Đáp án đề thi HKII môn Văn học Châu Á II

Rama giết quỷ vương Ravana. Nguồn: vanminhthegioi.blogspot.com

Câu 1: (5 điểm)

Qua ba tác phẩm: sử thi Ramayana, sử thi Mahabharata và kịch thơ Sơkuntơla, anh/ chị hãy khái quát nên hình tượng người anh hùng và người phụ nữ lý tưởng trong quan niệm của người dân Ấn Độ.

Trả lời:

a. Tiền đề xã hội, đạo đức luân lí ở Ấn Độ thời đại Sử thi:

– Ấn Độ được chia thành nhiều vương quốc nhỏ, chế độ quân chủ phong kiến ra đời. Các cuộc xung đột vũ trang giữa các vương quốc, chủng tộc liên tiếp nổ ra.

– Người anh hùng được ca ngợi, đề cao. Sử thi Ramayana và Mahabharata là những bài ca vĩ đại ca ngợi chiến công hiển hách, khí phách hào hùng của các anh hùng lí tưởng mà nhân dân ngưỡng mộ, tôn thờ. Khi mâu thuẫn giữa giai cấp lãnh đạo hình thành, trước tiên họ tiến hành hòa giải, không được thì sau đó mới đi đến chiến tranh. Họ đề ra điều luật của chiến tranh là công bằng, nhân đạo; mục đích cuối cùng của chiến tranh là hòa hợp, hòa bình.

– Bàlamôn giáo ở Ấn Độ đề cao lí tưởng đạo đức và bổn phận của Ksatrya, hướng con người vào điều thiện chống cái ác, sống theo đạo lí công bằng, bác ái Dharma.

– Nhân vật trong sử thi Ấn Độ rất phong phú: người anh hùng, đạo sĩ, người phụ nữ thần thánh, ma quỉ, quái vật… Trong đó, người anh hùng và người phụ nữ lý tưởng luôn là những nhân vật trung tâm.

b. Hình tượng người anh hùng lý tưởng qua 3 tác phẩm: Rama (Sử thi Ramayana), 5 anh em Panđava (Sử thi Mahabharata), vua Đusơnta (Kịch thơ Sơkuntơla).

– Người anh hùng ấy xuất thân thần thánh, có uy quyền (thường là vua chúa, hoàng tử kế vị), có phẩm chất anh hùng. Ở họ kết tinh 3 phẩm chất cao quý: tình yêu thủy chung, chiến đấu anh hùng, trái tim cao thượng.

– Họ là những người tài đức song toàn, đề cao lý tưởng và đạo đức của thời đại, có lòng hướng thiện mạnh mẽ.

– Họ luôn phải đấu tranh tiêu diệt cái xấu, sống trong sự xung đột giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo lí và phi đạo lí.

– Họ luôn lấy chiến thắng của đạo đức và công lý, hoàn thiện bổn phận và danh dự mà Đacma đề ra làm mục tiêu cuộc sống.

c. Hình tượng người phụ nữ lý tưởng qua 3 tác phẩm: Sita (Sử thi Ramayana), Nàng Đrôpađi (Sử thi Mahabharata), Nàng Sơkuntơla (Kịch thơ Sơkuntơla)

– Người phụ nữ xuất thân thần thánh, là con cháu của các vị thần linh; có nguồn gốc quyền uy và cao quý.

– Họ là những người xinh đẹp tuyệt trần, làm say đắm bao anh hùng lẫn ma quỷ.

– Họ là mẫu người phụ nữ Ấn Độ chung thủy, tiết hạnh, hiền từ, nhân hậu, nhu mì.

– Họ có tình yêu quên mình hiến dâng bất chấp gian nguy tính mạng, họ kiên trinh bất khuất trước ác quỷ, chống trả quyết liệt và nguyền rủa kẻ thù để bảo vệ tình yêu trong sáng của mình.

– Có lòng tự trọng, tôn trọng phẩm giá cao quý của mình. Khi bị người yêu nghi ngờ oan ức thì một mực kêu oan, khóc lóc, thậm chí đánh đổi cả tính mạng để minh chứng sự trong sạch của mình.

d. Người anh hùng và người phụ nữ lý tưởng thường đi đôi với nhau: Họ kết thành vợ chồng, trở thành một cặp anh hùng – mĩ nữ hoàn hảo.

Câu 2: (5 điểm)

Trình bày đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ Hai-cư. Phân tích bài thơ Hai-cư sau đây của thiền sư Ba-sô:

Mùa xuân ra đi

Tiếng chim thổn thức

Mắt cá lệ đầy.

(Giáo trình Văn học Châu Á II – Phùng Hoài Ngọc)

Trả lời:

a. Đặc điểm nghệ thuật (hình thức) của thơ Hai-cư:

– Trong bài thơ Hai-cư bắt buộc phải có quý ngữ (ki-go).

– Thơ Hai-cư thường chỉ “gợi” chứ không “bình”, kết thúc thường không có gì rõ ràng.

– Tuân thủ nguyên lý “Tính tương quan hai hình ảnh”: hình ảnh lớn, trừu tượng (vũ trụ) với hình ảnh nhỏ, cụ thể (đời thường) ghi dấu thời gian và nơi chốn.

– Mỗi bài thơ có kết cấu 3 câu với số âm tiết tương ứng 5-7-5 (17 âm tiết).

b. Đặc điểm nội dung của thơ Hai-cư:

– Con người hòa điệu làm một với không gian và cảnh vật, lặn sâu vào lòng sự vật để cảm nhận nó.

– Chỉ miêu tả những sự vật ở thực tại và lặng thinh, đó là khoảng trống của “chân không” (Thiền).

– Không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt theo bản chất tự nhiên của nó.

– Tác giả bộc lộ một cách kín đáo tình cảm của mình trong tác phẩm: niềm vui sống, sự cô đơn, lòng yêu cảnh vật, nhớ người thân, bùi ngùi trước cảnh đời ngắn ngủi, phù du; sự hòa điệu vĩnh cửu với thiên nhiên…

– Thơ thường đưa ra hai hình ảnh: một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời gian và nơi chốn.

– Một bài thơ Hai-cư hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để người đọc tự suy diễn, cảm nhận.

– Hai-cư là một loại thơ thiền, một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết. Ðây là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người.

c. Phân tích bài thơ Hai-cư:

– Xác định quý ngữ của bài thơ: Mùa xuân (đang chuyển sang mùa hạ).

– Tính tương quan hai hình ảnh:

+ Mùa xuân ra đi: đại diện cho sự vận động 4 mùa của đất trời tiếp nối nhau không ngừng nghỉ. Đó là hình ảnh trừu tượng và mang tầm vóc vũ trụ.

+ Chim, cá: đại diện cho những sinh vật nhỏ bé, cụ thể của thế giới đời thường. Chúng sống trên trời, dưới nước một cách hài hòa với tự nhiên. Chúng cảm nhận tinh tế mọi sự biến đổi của thời tiết, không khí của tự nhiên và trời đất.

– Cá và chim ở đây được miêu tả đầy tinh tế: Chim thì kêu thổn thức, còn cá tuôn lệ đầy mắt. Điều này cho thấy cá và chim đều tiếc thương mùa xuân, buồn khóc khi mùa xuân đã đi qua. Chúng tận hưởng mùa xuân, sống và gắn bó với mùa xuân như bè bạn. Vòng đời của chúng ngắn ngủi, không biết sau mùa xuân này chúng có còn tiếp tục sống sót và tồn tại nữa không. Từ đó, ta nhận ra rằng, cá và chim mang cảm xúc của con người, nhạy cảm trước sự sang mùa của trời đất; chúng sống và thở cùng nhịp thở của vũ trụ.

– Qua bức tranh thiên nhiên tuy đơn sơ mà sống động đó, cảm xúc của Ba-sô hiện lên thật rõ rệt. Tác giả quan sát cuộc sống của cá và chim, hóa thân mình vào các sinh vật nhỏ bé đó để cảm nhận vòng quay của tạo hóa. Nhà thơ có một tâm hồn rung động nhạy cảm, một đời sống nội tâm phong phú, một sự tồn tại hòa điệu mãnh liệt với thiên nhiên và cuộc sống.

(Ở phần này, tùy theo khả năng cảm thụ và sáng tạo, sự trình bày mạch lạc, trôi chảy của SV mà GV cho điểm tương xứng).

Trên đây là đáp án đề thi môn Văn học Châu Á II. Mọi quan điểm và suy nghĩ mới của bản thân SV vẫn được ghi nhận.

Thanh Phong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: