽ có thêm một cách tiếp cận mới, một cách nhìn mới về thơ ca của ông. Qua đó ta cũng sẽ có thêm cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về các bài thơ của Lý Bạch, có thêm cơ hội để thấy rằng bộ ba Thiên – địa – nhân đã đi vào thơ ông như thế nào.

Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về thuyết tam tài và về thơ Lý Bạch nhưng nghiên cứu thơ Lý Bạch từ sự vận dụng học thuyết tam tài thì dường như là chưa có bài nghiên cứu nào. Cho nên với bài nghiên cứu nho nhỏ này, mong rằng sẽ cung cấp cho bạn đọc một số kiến thức về mối quan hệ giữa học thuyết tam tài và thơ ca Lý Bạch. Hi vọng nó sẽ mang đến cho bạn đọc một niềm say mê, hứng thú tìm hiểu về thơ ca Trung Quốc nói chung và thơ ca Lý Bạch nói riêng.

2. Nội dung

 2.1. Vài nét về tác giả Lý Bạch và thuyết tam tài

 2.1.1. Tác giả Lý Bạch

Bước vào thế giới bao la và đồ sộ của nền Văn học Trung Quốc, chúng ta không thể nào không dừng chân trên mảnh đất mang tên thơ Đường – một mảnh đất rộng lớn, trù phú bởi hàng vạn bài thơ đã, đang và sẽ mãi bất tận với thời gian. Một khi đã đặt chân vào mảnh đất này thì chúng ta lại càng không thể nào quên được một thi sĩ có tâm hồn lãng mạn, bay bổng, một thi sĩ được người đời phong tặng biệt hiệu Thi Tiên, thi sĩ chính là Lý Bạch – một trong ba cây đại thụ của Đường thi.

Lý Bạch sinh năm đầu niên hiệu Trường An (701), đời Đường Trung Tông và mất vào đầu năm hiệu Bảo Ứng (762), đời Đường Đại Tông. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình thương nhân giàu có tại làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, tỉnh Tứ Xuyên. Thuở nhỏ Lý Bạch được học nhiều tư chất lại thông minh, ông rất thích học đạo, múa kiếm, ca hát, lớn lên thì thích ngao du. Ông luôn mang trong mình một tư tưởng hoài bão là đem trí tuệ của mình để giúp vua bình thiên hạ, làm cho bốn bể được thanh bình. Hai mươi tuổi Lý Bạch đi du lịch khắp đất Thục, rồi từ giã cha mẹ xách kiếm viễn du. Cuộc đời viễn du của ông trải qua nhiều phong ba, bão táp; mặc dù bị vu oan và bị kết tội nhiều lần nhưng Lý Bạch vẫn một lòng theo đuổi lý tưởng, ở ông luôn cháy lên ngọn lửa chính trị và khát vọng lập công. Cuối đời Lý Bạch mất vì một căn bệnh, ông mất đi và để lại cho đời gần một nghìn bài thơ cùng một số bài văn xuôi rất có giá trị.

Nhắc đến Lý Bạch là chúng ta nhắc đến những vần thơ lãng mạn, bay bổng. Thiên nhiên trong thơ ông vô cùng hùng vĩ, vô cùng tráng lệ nhưng đôi khi cũng đượm một màu sầu thể hiện nỗi niềm yêu thương vô hạn của tác giả đối với con người, với đất trời và với quê hương, đất nước. Trong thơ Lý Bạch thường xuất hiện hình ảnh của những người nông dân nghèo khổ do chiến tranh phi nghĩa gây ra. Đó còn là những con người luôn chứa chan, dạt dào tình cảm yêu thương, luôn quí trọng đề cao tình đời và tình người.

 

2.1.2. Học thuyết Tam tài   

Như đã nói trên thuyết tam tài đã xuất hiện từ rất lâu, từ khi con người có nhu cầu nhận thức về thế giới, về vũ trụ.  Tam tài là một khái niệm về cấu trúc không gian của vũ trụ dưới dạng mô hình ba yếu tố.

Thuyết tam tài – học thuyết về sự thống nhất giữa thiên địa nhân, là gốc của Nho giáo và Ðạo giáo. Kinh Dịch biểu trưng thuyết này qua ba vạch của bát quái: vạch trên cùng là thiên, vạch giữa là nhân, vạch dưới là địa. Thiên – địa – nhân, mối quan hệ trời – người – đất: Trời dương, đất âm, còn người ở giữa (người âm so với trời và dương so với đất) mà trong đó con người là trung tâm trái đất, là tiểu vũ trụ. Con người vừa chịu ảnh hưởng trời đất vừa tác động ngược trở lại trời đất, cái thế chia ba này rất vững vàng.

Thuyết tam tài là một thuyết về mục đích của mọi hành động con người. Thuyết này cho rằng con người phải hòa đồng với vũ trụ ngay cả trong những hành động nhỏ nhất. [1]

Thuyết tam tài còn là một quan điểm về nghĩa vụ của con người. Khổng Tử viết:  “Hậu dĩ tài thành thiên địa chi đạo, phụ tướng thiên địa chi nghi” [2] (Bậc quân tử thể lòng trời đất mà sinh thành vạn vật, bổ cứu khuyết hám, khiến cho đâu đó đều được vuông tròn thành tựu).

Thuyết tam tài cuối cùng còn đề ra được biện pháp cho con người để giữ được chân tâm, để đạt được mục đích chân – thiện – mỹ, để làm tròn bổn phận tài thành thiên địa. Bởi vậy thuyết tam tài là một thuyết về nhân đạo.

Như vậy thuyết tam tài là một tổng thể hài hòa có giá trị cả trong đời sống tinh thần lẫn vật chất đối với cư dân phương nam. Thuyết tam tài có ảnh hưởng rất lớn đến con người không chỉ trong quá khứ mà còn ảnh hưởng đến con người trong hiện tại và cả con người của tương lai bởi những giá trị vĩnh hằng của nó.

2.2. Mối quan hệ Thiên – địa – nhân trong thơ Lý Bạch theo mô hình tam giác

Sống trong thế giới bao la này con người không thể thay đổi được quy luật của tự nhiên nhưng con người có thể cải tạo, tác động đến tự nhiên. Theo mô hình trên ta thấy được cả hai yếu tố thiên và địa đều tác động đến nhân và nhân cũng tác động trở lại thiên và địa thông qua hai điểm nhìn. Với vị trí như đỉnh của một tam giác con người chia thành hai hướng chi phối đến trời và đất. Tam giác Thiên – địa – nhân như một sự kết hợp hài hòa và độc đáo, cả ba cùng tác động và cùng chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Đi sâu vào trong thơ của Lý Bạch ta sẽ thấy rõ hơn về mối quan hệ này, trước hết hãy đến với bài Xa ngắm thác núi Lư:

Nắng rọi Hương Lô, khói tía bay,

Xa trông dòng thác nước sông này.

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.[3]

Mở đầu bài thơ ta bắt gặp ngay địa danh Hương Lô kỳ ảo, Hương Lô là một đỉnh núi ở Tây Bắc núi Lư, thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc ngày nay. Đỉnh núi cao, khói mây bao phủ trông như một lò hương khổng lồ nên đặt tên là Hương Lô. Ngắm nhìn thác núi Lư đổ nước trắng xóa từ núi xuống, xúc cảm trước cảnh đẹp nghiêm trang, hùng vĩ Lý Bạch đã sáng tác bài thơ Xa ngắm thác núi Lư.

Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tác giả là sự uy nghi và thế đứng nghiêm trang, vững vàng của núi Lư (địa). Ở đây tác giả không miêu tả ngọn núi này cao bao nhiêu, cao như thế nào nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được sự bề thế của nó. Đỉnh núi có cao đồ sộ và vách núi có khổng lồ, có rộng lớn thì mới có thể hấp thụ ánh nắng mặt trời một cách tuyệt vời như thế. Bằng chứng là ánh mặt trời đã chiếu rọi vào đỉnh Hương Lô như đốt cháy cả vách núi làm vách núi tỏa ra những luồng khói màu tía thật độc đáo.

Rời đỉnh Hương Lô huyền ảo, ta hãy dõi theo hướng nhìn của Lý Bạch để đến với thác nước và dòng sông. Nếu như ở câu thơ đầu ta không xác định được vị trí quan sát của tác giả thì ở câu thơ thứ hai này ta rõ ràng ta nhìn thấy một Lý Bạch với dáng vấp xa xa trông về nơi có thác nước hùng vĩ và dòng sông rộng lớn (địa). Nhìn từ xa thác nước núi Lư hiện ra trắng xóa, nó nhảy múa tung bay như muốn xé tan cái không gian cao ba nghìn thước; để rồi từ cái không gian đó nó cứ bay thẳng tắp, thẳng tắp xuống tạo thành một dòng sông rộng lớn. Quả là một thác nước mạnh mẽ, phi thường nhưng nó sẽ còn mạnh mẽ và phi thường hơn nữa khi ở câu thơ cuối tác giả đưa đến cho chúng ta một hình ảnh vô cùng bất ngờ và thú vị. Thác nước đổ thẳng từ trên đỉnh xuống mà tác giả Ngỡ rằng dãy Ngân Hà tuột khỏi mây (thiên), dãy Ngân Hà ở trên trời thì làm sao mà tuột khỏi mây để rơi xuống trần gian cho được. Nhưng với trí tưởng tượng hết sức phong phú và giàu hình ảnh, Lý Bạch đã cho ta thấy được có một dãy Ngân Hà đã tuột khỏi mây – đó là dãy Ngân Hà mang tên thác núi Lư. Hình ảnh thác nước tuôn xuống từ độ cao ngang lưng trời ấy được tác giả ví như dãy Ngân Hà với hàng triệu vì sao lấp lánh, tỏa sáng trên bầu trời là một hình ảnh vô cùng sáng tạo và độc đáo. Có lẽ chỉ trong thơ Lý Bạch mới có được hình ảnh tuyệt đẹp như thế.

Suốt bài thơ không có một từ ngữ nào để diễn tả con người nhưng qua bút pháp miêu tả thật tài tình của tác giả ta thấy được hình bóng của con người hiện ra nhưng thật nhỏ bé, bị bao trùm bởi một không gian rộng lớn và hùng vĩ. Mặc dù nhỏ bé, đứng ở một vị trí xa xa nhưng con người vẫn có thể ngắm nhìn đỉnh núi, ngắm nhìn dòng thác để rồi phải ngỡ ngàng và khuất phục trước sức mạnh của cảnh tượng tự nhiên. Con người dù to lớn đến đâu nhưng khi đứng trước cảnh cái mênh mông của thiên nhiên đều trở nên nhỏ bé, mặc dù vậy bao giờ con người cũng là trung tâm của vũ trụ, là chủ thể có tác động mạnh mẽ nhất đến vũ trụ.

Trở lại với toàn bài thơ ta có thấy điểm nhìn của tác giả là một điểm nhìn bao quát được cả thiên lẫn địa, tác giả cùng hướng mắt về cả hai rồi sau đó dùng tài năng và sự tinh tế của mình để vẽ nên bức tranh “thiên địa hữu tình”. Trong bức tranh ấy hình ảnh con người đối lập với hình ảnh thiên nhiên nhưng chính sự đối lập ấy lại tạo nên sự cân đối hài hòa âm dương. Thiên – địa – nhân tất cả đã cùng nhau tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp, một bức tranh rất đổi phù hợp với tính cách phóng khoáng và tâm hồn lãng mạn của nhà thơ.

Khép lại bức tranh ấy chúng ta hãy cùng đến với một bức tranh khác trong một bài thơ khác của Lý Bạch để tiếp tục tìm hiểu thuyết tam tài trong thơ ông theo một mô hình hoàn toàn mới so với mô hình trên.

2.3. Mối quan hệ Thiên – địa –  nhân trong thơ Lý Bạch theo trục thẳng đứng

Phân tích mối quan hệ trên ta nhận thấy con người đứng ở vị trí trung tâm nhìn lên thì có trời, nhìn xuống thì có đất. Trời đất cũng có sự tác động trở lại đối với người, trời đất chính là đối tượng cho cái nhìn của con người. Chúng ta dễ dàng nhận ra mối quan hệ này trong thơ của Lý Bạch mà bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh là một ví dụ. Vận dụng học thuyết tam tài để phân tích bài thơ ta sẽ nhận ra mối quan hệ này một cách rõ ràng và cụ thể:

Đầu giường ánh trăng rọi

Ngỡ mặt đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương.[4]                .

Lý Bạch là người quá nửa cuộc đời sống xa quê hương, nói như thế để ta thấy rằng tình yêu quê hương trong ông lúc nào cũng tha thiết, sâu đậm. Một người xa quê thường rất hay trằn trọc khó ngủ nhất là vào những đêm thanh tĩnh, và Lý Bạch cũng thế. Ông trằn trọc, suy tư nhìn lên trên (thiên) bỗng thấy ánh trăng sáng vằng vặc rọi vào đầu giường; nhìn xuống dưới (địa) thì thấy mặt đất như phủ sương. Phải là một sự quan sát tinh tế và phải là một tâm hồn giàu sức liên tưởng, tưởng tượng thì nhà thơ mới có cái nhìn độc đáo và tuyệt vời như thế. Trong đêm thanh tĩnh, nhẹ nhàng hình ảnh ánh trăng chan hòa đã sáng rọi vào tận chiếc giường của nhà thơ, hay nói cách khác ánh trăng đó đã thấm đượm vào trong tâm hồn của một thi sĩ nhớ quê. Đang say sưa với vầng trăng lung linh huyền ảo (thiên), tác giả bỗng chuyển đổi hướng nhìn đem đến cho người đọc một hình ảnh cũng không kém phần lãng mạn và thơ mộng. Tác giả nhìn xuống mặt đất (địa), cả không gian được chiếu sáng bởi một vầng sáng diệu kỳ đến nỗi tác giả ngỡ đó là sương. Không gian trên bầu trời (thiên), không gian dưới mặt đất (địa) và không gian của lòng người (nhân) tất cả đã hòa quyện tạo nên một bức tranh đêm thật đẹp, thật diệu kì.

Nhưng dường như đó chưa phải là cái tuyệt nhất của bài thơ, mà cái tuyệt nhất của bài thơ có lẽ là ở hai câu cuối: “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương”. Ngẩng, cúi hai hành động thể hiện hai tâm trạng khác nhau của tác giả, ngẩng lên nhìn trăng sáng (thiên) thì phấn khởi vui vẻ nhưng khi cúi xuống (địa) thì lại buồn rầu, tha thiết nhớ quê. Tại sao khi nhìn trăng sáng tác giả lại nhớ quê? Có phải chăng vì tác giả là một nhà thơ có tâm hồn lãng mạn hay vì ánh trăng đã gắn liền với quê hương. Nhưng tất cả đều không quan trọng, cái quan trọng ở đây là nỗi nhớ của tác giả khi xa quê đã mấy mươi năm, nỗi nhớ ấy lại càng da diết hơn, sâu đậm hơn khi đứng trước một khung cảnh yên ả và thanh bình như thế. Đứng ở vị trí là giữa trời và đất tác giả ngẩng đầu lên rồi lại cúi xuống để rồi phải mang trong mình một nỗi nhớ cố hương; điều đó cho thấy rằng chính cái thiên, cái địa ở đây đã tác động đến lòng nhân một cách sâu sắc. Chỉ với hai hành động ngẩng lên rồi cúi xuống nhưng tác giả đã tạo được cái thần bí của bài thơ, đã đem vào trong bài thơ rất nhiều hình ảnh đẹp mà trong đó có lẽ đẹp nhất là hình ảnh nhớ quê của một người nghệ sĩ xa quê đã lâu.

Nhìn lại toàn bộ bài thơ ta cảm nhận được tình yêu quê hương của tác giả được thể hiện qua những thứ rất đỗi bình dị có trong tự nhiên. Nỗi nhớ quê được bắt nguồn từ ánh trăng lung linh trong một đêm thanh tĩnh. Bằng tâm hồn lãng mạn và sự sáng tạo độc đáo nhà thơ đã liên tưởng ra những hình ảnh tuyệt đẹp và đầy thơ mộng (Ngỡ mặt đất phủ sương). Và như thế ta mới thấy hết được sự đồng điệu trong tâm hồn giữa con người với thiên nhiên.

3. Kết luận

Thời kỳ rực rỡ của thơ Đường đã đi vào quá khứ, thơ ca của Lý Bạch cũng đã nằm im vào trong những trang thơ bất hủ của nền văn học Trung Quốc; nhưng mỗi khi có ai đó nhắc đến thì tất cả dường như sống dậy với những gì là nhiệt huyết nhất là tinh túy nhất như chính thời kỳ hoàng kim của nó vậy. Trong bài tiểu luận này cũng thế, suốt quá trình tìm kiếm tài liệu cho đến lúc bắt tay vào việc viết bài, tôi dường như được sống lại trong những vần thơ cháy bỏng của Lý Bạch. Trải lòng mình theo từng bài thơ ta sẽ cảm thấy vô cùng thú vị và ý nghĩa, từ đó càng cháy lên trong mình một tình yêu thơ tha thiết.

Đứng trên phương diện là thuyết tam tài (Thiên – địa – nhân ) ta nhận ra rằng trong thơ Lý Bạch đã có một sự kết hợp rất nhịp nhàng và hài hòa giữa ba yếu tố trời, đất và người. Đó là một sự kết hợp thể hiện sự hòa nhập giữa thiên nhiên và con người; thiên nhiên tác động đến nhận thức, tình cảm của con người và dưới cái nhìn của con người thiên nhiên trở nên hùng vĩ, tươi đẹp hơn. Qua đây ta cũng thấy đươc thuyết tam tài dương như đã đi sâu vào trong tư tưởng của Lý Bạch, bởi có đi sâu có ảnh hưởng to lớn thì ông mới sáng tác nên những vần thơ mang đậm “chất tam tài” như thế. Khám phá thơ ca Lý Bạch từ góc độ thuyết tam tài ta càng thấy đóng góp của Lý Bạch quả lả to lớn, ông đã để lại cho đất nước Trung Hoa nói riêng và cho nền thơ ca của nhân loại nói chung một di sản thơ độc đáo; có rất nhiều vấn đề để ta tìm hiểu, nghiên cứu.

Trong giới hạn cho phép của bài tiểu luận và trong phạm vi kiến thức của bản thân, tôi chỉ có thể khai thác vấn đề ở một vài khía cạnh như: mối quan hệ Thiên – địa – nhân trong thơ Lý Bạch theo mô hình tam giác hay theo trục thẳng đứng, và chỉ phân tích trên một vài bài thơ nhất định. Trong tương lai nếu có điều kiện, tôi sẽ đi sâu và sẽ phân tích trên nhiều bài thơ hơn nữa để thấy rằng tần số xuất hiện của bộ ba thiên – địa – nhân trong thơ Lý Bạch là rất nhiều, rất phong phú. Và nếu có điều kiện hơn nữa, tôi sẽ vận dụng thuyết tam tài không chỉ là bộ ba thiên – địa – nhân mà còn là vận dụng một số bộ ba khác như tuyết – gió – sương, kiếm – trăng – rượu… để phân tích thơ Lý Bạch trên nhiều phương diện, từ đó có thêm cái nhìn mới hơn, đa dạng hơn về thơ của ông.

L.H.N

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Hồ Sĩ Hiệp, Thơ Đường ở trường phổ thông, NXB Tổng hợp Khánh Hòa.

2. Phạm Duyên, Thơ Đường, NXB tổng hợp Đồng Nai.

3. Phùng Hoài Ngọc, Tài liệu Văn học Châu Á 1 ( Văn học Trung Quốc).

4. Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch, NXB Văn Học 1994.

5. Trang web: http://www.google.com


[1] Năng tri vạn vật bi ư ngã. Thiệu Ung, Mai Hoa dịch số, Hà Nội 1995.

[2]  Kinh dịch, quẻ Thái- Phan Bội Châu, Chu dịch, Hà Nội 1996.

[3] Tương Như dịch thơ.

[4] Tương Như dịch thơ.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: