Thử giải thích mối quan hệ giữa học thuyết “Tam tài” và mô-típ “Đăng cao” trong thơ ca cổ điển phương Đông

Bức thư họa cho bài thơ Đăng cao – Đỗ Phủ. Nguồn: silenhill-badmonk.blogspot.com

 Học thuyết Tam tài vốn được đề xuất và nhắc đến nhiều trong kinh điển Đạo gia và cả Nho gia. Trong Đạo đức kinh, Lão Tử nói: “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”. Bản thể luận mà Lão Tử bàn đến ở đây đã được người đời sau phát triển thành một luận thuyết về vũ trụ quan: “Đạo sinh thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tam tài, tài tài sinh tứ tượng, tứ tượng sinh ngũ hành, ngũ hành sinh bát quái, bát quái sinh thế giới vạn vật”[1]. Chúng ta có thể thấy vị trí xuất hiện trong chuổi chuyển hóa liên tiếp trên của Tam tài. Tam tài vốn là ba nhân tố có quan hệ tương tác mật thiết và có nhiều dạng thức biểu hiện khác nhau: Thiên – địa – nhân, Nhật – nguyệt – tinh, Phụ – mẫu – tử, Quá khứ – hiện tại – tương lai, Thiên đường – thế gian – địa ngục, Thời gian – không gian – con người… Trong đó, bộ ba Thiên – Địa – Nhân là dạng tiêu biểu nhất, là nhân tố cốt lõi của Tam tài. Trong bài viết này, chúng tôi thử nghiệm giải thích mối quan hệ giữa học thuyết “Tam tài” và mô-típ “Đăng cao” trong thơ ca cổ điển phương Đông, cụ thể là thơ Đường của Trung Quốc.

Thử dùng học thuyết Lưỡng nghi (Âm – Dương) để bàn về mối quan hệ Thiên – Địa – Nhân. Chúng ta đều biết, trong tương quan với Địa và Nhân, Thiên đóng vai trò là Dương; trong tương quan với Thiên và Nhân, Địa đóng vai trò là Âm; còn Nhân có vai trò khá đặc biệt, là Âm đối với Thiên và là Dương đối với Địa. Vì vậy, con người ở trong trời đất không chỉ được xem là nhân tố trung tâm, mà còn bình đẳng với trời đất. Đây là cơ sở quan trọng để thi nhân nhận thức rằng mình là một tiểu vũ trụ trong lòng đại vũ trụ, là một bộ phận không thể tách rời với trời đất.

Trong Kinh Dịch, quan điểm về Tam tài được cụ thể hóa thành ba hào trong một quẻ của Bát quái: hào cao nhất đại diện Thiên, hào ở giữa đại diện Nhân và hào dưới cùng đại diện Địa, đó cũng là chứng cứ của quan niệm “Tam sinh vạn vật”. Giữa các nhân tố trong Tam tài có mối quan hệ mật thiết, trong suốt chu trình vận hành không hề tách rời, cũng không thể khuyết đi một trong ba bộ phận ấy. Lấy ví dụ, mặt trời, khí tượng, mây mưa trên bầu trời đều chi phối đến đời sống của con người và tình trạng núi sông, biển cả, cây cối, cầm thú trên mặt đất; ngược lại, những thứ trên mặt đất cũng đều ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sự vận hành của trời. Con người cũng không ra ngoài quy luật ấy, những việc con người làm cũng sẽ ảnh hưởng đến hoàn cảnh tự nhiên bên ngoài. Câu thành ngữ “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa” thể hiện cho sự dung hợp hài hòa của Tam tài, có được cả ba yếu tố ấy, công việc nhất định sẽ thành công mỹ mãn. Chương Nguyệt chiến trong Binh pháp Tôn Tẫn bàn về tính quan trọng của việc dung hòa “Thiên – Địa – Nhân”: “Thiên thời, điạ lợi, nhân hòa, ba thứ không đạt được vẹn toàn, dù thắng thì trong đó cũng có mầm mống tai ương”. Mạnh Tử trong thiên Công Tôn Sửu hạ của Lễ kí cũng đặc biệt nhấn mạnh vị trí cực kì quan trọng của con người trong trời đất: “Được thiên thời chẳng bằng được địa lợi, được địa lợi chẳng bằng được nhân hòa”. Do đó, đạt được nhân hòa là quan trọng nhất.

Học thuyết Tam tài đặt ra những đòi hỏi nghiêm khắc đối với cách hành xử trong cuộc sống của con người. Thuyết này quy định, mọi động thái của con người trong sự tương tác với trời đất, ngay cả những việc làm nhỏ bé nhất, cũng đều phải dựa vào quan hệ tương quan với trời đất. Theo đó, con người sinh sống thuận theo tự nhiên, phải hồn nhiên hòa hợp với trời đất, không được quay đầu lại bức hại tự nhiên. Sống như vậy mới phù hợp với bản chất  thuần phác vốn có của con người. Nho gia chú trọng thực hiện một thứ Tam tài thống nhất chặt chẽ, đặc biệt khẳng định sự liên quan giữa đạo người và đạo trời đất, thậm chí cho rằng về bản chất chúng không hề có sự khác biệt. Con người không thể không căn cứ vào đạo lý của trời đất để xây dựng nên đạo lý làm người. Học thuyết Tam tài thống nhất ba bộ phận trọng tâm trong vũ trụ là Thiên – Địa – Nhân. Ta có thể thông qua mối quan hệ này để hiểu rõ hơn bản chất con người.

Sáng tác thơ ca là một dạng hành động chứa đựng ý đồ chủ quan của tác giả, mục đích là để bày tỏ thái độ, tình cảm khi đối mặt với một hoàn cảnh cụ thể, cũng có thể chỉ là nói lên một hoài bão, giáo huấn về một đạo lí nhân sinh ở đời. Nhưng mà, mục đích của nhà thơ và hoàn cảnh bên ngoài nhất định cần nối kết với nhau, ít nhất cũng phải có sự tương tác theo hướng liên quan, xâu chuỗi hay đối lập nào đó… Khi đó, thơ ca mới được thể hiện ra bên ngoài.

Mối quan hệ giữa thi nhân và trời đất là một vấn đề hết sức đặc biệt, trong trường hợp này thi nhân là đại diện cho vị trí của con người trong sự tương tác với trời đất. Mối quan hệ giữa “Thiên – Địa – Thi nhân” có thể diễn đạt bằng các dạng sơ đồ sau:

Hình 1. Quan hệ “Tam tài” trong thơ ca theo phương thẳng đứng

Hình 1 thể hiện quan hệ giữa “Thiên – Địa – Thi nhân” theo phương thẳng đứng. Trong trường hợp này, con người đứng ở giữa trời đất, ở vị trí trung tâm của vũ trụ. Con người đứng trên mặt đất nên cảm thấy rất gần đất, trong khi khoảng cách đến trời là rất xa, vì vậy con người có xu hướng “đăng cao”, tự mang mình đến gần với trời hơn, ở vị trí thích hợp hơn trong mối tương quan với trời đất, xóa bỏ cảm giác cách xa bầu trời. Đây là một trong các lí do giải thích tại sao thơ ca trước đây thường sử dụng mô-típ đăng cao. Ngoài nguyên nhân này, đăng cao còn giúp cho thi nhân bao quát dễ dàng hơn phạm vi không gian ở giữa trời đất, giúp cho con người hiểu về trời và đất hơn. Thi nhân “đăng đài”, “đăng sơn”, “đăng lâu” có thể quan sát tình hình trời cao đất rộng, thấy được góc biển chân trời, áo trắng chó xanh, muôn dặm sông núi, cửa ải xa xôi, bãi xanh cát trắng, dương liễu đầu đường, sông tạnh cỏ thơm… Con người lúc này trở thành trung tâm của bức tranh thiên nhiên, ngang hàng với trời đất, cùng tồn tại với trời đất. Vì thế, cảm hứng của con người vũ trụ sẽ dâng trào trong lòng nhà thơ. Nhà thơ lúc này sẽ cảm thấy ung dung tự tại, gột tan mọi ưu sầu phiền muộn, dễ dàng trở thành con người “vô ngã” hoặc “đại ngã”.

Một số bài thơ theo mô thức này có thể kể là: Độc tọa Kính Đình sơn (Lí Bạch), Tảo phát Bạch Đế thành (Lí Bạch), Độ Kinh Môn tống biệt (Lí Bạch)… Ở một phương diện khác, nhà thơ sẽ cảm thấy con người vô cùng nhỏ bé, hữu hạn, yếu đuối, không trường tồn so với trời đất. Nhờ đó, con người có cơ hội phản tỉnh về hoàn cảnh của bản thân, lắng lòng vào thế giới tình cảm nội tâm sâu kín. Lúc này, phần lớn nhà thơ sẽ cảm thấy bi ai, âu sầu, phiền muộn, cô đơn, hoài cổ, không vừa lòng với hiện tại, thương cảm cho thế sự, hoài niệm về cố hương… Có thể kể một số bài thơ sáng tác theo mô thức này như: Đăng U Châu đài ca (Trần Tử Ngang), Tĩnh dạ tư (Lí Bạch), Đăng cao (Đỗ Phủ), Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu)…

Hình 2. Quan hệ “Tam tài” trong thơ ca theo hình tam giác.

Hình 2 mô tả mối quan hệ giữa “Thiên – Địa – Thi nhân” theo hình tam giác. Trong trường hợp này, con người là một thực thể bình đẳng, đối lập với trời đất. Mô thức này so với hình 1 có mặt tương đồng và cũng có mặt khác biệt, tương đồng ở chỗ con người cùng với trời đất là 3 thực thể độc lập đối ứng nhau, con người trở thành trung tâm của bối cảnh; còn khác biệt ở chỗ trời đất và con người tác động lẫn nhau theo mô hình tam giác, mà không phải quan hệ theo phương thẳng đứng. Phát sinh quan hệ như vậy, con người tất nhiên phải đứng ở một vị trí rất đặc biệt, có thể bao quát toàn bộ không gian và thời gian. Có thể kể một vài tác phẩm điển hình thuộc loại này: Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài (Lí Bạch), Đăng Quán Tước lâu (Vương Chi Hoán)…

Hình 3. Quan hệ “Tam tài” trong thơ ca theo phương nằm ngang

Hình 3 mô tả mối quan hệ “Thiên – Địa – Thi nhân” theo phương nằm ngang. Thông thường, trong trường hợp này, trời và đất dung hòa, phối hợp mạnh mẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất. Thể thống nhất này tác động trở lại con người, tạo nên mối quan hệ đối ứng mật thiết. Trường hợp này dẫn đến 2 tình huống. Tình huống thứ nhất, quan hệ giữa con người với khối trời đất thống nhất đó rất mãnh liệt, khoảng cách ngày càng gần, sự dung hòa của trời đất sẽ khiến cho con người cảm thấy hứng thú, phấn khởi, như bài Vọng Lư Sơn bộc bố (Lí Bạch). Lúc này, thi nhân không phải là một thực thể hạt nhân ở trong thơ, địa vị quan trọng của con người bị giảm xuống, phong cảnh tự nhiên của trời đất biến thành nhân tố quan trọng. Mục đích sáng tác thơ, vì vậy, chủ yếu là để ca ngợi trời đất hùng vĩ, cảnh sắc tráng lệ, tự nhiên hoàn hảo… Loại thơ này không giống với các loại khác nghiêng về mặt trữ tình, mà nó thuần túy chỉ là loại thơ vịnh cảnh, vì vậy nhà thơ không tỏ chút thống khổ bi ai, mà đầy ắp trong đó sự vui tươi, hưng phấn, lạc quan, hào sảng trước cảnh vật. Tình huống thứ hai, cả hai mặc dù tác động lẫn nhau, nhưng khoảng cách giữa chúng ngày một rộng, sức mạnh liên kết xuống thấp, xuất hiện khuynh hướng li khai. Lúc này trời đất không có quan hệ mật thiết với con người, con người cảm thấy không có sự tương thông với trời đất, từ đó cảm thấy cô độc, ưu sầu. Nhất là khi cuộc sống của con người vốn đã mang những tâm sự bi thống, phẫn uất. Cách miêu tả này thông thường lột tả nỗi niềm bi cảm, phiền muộn trong bối cảnh tống biệt hay chiến trường, như các bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lí Bạch), Quân hành (Lí Bạch)…

Tóm lại, có chăng sợi dây vô hình nối kết chặt chẽ giữa hành động “Đăng cao” với việc tự nhận thức về vai trò của con người trong tương quan với trời đất? Sự kết nối chặt chẽ, hài hòa hay không giữa Thi nhân với trời đất thể hiện qua vài nét phác họa trong bài thơ có liên quan gì đến thái độ và cảm xúc của con người trong bài thơ? Cái “thần” và cái “khí” của tác phẩm mà lí luận văn học cổ điển Trung Quốc nhấn mạnh phải chăng là thần thái và khí cốt của con người khi đối mặt với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội? Có chăng một con đường tiếp cận tác phẩm văn học cổ điển với điểm xuất phát là hệ thống tư tưởng triết học cổ điển? Bài viết này đã góp một phần nhỏ bé để minh giải những câu hỏi trên.

Nguyễn Thanh Phong

Tài liệu tham khảo

 1. Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử – Đạo đức kinh, Nxb Văn hóa Thông tin, Tp.HCM, 2006.

2. Phùng Hoài Ngọc, Thi ca từ Trung Hoa, Nxb ĐHQG Tp.HCM, Tp.HCM, 2008.

3. Khâu Tiếp Hữu (chú thích), Đường thi tam bách thủ, Tam Dân thư cục, Đài Bắc, 2006.


[1] Cũng có thuyết khác phát biểu như sau:“Đạo sinh thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh thế giới vạn vật”.

 

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: