Mã Lai du kí

Khu hành chính và thánh đường Hồi giáo trung tâm thủ đô Kuala Lumpur.

Thanh Phong

Tôi rất thích một thói quen của người phương Tây, và bây giờ nhiều người phương Đông cũng bắt chước theo, đó là ghi chép về những nơi mình đi qua. Người phương Tây đi công cán hải hành hay đi du lịch bụi ở bất kì đâu cũng thường ghi chép về trạng thái địa lí, khí hậu, hoàn cảnh cuộc sống và thói quen ứng xử của con người ở đấy. Một điều nghe qua tưởng chừng nghịch lý nhưng ngẫm kĩ lại thấy vô cùng có lý là, muốn tìm hiểu về Châu Á cận đại và hiện đại, người ta cần phải tìm đến tham khảo nguồn sách vở của những tu sĩ truyền giáo, những đoàn thuyền buôn phương Tây sang, tức những người đã từng tiếp xúc và sinh sống ở vùng đất này khoảng thế kỉ XVI – XX. Vô hình trung, thói quen đó đã làm giàu lên vốn hiểu biết cho đất nước, cho những người xung quanh họ. Nhất là trong bối cảnh hợp tác quốc tế thường xuyên như hiện nay, hiểu hơn về mọi phương diện của đối tác, người ta có thể tranh thủ nhiều cơ hội và lợi ích hơn cho mình.

Lúc còn học ở Đài Loan, tôi từng đọc được các quyển sách viết về Việt Nam bằng tiếng Hoa do người Đài Loan, người Trung Quốc và người Mĩ viết. Ấn tượng nhất là những quyển sách viết về đề tài du lịch. Một tay Tây ba lô sau một chuyến tham quan các địa danh ở Việt Nam về Mĩ viết một quyển sách xuất bản. Các nhà xuất bản Đài Loan chớp ngay cơ hội này phiên dịch quyển sách ấy sang tiếng Hoa và xuất bản ở Đài Loan. Quyển sách trở thành cẩm nang vô cùng quan trọng cho những ai muốn sang làm ăn kinh doanh hay du lịch ở Việt Nam.

Tôi có cảm nhận rằng vốn hiểu biết của chúng ta về các nước lân cận còn quá ít, huống hồ chi là các nước xa hơn. Người Việt đi các nước thì nhiều, nhưng ít ai chịu ghi chép về chuyến đi của mình, cùng với những chuyện người thật việc thật mà mình gặp phải. Do đó, người Việt lần đầu xuất ngoại còn bỡ ngỡ và có phần thiếu hiểu biết về phong tục tập quán, thói quen, pháp luật… của nước sở tại. Điều đó ít nhiều gây khó khăn, trở ngại cho quá trình tiếp xúc với người dân và sinh sống lâu dài tại đó.

Tôi cũng muốn bắt chước thói quen của người phương Tây, ghi lại những cảm nhận của mình về những vùng đất đã đi qua, một mặt như là cách để lưu giữ những kỉ niệm trên chặng đường cuộc sống, mặt khác là để chia sẻ những suy nghĩ và cảm nhận của tôi về nơi đó để những ai quan tâm có thể tham khảo.

Khoảng 3 năm trước đây tôi hầu như không biết gì về đất nước Malaysia. Trong đầu tôi, đất nước này cũng như bao quốc đảo Đông Nam Á khác, mờ nhạt, bình thường, không có gì nổi trội, không đáng quan tâm tìm hiểu. Tôi bắt đầu biết nhiều về đất nước này từ khi học chung lớp với các bạn người Malaysia gốc Hoa đang theo học ở Đài Loan. Đó là các bạn: Khâu Thiên Vĩ, Trương Ngọc San, Từ Chí Khang, Thang Bỉnh Siêu, Lại Y Linh, Trần Hữu Nhân… Công bằng mà nói thì các bạn người Mã Lai học tốt hơn cả các bạn Đài Loan. Nguyên nhân có thể là do những bạn Đài Loan học ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn ở đây thường không phải là thành phần ưu tú nhất, hơn nữa trường tôi học là trường tư, bất cứ ai có đủ khả năng đóng học phí thì hầu như có thể vào học. Một nguyên nhân khác có lẽ quan trọng hơn là các bạn người Mã Lai ngay từ nhỏ đã được học trong các trường học người Hoa, vốn hiểu biết về Trung Quốc và thế giới người Hoa của các bạn không kém gì các bạn Đài Loan. Hơn nữa, những người xin được học bổng sang Đài Loan du học đa phần là những sinh viên ưu tú, được tuyển chọn thông qua quá trình thẩm định kĩ lưỡng của đơn vị cấp học bổng.

Khoa Văn học và Ngôn ngữ Trung Quốc Trường Đại học Nguyên Trí có một giáo sư là người Malaysia – GS Chung Di Vân. Cô còn rất trẻ, chỉ khoảng 40 tuổi. Cô và chồng đều từ Mã Lai sang Đài Loan học rồi định cư và công tác lâu dài tại đây. Ngoài là một giáo sư đứng lớp giảng dạy các học phần Văn học người Hoa, Văn học hiện đại Trung Quốc, Văn học người Hoa Mã Lai…, cô còn là một nhà văn khá nổi tiếng của Đài Loan và Mã Lai, đạt được nhiều giải thưởng, được nhiều báo chí ca ngợi. Cô là người thông minh tinh tế, lại có ngoại hình xinh đẹp, thường đi nhiều nơi trên thế giới, lên lớp nghiêm túc và vui vẻ, được nhiều sinh viên yêu quý. Chỉ có điều là cô hơi bênh vực các bạn sinh viên người Mã Lai. Những buổi tranh luận giữa vài bạn sinh viên Đài Loan với sinh viên Mã Lai trong giờ của cô, cô thường hay khen ngợi các bạn Mã Lai. Hay trong các đợt chấm giải cho cuộc thi sáng tác văn học của khoa tổ chức hằng năm, cô vui mừng hơn mức bình thường khi biết sinh viên Mã Lai đạt giải. Thực ra cũng khó trách vì ai cũng có lòng tự tôn và yêu nước, nếu đặt mình vào hoàn cảnh như cô có khi mình còn thiên vị dữ dội hơn. Nhưng chính điều đó khiến một vài bạn Đài Loan không thích cô cho lắm.

Trong các tuần lễ văn hóa sinh viên quốc tế, các bạn Mã Lai thường ăn vận trang phục của 3 cộng đồng người lớn nhất ở đất nước mình để trình diễn thời trang, ca hát nhảy múa. Đó là cộng đồng người Mã Lai bản địa, cộng đồng người Hoa và người Ấn từ Trung Quốc và Ấn Độ di cư đến. Người Mã Lai bản địa theo đạo Hồi, nói tiếng Mã Lai (có lần thấy anh bạn Mã Lai nói tiếng Mã Lai với anh bạn Inđônêsia, hỏi ra mới biết tiếng Mã Lai có nguồn gốc từ tiếng Inđô, hai bên nói chuyện với nhau có thể hiểu được 70%), đặc trưng ngoại hình hơi giống người Chăm ở Châu Phong (An Giang), có nền văn hóa Nam Đảo bản địa. Cộng đồng người Hoa di cư sang Mã Lai từ rất sớm, nhưng quá trình di cư diễn ra ồ ạt vào thời cuối Minh đầu Thanh (cùng thời với Mạc Cửu mang tinh thần “Phản Thanh phục Minh”, không chấp nhận sự thống trị của triều đình Mãn Thanh nên mang toàn bộ gia quyến xuống thuyền xuôi về phương Nam tìm đất định cư sinh sống). Người Hoa sang Mã Lai vẫn giữ gìn những đặc trưng văn hóa truyền thống, sử dụng tiếng Hoa và tiếng địa phương (Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu tùy từng vùng), đa số theo đạo Phật và sau này có thêm Nhất Quán đạo. Cộng đồng Ấn Độ không rõ di cư sang Mã Lai từ lúc nào, có lẽ từ thời thực dân Anh xâm lược Ấn Độ, đồng thời xâm lược Mã Lai rồi mang người Ấn Độ sang đây định cư làm ăn. Người Ấn Độ đa phần theo Đạo Hinđu (tức Ấn Độ giáo, vốn có nguồn gốc từ Bà-la-môn giáo trước đây), nói tiếng Xăng-cơ-rít (tiếng Phạn) và tiếng Anh.

Đây là ba cộng đồng người lớn ở Mã Lai, sống hòa hợp với nhau theo luật pháp sở tại do quốc hội đặt ra. Họ bình đẳng với nhau về nghĩa vụ và lợi ích với đất nước, nhưng trên thực tế giữa họ từng xảy ra ít nhiều mâu thuẫn. Mỗi người Mã Lai thường biết nói nhiều thứ tiếng. Người Mã Lai bản địa ngoài tiếng Mã Lai còn phải biết tiếng Ả-Rập để đọc được kinh Cô-ran, phải biết tiếng Anh để giao thiệp với thế giới và cộng đồng gốc Ấn. Người gốc Ấn ngoài biết tiếng Ấn và tiếng Anh còn phải biết tiếng Mã Lai vì đây là ngôn ngữ quan phương của quốc gia. Còn người Hoa ngoài biết tiếng Hoa (và tiếng địa phương ở Trung Quốc) còn phải biết tiếng Mã Lai để sử dụng trong nước và tiếng Anh để giao thiệp quốc tế. Quốc gia nhiều sắc dân đã đặt họ vào tình thế khó khăn vì bất đồng ngôn ngữ, nhưng mặt khác đó cũng là một ưu thế khi họ có điều kiện học tập và sử dụng được nhiều loại ngoại ngữ. Trên các diễn đàn mạng, nhiều người gốc Hoa phàn nàn là mình phải chủ động học tập ngôn ngữ của họ (tức người Mã Lai và người Ấn) để có thể giao tiếp với họ, trong khi họ chẳng thèm đếm xỉa đến việc học tập tiếng Hoa để có thể giao tiếp được với người Hoa. Người gốc Hoa cho rằng điều này hơi bất công.

Có lẽ bị đặt vào thử thách nhiều hơn, lại được trui rèn nhiều hơn, và nhất là truyền thống vươn lên để sinh tồn từ lâu đời, nên người gốc Hoa ở Mã Lai thường có địa vị xã hội cao hơn hai nhóm người còn lại, mặc dù những địa vị chủ chốt của đất nước thường do người gốc Mã Lai bản xứ nắm giữ. Tôi để ý thấy nhiều nhà hàng, quán ăn, nhiều cửa hiệu, khách sạn của ông bà chủ người Hoa nhưng có nhân viên giúp việc là người gốc Mã Lai hay người gốc Ấn Độ. Nhiều người gốc Hoa tự hào rằng chính nhờ có sự đóng góp to lớn của cộng đồng người Hoa mà Mã Lai phát triển và có vị thế được như ngày hôm nay (Mã Lai được xếp ở vị trí thứ 23 trên thế giới về tiềm lực kinh tế). Điển hình là việc, người Anh rút đi đã để lại cho Mã Lai một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, một nền tư pháp và hệ thống chính quyền theo mô hình phương Tây có quy cũ và hoạt động hiệu quả. Thế nhưng sau khi tiếp quản, người Mã Lai không phát huy được tác dụng và hiệu lực của nó, đến khi người Hoa được giao trọng trách thì mọi chuyện ổn thỏa đâu lại vào đấy. Theo lời một cô người Hoa cho biết, người Mã Lai trước đây chỉ biết sống dựa vào nguồn dầu mỏ thiên nhiên, không chịu nỗ lực tính toán làm ăn, sự thành công của Mã Lai hiện nay có sự góp phần rất lớn của cộng đồng người Hoa, nên người Mã Lai bản địa rất tôn trọng và biết ơn người Hoa.

Tôi tập trung nói nhiều phần này bởi lẽ vấn đề sắc dân ở Mã Lai là vấn đề khá phức tạp. Ngay việc làm thế nào điều hòa được các phần lợi ích của các sắc dân để giữ vững ổn định và phát triển cũng là một bài học lớn. Một điều cần quan tâm nữa là Mã Lai nằm trong vùng ít chịu thiên tai nhất, hằng năm không có bão, không có động đất hay sóng thần vì hầu như được các nước khác che chở xung quanh. Địa hình Mã Lai chia làm 2 phần là Đông Mã (giáp Inđônêsia) và Tây Mã (giáp Thái Lan và Singapore), do đó Mã Lai có điều kiện khai thác được nhiều lợi thế về tự nhiên và xã hội trong quan hệ với các nước khu vực Đông Nam Á.

Nền giáo dục Mã Lai nhìn chung khá phát triển. Đây là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á được nhà nước cho phép xây dựng các trường học dành riêng cho con em người Hoa từ cấp mẫu giáo đến bậc Đại học nằm trong hệ thống nền giáo dục quốc dân. Do đó, trình độ giáo dục bằng Hoa ngữ của họ có thể so sánh tương đương với người đi học cùng cấp ở Trung Quốc hoặc Đài Loan. Gần đây, tôi còn biết thêm thông tin, nhiều con em gia đình người Chăm Châu Phong (An Giang) theo đạo Hồi được các tổ chức Hồi giáo trên thế giới cấp học bổng du học tại các trường đại học Hồi giáo ở Malaysia. Tại đây, các bạn học sử dụng thành thạo tiếng Anh trước khi vào học chuyên ngành, đa số theo học các ngành là thế mạnh của các nước Hồi giáo như dầu khí, hóa dầu, lọc dầu… Nhiều người đã tốt nghiệp và về lại Việt Nam làm việc cho các công ty ở Tp.HCM, sau đó trích lương trả lại chi phí đào tạo cho tổ chức Hồi giáo đã cấp học bổng. Nguồn tiền đó tiếp tục được sử dụng để hỗ trợ cho các tín đồ đạo Hồi tiếp theo sau.

*        *

*

Tôi biết mình có cơ hội sang Mã Lai dự Hội thảo vào đúng ngày làm lễ tốt nghiệp ở Đại học Nguyên Trí. Cô Chung Vân Oanh đã nói với tôi về việc này nhưng tôi còn bán tín bán nghi, tôi nghĩ rằng cô bận rộn quá nhiều việc nên truyền đạt thông tin nhầm người. Bẵng đi mấy tháng, tôi trở về Việt Nam công tác không để ý việc này nữa, cô Chung bèn gửi email bảo nộp bài gấp cho Hội thảo Văn học và Văn hóa người Hoa Châu Á lần thứ II, diễn ra tại trường Đại học Malaya, Malaysia. Tôi tức tốc nộp bài. Và thế là Khoa Trung văn của trường này gửi thư mời cho tôi, đồng nghĩa với việc tôi nhận được một vé tài trợ sang Mã Lai dự hội thảo.

Chuyến bay dài hơn 2 giờ đồng hồ đưa tôi từ Tp.HCM đến thủ đô Kuala Lumpur. Điều mà tôi ấn tượng đầu tiên khi đáp xuống đất nước này là một rừng cọ bạt ngàn bao quanh một sân bay rộng lớn và hiện đại. Người Mã Lai trồng nhiều cọ để lấy dầu bán, nghe nói loại dầu ép từ trái cọ này có thể dùng làm mỹ phẩm, hóa chất, thậm chí dầu nhờn bôi trơn các thiết bị máy móc. Do đó, cây cọ là loại cây mang lại lợi nhuận lớn cho nông dân Mã Lai, cũng giống như vai trò của thóc lúa, tiêu điều ở Việt Nam.

Ra sân bay đón tôi là hai em sinh viên người Mã Lai gốc Hoa (1 nam 1 nữ) đang học tại khoa Văn học và Ngôn ngữ Trung Quốc, Trường Đại học Malaya. Hai em nhanh nhẹn, vui vẻ, cởi mở, đón tôi bằng chiếc xe bốn bánh của một trong hai em. Sinh viên Mã Lai có tác phong hiện đại và thông minh trong ứng xử, gần giống với nhiều sinh viên Đài Loan mà tôi từng gặp. Hai em đưa tôi đến khách sạn rồi ra về, không quên để lại số điện thoại liên lạc nếu tôi cần giúp đỡ. Giá tiền khách sạn ở Mã Lai đặc biệt đắt, cô Chung cố tình chọn đặt khách sạn rẻ nhất ở đây, vậy mà mỗi đêm cũng tốn gần 1 triệu đồng tiền Việt, còn các khách sạn khác ít lắm cũng phải 1,5 triệu đồng. Cô Chung cũng lắc đầu ngao ngán vì giá phòng còn đắt hơn ở Đài Loan.

Trường Đại học Malaya là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất của Malaysia. Trường có diện tích rộng, nằm trên một ngọn đồi trồng đầy thông, đường chạy vào trường địa hình không bằng phẳng lắm. Kiến trúc có vẻ cũ kĩ, các tòa nhà không đồ sộ như ở các trường Đại học Đài Loan, được cái trong sân trường có nhiều loại chim chóc và nhen sóc, chúng dạn dĩ đi đứng chạy nhảy không hề sợ sệt con người. Tôi đến Mã Lai vào đúng dịp lễ tết gì đó của người theo đạo Hồi. Nhà trường cũng đang trong dịp nghỉ lễ nên hơi vắng lặng, sinh viên đều về thăm gia đình. Còn đường phố thì cũng vắng vẻ hơn thường ngày, các cửa hiệu kinh doanh cũng đóng bớt đi.

Người Mã Lai đặc biệt giàu lòng yêu nước và tự tôn dân tộc. Tôi kể một ví dụ điển hình để các bạn thấy điều này. Khi tất cả khách mời tập trung vào hội trường chuẩn bị tiến hành lễ khai mạc Hội thảo, một thứ trưởng Giáo dục của Mã Lai là người gốc Hoa đến tham dự và phát biểu khai mạc. Khi ông và lãnh đạo nhà trường bước vào phòng thì người điều khiển chương trình yêu cầu cả hội trường đứng dậy để vỗ tay chào đón. Điều này khá xa lạ với thông lệ ở các Hội thảo Quốc tế tại Đài Loan, giới học giả không câu nệ việc cung kính hoan nghênh chào đón nhà lãnh đạo theo hình thức như vậy. Thêm nữa, tất cả đại biểu tham dự đến từ nhiều quốc gia còn phải hát quốc ca Malaysia và Hiệu ca Malaya trước khi Hội thảo bắt đầu. Dĩ nhiên những ai không phải là người Mã Lai thì vô phương hát, chỉ đứng nghiêm trang cung kính nghe mọi người hát mà thôi. Bản thân tôi thấy điều này có gì đó là lạ. Các hội thảo quốc tế ở Đài Loan và ngay cả ở Việt Nam cũng không có những nghi thức này. Cô Chung sau này cũng nói rằng cô cảm thấy bất ngờ trước hình thức tổ chức của họ, có cái gì đó quá câu nệ hình thức. Thực ra, vấn đề nghi thức là quy định riêng của mỗi quốc gia, mỗi nơi, họ có quyền làm như vậy để hun đúc lòng tự hào dân tộc và lòng yêu nước của họ.

Thủ đô Kuala Lumpur có diện tích khá rộng, đường sá chỉnh chu thông thoáng, xe cộ thưa thớt (có lẽ vì đây là dịp lễ), đa phần là xe bốn bánh, thỉnh thoảng có xe máy phân khối lớn chạy xen, chứ không nườm nượp xe máy như Việt Nam. Người Mã Lai thừa hưởng di sản thuộc địa của thực dân Anh để lại nên giao thông cũng mang những đặc trưng của Anh. Cái dễ thấy nhất là chạy xe bên lề trái, chứ không chạy về phía lề phải như Việt Nam. Người không quen đi lề trái thì khó mà tham gia giao thông ở đây được. Đường sá rợp bóng cây, nhà cửa cất cách xa lộ chứ không chồm sát lề đường như ở Việt Nam, còn người dân thì thưa thớt, có lẽ họ ở trong nhà chứ không đổ xuống đường nhiều.

Công trình kiến trúc tiêu biểu nhất và nổi tiếng nhất ở Mã Lai là tháp đôi Kuala Lumpur. Ai đến Mã Lai đều hy vọng có dịp đến đây tham quan hai ngọn tháp kì vĩ và rực rỡ ánh đèn màu khi màn đêm buông xuống. Phải nói hai tòa tháp quá đồ sộ, phía trước có đài nước phun và quảng trường rộng lớn tụ tập đông người đến tham quan chiêm ngưỡng. Số tiền bỏ ra xây những tòa nhà chọc trời này phải nói là khổng lồ, nhưng khi nó được thế giới biết đến thì thu hồi vốn chẳng mấy hồi. Giống như tòa nhà 101 ở trung tâm thành phố Đài Bắc của Đài Loan, hằng ngày có hàng ngàn khách trong nước và quốc tế đổ về đây tham quan mua sắm, khiến cho nơi đây trở thành đô thị sầm uất. Khách tham quan muốn lên đỉnh tháp để ngắm toàn cảnh thành phố phải trả 400 Đài tệ tiền đi thang máy cao tốc. Vậy mà hằng ngày luôn có đông đảo khách xếp hàng mua vé tham quan, đặc biệt là các đoàn khách đến từ Đại lục.

Một điểm tham quan khá lý tưởng khác ở thủ đô Kuala Lumpur là khu hành chính quốc gia và dinh tổng thống. Phải nói khu vực này khá rộng, nằm về phía ngoại ô thành phố, đắc địa về mặt địa thế phong thủy với núi đồi trập trùng, sông nước mênh mông. Dinh tổng thống là một tòa nhà nguy nga, xung quanh cũng là những công trình kiến trúc hùng vĩ mà tiêu biểu là thánh đường Hồi giáo thủ đô. Tất cả quay quần quanh một quảng trường rộng lớn có treo cờ quốc gia ở giữa và cờ của 11 bang châu tuần xung quanh. Khu vực này không cấm người xe qua lại, họ còn chính thức cho phép khách tham quan đến tham quan chụp ảnh, có điều chỉ được đứng bên ngoài hàng rào chứ không được phép vào dinh tổng thống và thủ tướng.

Một điểm khá lý thú là các nước Hồi giáo hình như đều sống nhờ vào dầu mỏ, hoặc bản thân đất nước họ có nguồn dầu mỏ dồi dào. Các nước có đông tín đồ Hồi giáo ở khu vực Trung Đông và các nước Đông Nam Châu Á hình như đều có đặc điểm chung như vậy. Đến mức có người nói vui rằng, chỉ cần hằng ngày đến thánh đường hay quay mặt về thánh địa Jerujalem hành lễ thánh Alah 5 lần thì nguồn dầu mỏ cứ mãi tuôn trào, người dân không sợ thiếu đói. Đó là đặc ân của đấng siêu nhiên dành cho những quốc gia có nhiều tín đồ Hồi giáo ngoan đạo.

Trong một lần đi ăn cơm cùng với các học giả người Mã Lai gốc Hoa tại một quán cơm chay cũng của người Hoa, tôi gặp một người Việt Nam đang làm việc tại đây. Anh là người quê ở Hải Dương hay Bắc Ninh tôi không nhớ rõ, đã sang Mã Lai xuất khẩu lao động vài năm. Anh phục vụ cho quán cơm chay của ông bà chủ người Hoa, được chủ quán quý mến khen ngợi và giới thiệu khi biết tôi cũng là người Việt Nam. Anh nói tiếng Hoa rất khá, khả năng ứng xử nhanh nhạy, lại điềm đạm trầm tĩnh như một tín đồ có đạo. Tình đồng hương nơi xứ người quả thật quý giá. Tôi thật sự khâm phục những người có ý chí sống vươn lên như anh, dám chấp nhận bôn ba xứ người để làm giàu cho bản thân, gia đình và đất nước mình. Nhất là khi sống trong một xã hội đua chen xô bồ và áp lực công việc nặng nề, anh vẫn giữ được bản chất và lòng thiện của con người mình.

Đi lần này, tôi cảm thấy nước mình vẫn còn quá nghèo, lại thêm cái bát nháo xô bồ, nề nếp trật tự xã hội không ra sao cả. Giáo sư Chung chỉ tôi một kinh nghiệm nho nhỏ là, đi đến một quốc gia nào cũng vậy, chỉ cần đứng nhìn xe cộ chạy trên đường như thế nào, cách chạy xe của người ta ra sao, có tuân thủ tín hiệu giao thông hay không… là có thể đoán được thực trạng xã hội và trạng thái tâm lý của đa số người dân sống ở đó. Tôi nghĩ kinh nghiệm này của cô quả thật chí lý.

Chia tay Mã Lai, chia tay vùng đất hiền hòa dễ mến. Chuyến đi tuy ngắn ngày nhưng đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu đậm khó thể phai nhòa. Hy vọng trong tương lai tôi sẽ có dịp trở lại Mã Lai. Tôi tin là như vậy…

T.P

Advertisements

4 phản hồi (+add yours?)

  1. cowboydanh
    Th4 25, 2012 @ 04:38:19

    Ac ac

    Phản hồi

  2. Tuyet Trinh
    Th5 20, 2012 @ 02:57:00

    that tuyet voi! nhat dinh minh phai den moi duoc.

    Phản hồi

  3. minh nguyet
    Th9 18, 2012 @ 01:27:32

    hihi! di xa thu vi qua thay oi. mai mot cho em ji may ban di ke nua nhe thay.

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: