Tư tưởng Trời trong triết học cổ điển Trung Quốc

Tranh thư họa cây tre. Nguồn: http://phongthuysaobang.com

Tư tưởng Trời trong triết học cổ điển Trung Quốc

 Ths. Nguyễn Thanh Phong*

Trời (Thiên) từ trước đến nay luôn là một phạm trù quan trọng trong hệ thống triết học Trung Quốc[1]. Có thể nói, loài người từ khi thoát khỏi đời sống của động vật và tiến hóa lên người, hình thành năng lực phán đoán tư duy, đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu, giải thích sự vận hành của trời đất. Khi đó, việc quan sát trời đất và giới tự nhiên không ngoài mục đích truy cầu một cuộc sống ổn định, bền vững. Nếu nắm bắt được quy luận vận hành của tự nhiên, sử dụng những tri thức này để điều chỉnh hành động và thái độ sống của mình, con người có thể sinh tồn hòa hợp với tự nhiên, có thể đối phó hiệu quả trước những biến đổi khắc nghiệt của hoàn cảnh cuộc sống. Khi đó, con người xem trời đất là mục tiêu, là chuẩn mực, tôn sùng giới tự nhiên, thậm chí thần thánh hóa giới tự nhiên, xem trời là vị chủ tể tối cao sáng tạo ra và làm chủ vũ trụ. Về sau, sự hiểu biết của con người về giới tự nhiên ngày càng phong phú, để duy trì lâu dài cuộc sống bình yên và no ấm, con người đã tiến thêm một bước để chinh phục và làm chủ giới tự nhiên. Quá trình đó khiến cho tư tưởng triết học về Trời ở Trung Quốc không ngừng phong phú thêm, thậm chí đan xen nhiều mâu thuẫn phức tạp.

 Thần thoại Trung Quốc ngay từ xa xưa đã bắt đầu đề cập đến phạm trù Trời. Trong đó, tiêu biểu nhất có thể kể Bàn Cổ khai thiên, Nữ Oa bổ thiên, Ngưu Lang Chức Nữ, Thường Nga bôn nguyệt, Khoa Phụ đuổi mặt trời, Chuyện năm ngọn núi thần… Nhưng những câu chuyện thần thoại thời cổ đại này rõ ràng chỉ là một kiểu giải thích hồn nhiên, thuần phác của người xưa về Trời thông qua trí tưởng tượng phong phú của họ.

Chữ Trời trong kim văn (văn tự khắc trên đồ sắt, đồng) thời cổ đại Trung Quốc có nghĩa là đỉnh đầu, phía trên đầu, là hình ảnh một con người đội trên đầu cả bầu trời. Học giả đời Tống Hứa Thận trong cuốn Thuyết văn giải tự giải thích về Trời như sau: “Trời, ở phía trên đầu, chí cao vô thượng, kết hợp của ‘nhất’ và ‘đại’[2]. Quan niệm trên cho thấy rằng, trong cách nhìn nhận của cư dân Trung Quốc cổ đại, Trời là thế giới sự vật và hiện tượng bao la rộng lớn trên đầu con người, bao gồm bầu trời, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, mây gió, mưa bão, sấp chớp… Trời rộng lớn vô tận, con người có thể dùng mắt để nhìn, dùng tai để nghe, chứ không thể đo lường được, càng không thể suy đoán đầy đủ sự biến hóa muôn hình vạn trạng của nó. Đây được xem là hàm nghĩa đầu tiên, nguyên gốc của phạm trù Trời.

Trời bản thân cũng là một sự vật hiện tượng của tự nhiên. Trời tự nhiên đã có, không phải vì ý chí nguyện vọng của con người mà hình thành, nên Trời từ chỗ là thế giới hiện tượng trên đầu con người mở rộng thêm hàm nghĩa “tự nhiên nhi nhiên”, tức tự nhiên, bản thân nó vốn là vậy[3]. Quan điểm này có nguồn gốc từ Đạo gia, khác với quan niệm về “tự nhiên”, “thiên nhiên” của Nho gia[4]. Hàm nghĩa này đồng thời ám chỉ quy luật vận hành của tự nhiên, như kiểu bốn mùa xuân hạ thu đông trong một năm tự nhiên nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Đó cũng là bản chất tồn tại của giới tự nhiên.

Trời từ hàm nghĩa hiện tượng tự nhiên và qui luật tự nhiên tiếp tục mở rộng sang hàm nghĩa vị thần linh tối cao vô thượng, tức Thượng đế. Trong hoàn cảnh không có cách nào để giải thích rõ ràng bản chất của Trời, cộng thêm sức tưởng tượng phong phú dưới thời nguyên thủy, còn người gán cho Trời hàm nghĩa thần tối cao. Ngoài các cách gọi là Trời hay Thượng đế, trong điển tịch Trung Quốc xưa còn có nhiều cách gọi khác cùng mang hàm nghĩa này là: Hoàng thiên, Thượng thiên, Hạo thiên, Thương thiên, Mân thiên, Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng thiên Thượng đế, Hạo thiên Thượng đế, Minh Chiêu Thượng đế…[5] Trời ở đây không chỉ thống lĩnh giới tự nhiên như trăng sao, sấm chớp, mà còn thống lĩnh cả xã hội loài người như trật tự xã hội, chính trị pháp luật, đạo đức nhân luân… Do đó, Trời là vị thần tối cao đồng thời giữ tư cách chủ tể cả giới tự nhiên và xã hội. Hàm nghĩa này vô hình trung dẫn đến việc mở rộng phạm trù Trời sang các hàm nghĩa khác: mệnh trời, ý trời, lòng trời, lý trời…

Căn cứ vào Kinh Thi và Kinh Thư, Trời được xem là có đặc trưng tính cách của con người. Trời có ý chí, luôn hướng tới điều chí thiện, luôn đề cao chính nghĩa. Trời không chỉ thống lĩnh điều hành các hiện tượng tự nhiên, mà còn thống lĩnh cả “chính đạo” trong xã hội[6]. Có thể thấy rằng, vì Trời vô cùng thần bí, sức mạnh vô song, vượt ra khỏi mọi sự đo lường của tư duy con người, có khả năng chở che hóa dục muôn loại, nên Trời được tôn xưng là vị thần tối thượng có đủ mọi năng lực. Trời và con người giống nhau ở chỗ không ngừng hướng thượng để truy cầu những điều thiện mĩ.

Trời làm chủ vạn vật, nhưng Trời làm thế nào để thực hiện quyền uy tối thượng đó của mình? Người Trung Quốc xưa cho rằng Trời có ý chí và mệnh lệnh. Do đó, dẫn đến phát sinh hai hàm nghĩa của Trời là ý trời và mệnh trời.

Quan niệm về “ý trời” ngay từ thời Ân Thương đã có, người sau này góp công khẳng định và đề cao thuyết “ý trời” là Mặc Tử. Mặc Tử nhấn mạnh Trời có ý chí, là vị thần tối cao có đủ quyền năng thưởng thiện phạt ác. Mặc Tử nói: “Người thuận ý trời, hành sự yêu quí lẫn nhau, mưu sự lợi ích lẫn nhau, người đó ắt sẽ được thưởng; còn người nghịch với ý trời, hành sử thù ghét lẫn nhau, giao tế mưu toan ám hại nhau, người đó ắt sẽ bị trời phạt.[7] (Mặc Tử, Thiên chí thượng) Có thể thấy rằng, ý trời là tiêu chuẩn để Mặc Tử suy xét hành động và lời nói của mọi người, đồng thời lấy đó để khuyên răn người cầm quyền biết hành thiện bỏ ác. Ý trời cũng chính là lòng trời, Trời mong muốn con người thương yêu nhau và mang lợi ích đến cho nhau, Trời ghét những người thù ghét và mưu hại nhau; Trời mong muốn con người nhân nghĩa và ghét người bất nhân bất nghĩa; Trời ghét nước lớn ỷ thế hiếp đáp nước nhỏ, ghét người có quyền uy ăn hiếp kẻ thường dân. Rõ ràng, tư tưởng “ý trời” của Mặc Tử có tác dụng duy trì trật tự xã hội, thiết lập chuẩn mực đạo đức và công bằng xã hội. Quan niệm này rõ ràng đã mượn quyền uy của Trời để biểu hiện lý tưởng, ý chí và nguyện vọng của bản thân ông và mọi người dân đương thời.

Quan niệm về “ý trời” có mối quan hệ nhất quán với quan niệm “mệnh trời”. “Mệnh” được đề cập đến ở đây vốn có nghĩa là “mệnh lệnh”, “mệnh trời” chính là mệnh lệnh do thượng đế ban xuống. Vậy làm sao để tiếp thu mệnh trời? Các nhà Nho Trung Quốc cho rằng, “mệnh trời” được thể hiện thông qua các sự vật và hiện tượng tự nhiên như: thiên tai dịch họa, núi sông cây cỏ, chim thú côn trùng… Nếu các sự vật và hiện tượng trên phát sinh điều dị thường, tức là đã đại diện cho một chủ ý nào đó muốn truyền đạt đến con người của thượng đế. Thông qua quan niệm này, các sự vật và hiện tượng tự nhiên được liên hệ với Trời. Vì vậy, “mệnh trời” là phương thức biểu đạt của “ý trời”. Vì ý chí của Trời là cố định không thể thay đổi nên mệnh lệnh của Trời cũng trở thành một định luật kiên cố, con người chỉ có thể tuân hành, không thể đối lập phản kháng. Vì vậy, “mệnh trời” chuyển sang hàm nghĩa là số mệnh, vận mệnh, định mệnh mà con người bị động tiếp nhận và không thể cải biến.

Nho gia bàn nhiều về “mệnh trời”, người tiếp nối quan điểm truyền thống và xây dựng thành học thuyết “mệnh trời” là Khổng Tử[8]. Theo quan điểm Nho gia, “mệnh trời” là một kiểu định mệnh mang tính tất nhiên bên ngoài con người, con người chỉ có thể thuận ứng theo mệnh trời mà không thể phản kháng đối nghịch tính tất nhiên đó, đồng thời cũng phải thuận theo ý chí của Trời. Nói như vậy, phải chăng chúng ta đã thừa nhận Trời có khả năng định đoạt mọi sự hưng vong của quốc gia, trị loạn của xã hội, thọ yểu của đời người; con người hoàn toàn bất lực trước ý trời, bó tay trước số mệnh? Không hoàn toàn như vậy, Trời mặc dù là chủ tể thống lĩnh vạn vật, thế nhưng ý chí của Trời lại chịu sự chi phối và tác động qua lại lẫn nhau với ý chí của con người. Trong mối quan hệ với bậc đế vương, mệnh trời thông thường thuận với ý dân[9]. Như vậy, bản thân “mệnh trời” có quy luật hình thành của nó, chứ không phải tùy tiện thiết lập mà không dựa trên bất cứ nguyên tắc nào.

Từ đời Tống trở đi, Trời có thêm hàm nghĩa là “lý trời” (thiên lý). Hai anh em môn đồ Nho gia Trình Di, Trình Hạo đề xuất mệnh đề “Thiên giả, lý dã” (Trời chính là lý), chính thức bổ sung hàm nghĩa “lý trời” cho phạm trù Trời[10]. Tư tưởng “lý trời” do Trình Di vận dụng tư tưởng Nho – Phật – Lão tổng hợp mà thành. “Lý trời” tức là quy luật vận hành của “đạo Trời” (thiên đạo), nguyên lý về đạo đức luân lý xã hội, cùng với nguyên lý biến hóa của vạn sự vạn vật. Hàm nghĩa “lý trời” của Trời rõ ràng có mối quan hệ mật thiết với ý trời, mệnh trời. Không chỉ như vậy, quan niện về “lý trời” của Trình Di nhất định tương thông với quan niệm “đạo Trời”. Về sau, lí học gia Chu Hi đã kế thừa học thuyết “thiên lý” của Trình Di và Trình Hạo, đề xuất các mệnh đề “Thiên tức lý dã, kì tôn vô đối” (Trời tức là lý chúng không đối lập nhau), “Thiên chi sở dĩ vi thiên giả, lý nhi dĩ” (Trời sở dĩ được gọi là Trời, vì nó có lý), “Nghịch lý, tắc hoạch tội ư thiên hĩ” (Đi ngược lại lý, tức tạo tội với Trời) để khẳng định Trời có ý nghĩa là “lý trời”.

Nhà Nho đời Minh Vương Thủ Nhân (tức Vương Dương Minh) lấy Tâm để giải thích Trời. Ông cho rằng: “Tâm giả, thiên địa vạn vật chi chủ dã, tâm tức thiên, ngôn tâm tức thiên địa vạn vật giai cử chi hĩ” (Tâm làm chủ trời đất vạn vật, tâm tức là Trời, nói đến tâm tức là đã bao hàm trời đất vạn vật ở trong đó). Theo ý kiến của Vương Thủ Nhân, vạn sự vạn vật, bao hàm cả “vật lý đến “thiên lý” đều không tồn tại ở bên ngoài tâm, ở ngoài tâm không có sự vật sự việc, cũng không có cả “lý”. Tâm tức là Trời, Trời bao hàm cả trời đất vạn vật ở bên trong, đặc tính rộng lớn và phổ biến khắp mọi nơi của Trời cũng chính thể hiện đặc tính của Tâm. Do đó, vạn sự vạn vật từ một Tâm này mà sinh ra, Tâm của Trời cũng chính là hình ảnh phản chiếu Tâm của người, chỉ có một điều khác là Tâm của Trời vốn tuyệt đối thiện lành không ác[11].

Tóm lại, Trời là một trong những phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc, nội hàm của nó vô cùng phong phú, hàm chứa phạm vi vô cùng rộng lớn[12]. Chúng tôi tạm thời chỉ ra các hàm nghĩa thượng đế, đạo trời, thiên nhiên, ý trời, mệnh trời, lý trời, tâm trời… Có thể kết luận, quá trình diễn biến về hàm nghĩa của phạm trù Trời phản ánh quá trình diễn biến tư tưởng quan niệm của người Trung Quốc xưa. Mặt thần bí của Trời ngày một nhạt dần, mặt triết học lý tính của Trời ngày một sâu đậm, điều này chứng tỏ sự phát triển không ngừng của khoa học tự nhiên luôn ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng quan niệm của các triết gia. Hơn nữa, theo xu hướng điều hòa, dung hợp giữa ba trường phái triết học Nho – Phật – Lão, tư tưởng về Trời cũng theo đó mang thêm màu sắc dung hợp tư tưởng tam giáo.

N.T.P


* Giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Đại học An Giang.

[1] Học giả Trương Lập Văn trong cuốn “Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên” phát biểu: “Trời là phạm trù cổ xưa nhất, thường thấy nhất trong hệ thống triết học cổ điển Trung Quốc; đồng thời, Trời cũng là phạm trù xuyên suốt tự cổ chí kim. Từ thời Tam đại trở về sau, Trời luôn là vấn đề trọng tâm mà các nhà triết học quan tâm tìm hiểu. Ngày nay, mặc dù cách giải thích và nhìn nhận về Trời so với người trước có nhiều khác biệt, nhưng Trời vẫn luôn là một đề tài triết học thu hút nhiều người quan tâm”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 1).

[2] Hứa Thận, Thuyết văn giải tự, nguyên văn:「天,顛也,至高無上,從一大。」(Thiên, điên dã, chí cao vô thượng, tùng nhất đại).

[3] Học giả Lí Thân trong cuốn “Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học” giải thích quá trình mở rộng hàm nghĩa này như sau: “Trời là cách gọi chung của vạn vật, trạng thái tồn tại của vạn vật có điểm chung là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Do đó nói đến Trời, tức là chỉ những thứ vốn ‘tự nhiên nhi nhiên’ mà hình thành; ngược lại, nói đên những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’ mà hình thành tức cũng là nói đến Trời. Từ đó, tự nhiên và Trời trở thành từ đồng nghĩa, Trời bắt đầu mang hàm nghĩa ‘tự nhiên nhi nhiên’, ‘thiên nhiên’ gọi tắt là Thiên”. (Lí Thân, Trung Quốc cổ đại triết học hòa tự nhiên khoa học, Thượng Hải Nhân Dân xuất bản xã, Thượng Hải, 2001, trang 102).

[4] Tác giả Trương Lập Văn nhận định: “Đạo gia cho rằng Trời là tự nhiên, loại tự nhiên này không phải giới tự nhiên mà Nho gia tuyên nói, mà là ‘tự nhiên nhi nhiên’. Mặc dù Đạo gia cũng xem Trời là vật chất tự nhiên, nhưng cũng nhấn mạnh tính chất và đặc điểm căn bản của nó là ‘tự nhiên vô vi’, so với quan niệm xem Trời là sự vật hiện tượng tự nhiên của Nho gia có điểm khác biệt”. (Giống chú thích 1, trang 2).

[5] Cách viết chữ Hán của những từ trên lần lượt là: 皇天、上天、昊天、蒼天、旻天、玉皇上帝、皇天上帝、昊天

上帝、明昭上帝等。

[6] Dư Đôn Khang cho rằng: “Trong hệ thống tư tưởng thần học thiên mệnh thời Tây Chu, Trời được dùng để chỉ vị thần tối cao đồng thời mang tư cách chủ tể thống lĩnh giới tự nhiên và xã hội. Vị Trời này không chỉ thống lĩnh mặt trời, mặt trăng, các vì sao, chưởng quản tất cả thần linh của giới tự nhiên, luôn quan tâm không mệt mỏi đến trật tự cuộc sống con người, thiết lập hệ thống quy phạm đạo đức và trật tự xã hội cho loài người”. (Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 45~50).

[7] Nguyên văn:「順天意者,兼相愛,交相利,必得賞;反天意者,別相惡,交相賊,必得罰」(Thuận thiên ý giả, kiêm tương ái, giao tương lợi, tất đắc thưởng; phản thiên ý giả, biệt tương ố, giao tương tặc, tắc đắc phạt) (墨子‧天志上)。

[8] Học giả Mâu Chung Giám (牟鍾鑒) bàn về tư tưởng “mệnh trời” của Khổng Tử như sau: “Khổng Tử tin tưởng và kính sợ mệnh trời, ông đã giải thích mệnh trời trên cơ sở triết học, Khổng Tử nói: ‘Chỉ có Trời là lớn’ (唯天為大,Duy thiên vi đại) (Luận ngữ, Nghiêu viết), ‘Sợ mệnh trời’ (畏天命,Úy thiên mệnh) (Luận ngữ, Quí thị), ‘Năm mươi tuổi mà biết được mệnh trời’ (五十而知天命,Ngũ thập nhi tri thiên mệnh) (Luận ngữ, Vi chính). Học sinh của Khổng Tử là Tử Hạ cũng nói rằng: ‘Sống chết có số mệnh, giàu sang là do trời sắp đặt’ (生死有命,富貴在天 Sinh tử hữu mệnh, phú quí tại thiên) (Luận ngữ, Nhan Uyên). Khổng Tử cho rằng việc sống chết, giàu sang khốn khó và sự nghiệp thành bại của đời người là do trời quyết định, nên con người không thể xem thường Trời”. (Giống chú thích 7, trang 90).

[9] Tác giả Trương Lập Văn cho rằng: “Nhà Nho quan niệm, ý chí của trời và ý chí của dân không xung đột đối lập nhau, mà có tính nhất trí nhau. Sự thành bại, hưng vong của vương nghiệp nhà Thương Chu đều do nhà vua biết “kính đức bảo dân”; ai biết “kính đức bảo dân”, người đó sẽ được hoàng thiên chấp nhận cho trị vì thiên hạ; bằng ngược lại, hoàng thiên sẽ giáng tai ương để cảnh cáo thiên tử, sau đó thu hồi sứ mệnh trị vì thiên hạ”. (Giống chú thích 1, trang 2).

[10] Học giả Lí Thân tiến hành kết hợp hai khái niệm “Thiên” và “Lý”, từ đó nhận định: “Khi nhận thức của con người về thế giới ngày một sâu sắc thì người ta phát hiện ra rằng, không chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, mà ngay cả kết cấu tự thân của sự vật, quan hệ tương hỗ giữa các sự vật, tính tất nhiên liên động của sự vật… đều là những quá trình vận động khách quan không chịu sự ảnh hưởng của con người, tiếp đó lại lấy trật tự xã hội và các loại hành vi quy phạm do trật tự xã hội quyết định, cũng đều xem như một thứ tồn tại tự nhiên, xưa nay không đổi, con người chỉ có thể tuân thủ, mà không thể làm trái ngược. Cái này lúc đầu gọi tên là ‘lý’, sau đó gọi là ‘lý trời’. ‘Lý’ tức là tồn tại tự nhiên, là xu thế tất nhiên, cũng chính là Trời, Trời vì vậy mang hàm nghĩa của ‘lý’, hơn nữa, hàm nghĩa của Trời bản thân nó cũng đã bao hàm ‘lý’. (Giống chú thích 3, trang 102-103).

[11] Học giả Trương Lập Văn nhận định: “Tâm ý của Trời là nhân đức thương người, thông qua âm dương nóng lạnh mà thể hiện lòng yêu mến điều nhân, tránh xa điều ác, mở mang đức lớn, dùng hình phạt nhẹ. Khi Trời dùng các hiện tượng tai dị để khiến trách, cảnh cáo thiên tử, thì cũng là lúc Trời thể hiện bản tâm nhân đức, yêu mến việc mang lại lợi ích cho con người. Nói như vậy có nghĩa là, bản chất của Trời đã hàm chứa các chuẩn mức đạo đức luân lý nhân, nghĩa, trung, tín… Chính vì bản thân đã hàm chứa những phẩm chất đạo đức, cho nên Trời có thể phú cho con người những đức tính nhân, nghĩa, trung, tín…” (Giống chú thích 1, trang 9).

[12] Học giả Trương Đại Niên thống nhất các hàm nghĩa của Trời thành ba nhóm: chủ tể tối cao, thế giới tự nhiên rộng lớn và nguyên lý tối cao. (Trương Đại Niên, Phân tích tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất” trong triết học Trung Quốc, Bắc Kinh đại học học báo – Triết học xã hội khoa học bản, 1985, kì 1). Học giả Trương Lập Văn chia quá trình diễn biến về hàm nghĩa của phạm trù Trời thành 9 giai đoạn, tương ứng với 9 nét nghĩa khác nhau: “Diễn biến của phạm trù Trời trong triết học Trung Quốc, từ thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) sang thời Xuân Thu Chiến Quốc, Tần Hán, Ngụy Tấn, đến thời Tùy Đường, Tống Minh Thanh, cho đến thời cận đại suốt bốn năm ngàn năm phát triển, có 9 giai đoạn tiến triển từ Thiên đế → Thiên đạo → Thiên nhân → Thiên nhiên → Thiên chân → Thiên lý → Thiên tâm → Thiên khí → Thiên diễn, thể hiện tinh thần thời đại của mỗi giai đoạn hoặc tinh hoa trào lưu tư tưởng của mỗi thời đại”. (Trương Lập Văn chủ biên, Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 20).

 

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: