Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn trong hệ thống thể loại văn học Trung Quốc

Những chú cá hạnh phúc của Trang Tử. Nguồn: history.cultural-china.com

Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn trong hệ thống thể loại văn học Trung Quốc

Ths. Nguyễn Thanh Phong*

Tản văn là một trong những thể loại quan trọng của văn học Trung Quốc. Nhiều ý kiến cho rằng, từ khi có văn tự để ghi chép thì đã bắt đầu có thể loại tản văn. Các tài liệu giáp cốt thời cổ đại Trung Quốc ghi chép lại nội dung chiêm bói, cũng như các bài minh được khắc trên chuông đỉnh thời đó tuy nội dung còn thô sơ, nhưng ghi chép sự việc (tự sự) đã khá hoàn chỉnh, ngôn ngữ sinh động, có thể xem là hình thức cổ xưa nhất của tản văn Trung Quốc. Trải qua hơn 3000 năm phát triển cho đến nay, tản văn trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sự hình thành và hưng thịnh của các thể loại văn học khác, trong đó, tiêu biểu nhất là phú và biền văn.

Khái niệm tản văn cũng được xác định theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu nhìn từ nghĩa hẹp, tản văn, phú và biền văn là ba thể loại văn học độc lập nhau. Còn xét từ nghĩa rộng, phú và biền văn đều là những thể loại nhỏ thuộc tản văn, được hình thành trên nền tảng đặc trưng thể loại của tản văn. Hơn nữa, khái niệm tản văn truyền thống cũng khác xa với khái niệm tản văn phổ biến hiện nay. Khái niệm tản văn truyền thống được dùng để phân biệt với văn vần (vận văn), bao gồm những trước tác thuộc các lĩnh vực văn – sử – triết, có hoặc không có đặc tính văn học và sử dụng các thủ pháp sáng tác của văn học cổ điển. Trong khi khái niệm tản văn từ phong trào Ngũ Tứ (năm 1919) trở về sau chịu ảnh hưởng của lí luận văn học phương Tây, được dùng để phân biệt với thơ ca, tiểu thuyết và hí kịch; chỉ bao hàm những sáng tác mang đặc tính văn học và sử dụng các thủ pháp sáng tác của văn học hiện đại. Bài viết này sử dụng khái niệm tản văn dưới góc nhìn truyền thống.

Tản văn, phú và biền văn là ba thể loại có đặc trưng khá gần gũi nhau. Mặc dù ra đời từ thời Ân Thương nhưng cách gọi tản văn chỉ thật sự xuất hiện vào thời Tống và phổ biến rộng rãi thời Thanh. Tập tản văn Trung Quốc sớm nhất còn giữ lại hiện nay là sách Thượng thư, trong đó thiên đầu tiên là Bàn Canh. Bàn Canh tương truyền là vua nhà Thương, muốn dời đô đến đất nhà Ân trước đây nhưng bị thần dân phản đối, nên đã tổ chức ba lần diễn thuyết để nói rõ nguyên nhân dời đô. Vì tản văn dễ đọc, dễ viết nên được giới văn sĩ vận dụng rộng rãi từ trước đến nay.

Phú giai đoạn đầu chưa có sự phân biệt rạch ròi với Sở từ nên gọi chung là từ phú. Các giai đoạn về sau đã có những thay đổi nhất định nên hình thành nhiều cách gọi khác nhau như tao phú, Hán phú, biền phú, cầm phú, luật phú, văn phú. Trong đó, Hán phú giữ vị trí quan trọng và có nhiều ảnh hưởng đến văn học đời sau nhất. Hán phú là loại văn học cung đình, nội dung chủ yếu là ca công tụng đức vua chúa, ca ngợi đất nước mạnh giàu, sản vật phong phú, miêu tả cung điện hoành tráng, hoa viên xinh đẹp, cuộc sống sinh hoạt chè chén xa hoa nơi triều nội.

Biền văn còn được gọi là văn tứ lục, văn biền ngẫu, văn biền lệ, văn biền thể. Phạm vi ứng dụng của biền văn khá rộng rãi; những sáng tác tả cảnh, luận bàn triết học, luận bàn văn nghệ hoặc thư từ đều có thể dùng biền văn để thể hiện. Dưới đây là bảng so sánh đặc trưng thể loại của tản văn, phú và biền văn:

Tản văn

Phú

Biền văn

Giống nhau:1. Dùng câu văn xuôi, ngôn ngữ tự do, linh hoạt, để sáng tác.2. Phương thức biểu đạt chủ yếu: tự sự, trữ tình, luận lí.3. “Hình tản nhi thần bất tản” (Hình thức rời rạc nhưng tinh thần, nội dung không rời rạc).
Không có những qui định, bó buộc, hạn chế theo bất kì khuôn mẫu nào. Có những yêu cầu nhất định về: tu từ, gieo vần, đối ngẫu, thủ pháp thể hiện, thanh luật…
Thủ pháp biểu hiện: tự do, linh hoạt, đa dạng; lấy biểu đạt ý làm mục đích. Phần nhiều sử dụng thủ pháp phô trương, miêu tả tỉ mỉ, lời lẽ bay bổng, trang nhã, hoa lệ; bày tỏ tình cảm khoáng đạt, hào sảng. Kết cấu thường xây dựng theo hình thức vấn đáp. Chú trọng dùng từ ngữ bóng bẩy, đối ngẫu; lời lẽ uyển chuyển, hàm súc, tinh luyện, điển nhã; thường hay dùng điển cố điển tích.
Không có qui định về thanh điệu, vận luật. Không qui định về thanh điệu, gieo vần; nhưng phần nhiều là kết hợp giữa văn vần và văn xuôi. Gieo vần trong phú có khi mỗi câu đều gieo vần, có khi gieo cách quảng. Vì bài phú thường dài nên khi gieo vần thường có hiện tượng đổi vần; vần thay đổi nhiều nhưng nội dung toàn bài vẫn phải nhất quán. Do thường gieo vần nên nhiều đoạn trong bài phú rất giống thơ. Yêu cầu chặt chẽ về thanh bằng trắc đối ngẫu, âm luật hài hòa.
Câu văn không cần đối xứng, phần lớn là câu văn xuôi. Không qui định đối ngẫu, thường kết hợp xen kẽ câu văn biền ngẫu và câu văn xuôi. Câu văn yêu cầu phải đối ngẫu, thường là từng cặp trên dưới có số chữ, từ loại, kết cấu tương đồng nhau và được sắp xếp đối xứng nhau.
Số chữ mỗi câu tùy ý, không hạn chế. Số chữ trong câu tùy ý, nhưng thường dùng 4 chữ hoặc 6 chữ làm chủ, ngoài ra còn đan xen số chữ đa dạng trong câu văn xuôi. Câu văn đối ngẫu phần lớn do 4 chữ và 6 chữ hợp thành, đôi khi xuất hiện câu 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, 9 chữ, 10 chữ.
Thưởng thức: đọc lớn, rõ, âm điệu không chặt chẽ. Âm thanh khi đọc lên nghe nhịp nhàng, chặt chẽ, vui tai. Âm thanh câu văn khi đọc lên thấy chỉnh tề, chặt chẽ,  nhịp nhàng cao độ.

Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn chủ yếu thể hiện ở ba phương diện: thời điểm hình thành và hưng thịnh, nguồn gốc kế thừa và phát triển, vận luật và đặc tính tản văn. Về thời điểm hình thành và hưng thịnh, tản văn ra đời vào thời Ân Thương, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc thịnh hành, tạo thành mốc son hưng thịnh với hàng loạt sáng tác tản văn thời Tiên Tần, góp phần to lớn vào phong khí “Bách gia tranh minh” đương thời. Tản văn phát triển cực thịnh thì một thể loại văn học tiếp thu ảnh hưởng của tản văn ra đời, đó là phú. Phú lưu hành đến thời Tần Hán trở thành thể loại sáng tác chủ yếu của giới Nho sĩ, tạo nên phong khí hoa lệ, trang trọng một thời, nhất là dưới triều đại nhà Hán. Thời kì phú lưu hành rộng khắp thì cũng chính là lúc một thể loại văn học khác tiếp thu đặc trưng tản văn ra đời, đó là biền văn. Biền văn phát triển và đạt đến sự thịnh hành vào thời kì Ngụy Tấn và Lục Triều.

Biểu đồ 1. Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn về thời điểm hình thành và hưng thịnh

 Quá trình phát triển của các thể loại trên rõ ràng mang tính tuần hoàn, khi một thể loại phát triển đến đỉnh cao, được nhiều người sử dụng và có dấu hiệu trở thành khuôn sáo, mất dần tính hấp dẫn thì xuất hiện một thể loại khác thay thế vị trí độc tôn của nó. Mặc dù ba thể loại này có lúc thịnh suy và chiếm giữ những địa vị khác nhau, thế nhưng chúng vẫn tồn tại song song trong dòng mạch phát triển của văn học Trung Quốc.

Về nguồn gốc kế thừa và phát triển, tản văn ra đời gắn liền với sự hình thành của văn tự để ghi chép, cùng với Kinh thi tạo nên thế đối lập về hình thức sáng tác giữa văn vần và văn xuôi. Những tác phẩm viết theo thể phú đầu tiên xuất hiện dưới thời Chiến Quốc của các văn sĩ nổi tiếng đương thời là Cảo Khanh với tác phẩm Phú thiên và Tống Ngọc với Phong phú, bản thân các tác giả này cũng từng sáng tác từ. Phú được hình thành trên cơ sở hình thức tản văn có tiếp thu đặc trưng của Sở từKinh thi. Do từ được xây dựng trên cơ sở lời thơ kết hợp với những điệu hát, nên phú gián tiếp chịu ảnh hưởng lối gieo vần, tu từ của thơ ca và âm điệu hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng của từ. Ngoài ra, phú còn tiếp thu truyền thống phúng thích của Kinh thi và thủ pháp phô trương (trong tả vật, ngôn chí) của Tung Hoành gia thời Chiến Quốc.

Biền văn tiếp thu đặc trưng của từ phú thời Hán Ngụy, do đó đã gián tiếp chịu ảnh hưởng đặc trưng thể loại của tản văn và Kinh thi. Biền văn sử dụng hình thức câu biền ngẫu vốn xuất hiện nhiều trong phú, lặp đi lặp lại với tần suất cao, tạo nên thể loại mà đối ngẫu trở thành đặc trưng tiêu biểu nhất.

Biểu đồ 2. Mối quan hệ giữa tản văn, phú và biền văn về vận luật và đặc tính của tản văn

Về vận luật và đặc tính của tản văn, hình trên đây cho thấy, phú và biền văn là hai thể loại trung gian giữa thơ ca và tản văn. Chúng ra đời trên cơ sở kết hợp tinh hoa thể loại giữa văn vần và văn xuôi nên mang đậm tính chất hòa trộn giữa câu văn gieo vần và không gieo vần. Nhìn từ đặc trưng thể loại, cả hai có thể được xếp vào tản văn; nhưng nhìn vào đặc tính tản văn, thì hai thể loại này lại nghiêng về phía văn vần hơn. Do đó, ở những tiêu chí phân loại khác nhau, phú và biền văn được xếp vào hay tồn tại độc lập với tản văn.

Tản văn, phú và biền văn là ba thể loại quan trọng của văn học cổ điển Trung Quốc, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lên quá trình hình thành và chịu ảnh hưởng lẫn nhau về mặt đặc trưng thể loại. Nếu tản văn đạt đến đỉnh cao thời Tiên Tần thì phú phát triển mạnh cuối Tần đến cả thời Hán, còn biền văn lưu hành từ thời Ngụy Tấn kéo dài đến thời Sơ Đường. Thế nhưng, phú và biền văn do quá truy cầu hình thức nên nội dung dần trở nên hư huyễn, xa rời quần chúng, chỉ thích hợp tả cảnh ngụ tình chứ không thích hợp tự sự.

Mối quan hệ giữa ba thể loại này cho ta thấy rõ hơn tiến trình phát triển thể loại của văn học cổ điển Trung Quốc, một nền văn học mà như nhiều học giả nhận định: “Lịch sử văn học Trung Quốc là lịch sử của các thể loại văn học”.

 N.T.P

Mối quan hệ giữa tản văn, phú, biền văn

Tài liệu tham khảo:

1. Tăng Vĩnh Nghĩa (chủ biên), Cổ điển văn học từ điển, Chính Trung thư cục ấn hành, Đài Bắc, 1990.

2. Trữ Bân Kiệt, Trung Quốc cổ đại văn thể học, Đài Loan Học sinh thư cục, Đài Bắc, 1991.

3. Giản Tông Ngô, Phú dữ Biền văn, Đài Loan Thư điếm ấn hành, Đài Bắc, 1998.

4. Tưởng Bá Tiềm, Tưởng Tổ Di (đồng chủ biên), Biền văn dữ Tản văn, Thượng Hải Thư điếm xuất bản xã, Thượng Hải, 1997.


* Giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư  phạm, Đại học An Giang.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: