So sánh chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn của trường đại học Việt Nam và Đài Loan

Sinh viên Sư phạm Ngữ văn Đại học An Giang chụp hình với nhà văn Nguyên Ngọc. Nguồn: enews.agu.edu.vn

So sánh chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn của trường đại học Việt Nam và Đài Loan

ThS. Nguyễn Thanh Phong[1]

I. Đặt vấn đề:

Đài Loan là vùng lãnh thổ gồm một đảo lớn và nhiều đảo nhỏ nằm trên biển Hoa Đông, cách Trung Quốc đại lục 120 km về phía Đông – Đông Nam, tổng diện tích 36.000 km² (gần bằng 1/9 lần diện tích Việt Nam), dân số năm 2011 là hơn 23 triệu người (xấp xỉ ¼ lần dân số Việt Nam). Đài Loan được xem là một trong những nơi có nền giáo dục tiên tiến ở các nước Châu Á, nhiều lĩnh vực học thuật có thể sánh ngang với Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Đến năm 2012, toàn Đài Loan có 162 học viện, trường đại học và cao đẳng, số lượng sinh viên hơn 1.313.000 người. Luật Đại học của Đài Loan tại điều 1 có viết: “Trường đại học phải lấy nghiên cứu học thuật, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao văn hóa, phục vụ xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển, làm tông chỉ”. Kiên trì thực hiện mục tiêu đó, năm 2008, Đài Loan có 20 trường đại học lọt vào Top 1000 trường đại học hàng đầu trên thế giới.[2]

Đào tạo lĩnh vực sư phạm ở Đài Loan có các học viện sư phạm và đại học sư phạm. Các trường này chuyên đào tạo giáo viên giảng dạy ở trường trung học, tiểu học và mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân. Ngoài ra, còn có hệ thống các trường công lập và tư thục đa ngành có các khoa, viện đào tạo chương trình giáo dục học. Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan được thành lập năm 1946, nằm ở trung tâm thành phố Đài Bắc. Đây là trung tâm đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục, thuộc vị trí hàng đầu Đài Loan hiện nay; đồng thời, là nơi chuyên đào tạo sinh viên đủ các chuyên ngành sư phạm có uy tín cao tại Đài Loan.[3]

Sư phạm Ngữ văn Trung Quốc là một trong những chuyên ngành đào tạo ở đây. Mục tiêu là đào tạo giáo viên giảng dạy Ngữ văn ở bậc trung học trên toàn vùng lãnh thổ. Do đặc trưng của nền quốc học Trung Quốc có nhiều điểm khác Việt Nam, nhất là tình trạng văn – sử – triết bất phân trong nền văn học cổ điển, nên Khoa Ngữ văn Trung Quốc ở đây cũng được biên chế không giống Việt Nam. Ở các trường đại học Việt Nam, văn sử triết thường là 3 lĩnh vực hoàn toàn tách rời theo tư duy học thuật nặng về phân tích của phương Tây. Còn ở đa phần các trường đại học Đài Loan, Khoa Ngữ văn ngoài hai nhóm lĩnh vực ngôn ngữ và văn học chính như chúng ta thường thấy ở Việt Nam, còn có các nhóm chuyên ngành kinh học, sử học, triết học, văn tự học (nghiên cứu chữ viết Trung Quốc là một lĩnh vực khoa học riêng biệt); các trường sư phạm như Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan còn có cả nhóm chuyên ngành giáo dục học và phương pháp dạy học ngữ văn. Kiểu biên chế chuyên môn này mang tính tổng hợp rõ nét, phù hợp với đặc trưng tư duy học thuật của người phương Đông, nhất là người Trung Quốc cổ xưa; đồng thời, cách chia nhỏ các nhóm chuyên ngành cũng thể hiện tư duy phân tích tiếp thu từ nền học thuật phương Tây.[4]

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tiến hành so sánh chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn của trường Đại học Việt Nam và Đài Loan để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt tạo nên đặc sắc riêng của mỗi nơi, đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong chương trình của ta để các cơ quan hữu quan tham khảo khi xây dựng chương trình mới. Về phía Việt Nam, chúng tôi lựa chọn Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho ngành Sư phạm Ngữ văn do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để làm đối tượng so sánh. Về phía Đài Loan, chúng tôi lựa chọn chương trình đào tạo chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn mà hiện tại Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan đang áp dụng để làm đối tượng so sánh[5]. Dĩ nhiên, chúng tôi không đi sâu bàn bạc về vấn đề thiết kế các nhóm môn học và từng môn học cụ thể bởi lẽ hệ thống ngôn ngữ và nền văn học của hai bên, mặc dù có nhiều điểm tương đồng, nhưng về cơ bản là khác biệt nhau. Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung so sánh mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, thời gian đào tạo, khối lượng kiến thức toàn khóa, quy trình đào tạo, thang điểm, nội dung chương trình, các khối kiến thức chuyên ngành… nhằm cung cấp cho người đọc cái nhìn tương quan khá đầy đủ về chương trình đào tạo của hai bên.

II. Điểm giống nhau trong chương trình đào tạo của hai bên

Chương trình đào tạo là tài liệu cực kì quan trọng không chỉ đối với việc xin mở mã ngành, mà hơn thế, đối với cả quá trình đào tạo chuyên ngành đó tại trường đại học. Không đơn thuần chỉ là bản giao ước về quá trình đào tạo giữa người dạy và người học, mà hơn thế, nó còn quyết định chất lượng đào tạo và bản sắc riêng của mỗi ngành học, mỗi trường đại học. Về khái niệm chương trình đào tạo, chúng tôi xin được dẫn ra ý kiến của học giả Mĩ Tim Wentling như sau: “Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở sinh viên sau khóa học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.”[6] Với ý nghĩa như vậy, chúng tôi xin được chỉ ra một vài điểm chung khi so sánh chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn của Bộ Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan.

1. Về mục tiêu đào tạo, có thể thấy cả hai bên đều hướng đến mục tiêu chung là đào tạo giáo viên trung học chuyên ngành Ngữ văn, sau khi tốt nghiệp có thể làm tốt công tác giảng dạy tại các trường trung học, hoặc có thể đảm nhiệm công việc nghiên cứu trong nhà trường.

2. Về chuẩn đầu ra, có thể thấy cả hai bên đều đề cao yêu cầu phát triển toàn diện ở người học về các mặt phẩm chất đạo đức, kiến thức và kĩ năng. Cụ thể là, đào tạo người học có những hiểu biết đầy đủ, vững vàng về khoa học Ngữ văn và giáo dục học, có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực thực hiện công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong môi trường giáo dục…

3. Về thời gian đào tạo, cả hai bên đều thống nhất với khoảng thời gian là 4 năm.

4. Về khối lượng kiến thức toàn khóa, mặc dù số tín chỉ yêu cầu của hai bên có khác nhau, thế nhưng các khối kiến thức học tập đòi hỏi người học phải hoàn thành là giống nhau: khối kiến thức giáo dục đại cương (sử dụng ngôn ngữ và ngoại ngữ, giáo dục thường thức, thể dục, quốc phòng, giáo dục học), khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (kiến thức cơ sở của ngành, kiến thức chung của ngành, kiến thức chuyên sâu của ngành, lý luận và phương pháp dạy học chuyên ngành, kiến thức bổ trợ).

5. Đối tượng tuyển sinh, quy trình đào tạo, điều kiện tốt nghiệp đa phần tương đồng nhau (theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo hai bên).

III. Điểm khác nhau trong chương trình đào tạo của hai bên

Đầu tiên, cần thấy rằng sự khác biệt về chương trình đào tạo cùng một chuyên ngành (hay gần chuyên ngành) giữa nước này với nước khác, giữa trường này với trường khác, dù ít nhiều, đều là việc hết sức bình thường. Bởi lẽ, mỗi nước có hoàn cảnh chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục khác nhau; mỗi trường có tiềm lực đào tạo và môi trường giáo dục không giống nhau, điều đó chắn chắn ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chương trình đào tạo. Ở đây, chúng tôi không đem tất cả mọi thứ trong chương trình đào tạo của hai bên ra để so sánh; vì ở một số phương diện thì sự khác biệt là hiển nhiên, nên những lúc này chỉ ra sự khác biệt của chúng là vô nghĩa. Vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung chỉ ra điểm khác nhau của hai bên ở một số phương diện mà chúng tôi cho là phù hợp, có giá trị khi so sánh và có ý nghĩa học thuật.

1. Về mục tiêu đào tạo:

Xin được trích dẫn nguyên văn mục tiêu đào tạo của cả hai bên như phía dưới đây:

Chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Chương trình đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan
1. Đào tạo giáo viên THPT chuyên ngành Ngữ văn có kiến thức vững vàng về khoa học cơ bản và khoa học giáo dục, có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe tốt, có năng lực thực hành nghề nghiệp đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ của nhà giáo, đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, góp phần đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà.

2. Sinh viên sư phạm Ngữ văn khi tốt nghiệp sẽ làm tốt công tác giảng dạy, giáo dục tại các trường THPT hoặc THCS hay THCN; có khả năng nghiên cứu khoa học chuyên ngành hoặc theo học các trình độ đào tạo cao hơn. [7]

1. Đào tạo những tố chất cơ bản để nghiên cứu văn hóa và học thuật truyền thống, đồng thời có tầm nhìn hiện đại, biết phát huy những tinh hoa cổ điển dân tộc.

2. Bồi dưỡng những tố chất cơ bản, bao gồm cả tư tưởng nghiên cứu học thuật, tăng cường năng lực tư duy biện chứng lô-gich và năng lực đối thoại để nhận biết và xác định các giá trị.

3. Bồi dưỡng các năng lực giám thưởng, phân tích, sáng tác và nghiên cứu văn học, nắm được đặc trưng cơ bản của các thể loại văn học xưa nay, cảm nhận và lý giải được những biểu hiện đa dạng trong tình cảm và ý chí của con người.

4. Bồi dưỡng năng lực phân tích ngôn ngữ và văn tự cơ bản, hiểu rõ tiến trình phát triển của ngôn ngữ và chữ viết, có thể sử dụng chúng một cách linh hoạt trong truyền đạt bằng lời nói và bằng chữ viết.

5. Bồi dưỡng những năng lực chuyên môn liên quan đến giảng dạy Ngữ văn, chú trọng đào tạo giáo viên giảng dạy Quốc văn ở trường trung học. [8]

Mặc dù về cơ bản, mục tiêu đào tạo của hai bên là giống nhau, thế nhưng cách diễn đạt trong chương trình đào tạo khác xa nhau. Phía Việt Nam quan tâm đến công việc, ngành nghề mà người học sẽ phụ trách sau khi đào tạo – giáo viên, nghiên cứu viên; còn phía Đài Loan triển khai cụ thể hơn những tố chất, năng lực lao động mà người học cần đạt được sau quá trình đào tạo.

2. Về chuẩn đầu ra:

Việc tuyên bố chuẩn đầu ra thể hiện bản lĩnh và ý thức trách nhiệm của một cơ sở đào tạo. Chuẩn đầu ra chính là bản cam kết chất lượng đào tạo của nhà trường đối với người học và toàn xã hội, đúng như những đánh giá của hai tác giả Lê Đức Ngọc và Trần Thị Hoài: “Chuẩn đầu ra của một chương trình đào tạo đại học là nội hàm chất lượng tối thiểu của người tốt nghiệp chương trình đó; là những chỉ số về phẩm chất, kiến thức, kĩ năng/ kĩ xảo, tính cách/ hành vi và khả năng/ năng lực hay tổng quát hơn là các ‘kĩ năng cứng’ và ‘kĩ năng mềm’ của sản phẩm đào tạo, tức người học, có được sau khi kết thúc chương trình đào tạo đó trong nhà trường… Tuyên bố chuẩn đầu ra cho một chương trình đào tạo của nhà trường chính là tuyên bố trách nhiệm về chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường cũng như của ngành giáo dục đào tạo trước hết là đối với chính người học, sau là đối với xã hội và những người thụ hưởng và sử dụng sản phẩm đào tạo của nhà trường.[9] Chuẩn đầu ra có ý nghĩa định hướng quan trọng trong quá trình làm việc của người dạy, người học lẫn người quản lý. Xin được trích dẫn nguyên văn chuẩn đầu ra (hay mục tiêu đào tạo cụ thể) của cả hai bên như phía dưới đây:

Chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Chương trình đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan
Cử nhân sư phạm Ngữ văn sau khi tốt nghiệp đạt được các yêu cầu sau:

1. Về phẩm chất đạo đức:

Có phẩm chất của người giáo viên nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thấm nhuần thế giới quan Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; yêu nghề, có ý thức trách nhiệm cao, đạo đức tốt, có tác phong mẫu mực của người giáo viên.

2. Về kiến thức:

Có kiến thức cơ bản, hiện đại, toàn diện và hệ thống về khoa học Ngữ văn, về khoa học giáo dục; đồng thời cũng đạt được các kiến thức cần thiết về các khoa học liên quan; có hiểu biết đầy đủ về mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học của giáo dục phổ thông.

3. Về kĩ năng:

Có kĩ năng sư phạm, vận dụng tốt phương pháp dạy học chung và phương pháp dạy học Ngữ văn; thực hiện yêu cầu đổi mới nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục ở trường trung học phổ thông; có kĩ năng nghiên cứu, tự học để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu về chất lượng của sự nghiệp giáo dục cũng như dòi hỏi ngày càng cao của xã hội. [10]

 

1. Phương diện hiểu biết về tri thức:

1.1. Có được những kiến thức chuyên môn về kinh học, sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và chữ viết, giảng dạy quốc văn.

1.2. Có được những hiểu biết và năng lực nghiên cứu về ngôn ngữ Trung Quốc, văn học, tư tưởng học thuật, tài liệu sách vở.

1.3. Có được năng lực lý giải, phân tích, bình giám tài liệu sách vở.

1.4. Có được năng lực thay đổi, thích ứng với nhiều lĩnh vực trong bối cảnh văn hóa đa nguyên, có hệ thống tri thức nhiều lĩnh vực, hoàn chỉnh ở nhiều ngành.

2. Phương diện chức năng hướng dẫn dư luận:

2.1. Có khả năng thuật lại và tái hiện nội dung văn bản qua các phương tiện thông tin đại chúng đa dạng về tính chất và tổ chức.

2.2. Có được năng lực giải thích, hướng dẫn, truyền bá văn hóa truyền thống Trung Hoa.

2.3. Có được năng lực ứng dụng các thế mạnh của Ngữ văn, kết hợp với văn hóa truyền thống, kết hợp tinh thần nhân văn với quá trình sáng nghiệp.

2.4. Có được năng lực quản lý tài liệu, thư mục.

3. Phương diện chất lượng cá nhân:

3.1. Có năng lực biểu đạt bằng lời nói và chữ viết tốt.

3.2. Có năng lực rèn luyện linh cảm, kích thích sáng tạo và hình thành sáng kiến.

3.3. Có năng lực kết nối, thương thảo và hợp tác hài hòa với mọi đội nhóm.

3.4. Có năng lực thể hiện sự quan tâm mọi người.

4. Phương diện giá trị và luân lý:

4.1. Có phẩm chất nhân văn.

4.2. Có thể tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của ngôn ngữ.

4.3. Có tính tình lương thiện và phẩm cách cao thượng.

4.4. Có sự hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. [11]

Điểm khác nhau về chuẩn đầu ra giữa hai bên không chỉ ở vấn đề diễn đạt câu chữ, một bên bao quát chung chung, còn một bên cụ thể theo từng tiêu chí nhất định; mà còn ở tư duy về giáo dục đào tạo. Phía Đài Loan quan tâm đến những năng lực và phẩm chất cụ thể, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại, phù hợp xu hướng hòa nhập với thế giới và trở thành một công dân, không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, mà có thể sống hòa hợp với mọi người trong xã hội. Đồng thời, chuẩn đầu ra này cũng mở ra những con đường tương lai mới cho người học, không chỉ bó hẹp trong công việc dạy học ở trường phổ thông.[12]

3. Về khối lượng và kết cấu kiến thức toàn khóa:

Dưới đây là bảng so sánh kết cấu kiến thức toàn khóa học trong chương trình đào tạo của hai bên:

Nội dung Chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam (TC: tín chỉ) Chương trình đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan
Khối kiến thức giáo dục đại cương Khoa học Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh 10  

 

41

TC

Triết học, đạo đức, phẩm chất công dân 4  

 

38 TC

Khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn 13 Khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn 18
Ngoại ngữ không chuyên 7 Ngoại ngữ không chuyên 6
Giáo dục học, tâm lý học 11 Giáo dục học, tâm lý học 10
Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp Kiến thức cơ sở của ngành 18  

 

93

TC

Kiến thức cơ sở của ngành 26  

 

116

TC

Kiến thức chuyên sâu của ngành 61 Kiến thức chuyên sâu của ngành 74
Lý luận và phương pháp dạy học chuyên ngành 8 Lý luận và phương pháp dạy học chuyên ngành 10
Kiến tập và thực tập sư phạm 6 Kiến tập và thực tập sư phạm 6
  Toàn bộ chương trình 134 TC Toàn bộ chương trình 154 TC

So sánh kết cấu chương trình đào tạo của hai bên, ta thấy khối lượng kiến thức toàn khóa học của phía Đài Loan có vẻ nặng nề hơn, nhiều hơn đến 20 tín chỉ so với phía Việt Nam. Chỗ cách biệt lớn nhất tập trung ở nhóm kiến thức cơ sở của ngành và kiến thức sâu của chuyên ngành (79-100 TC). Chương trình đào tạo này của Đại học Sư phạm Quốc giaĐài Loan gần như là đào tạo Cử nhân Ngữ văn, cộng với lấy chứng chỉ giáo dục học và phương pháp giảng dạy Ngữ văn như ở Việt Nam.

Theo bảng so sánh trên, ta thấy Đài Loan không dành nhiều thời gian để giáo dục chính trị, tư tưởng (10 – 4 TC) mà quan tâm nhiều đến giáo dục thường thức (kiến thức khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, 13 – 18 TC) để trang bị kiến thức nền tảng bước vào cuộc sống cho người học.

Về khối kiến thức chuyên ngành giáo dục học và phương pháp dạy học (tức nhóm giáo dục học, tâm lý học, lý luận và phương pháp dạy học chuyên ngành, kiến tập và thực tập sư phạm), ta thấy ở hai bên chiếm khối lượng gần như cân bằng nhau (25 – 26 TC). Thế nhưng, trong khi phía Việt Nam khối kiến thức này được xây dựng cố định và gần như bắt buộc, thì trong chương trình đào tạo phía Đài Loan, tính mềm dẻo thể hiện rõ rệt hơn khi cho phép người học được quyền chọn lựa các môn học.[13]

4. Thang điểm: phía Việt Nam lấy thang điểm 10, phía Đài Loan lấy thang điểm 100.

IV. Kết luận và kiến nghị

Từ những kết quả phân tích trên, chúng tôi xin được đưa ra những nhận định mang tính chất kết luận, đồng thời đề xuất kiến nghị đối với việc xây dựng chương trình đào tạo và đối với việc đào tạo sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn như phía dưới đây:

1. Kết luận

Nhìn chung, chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn của Việt Nam có gọn nhẹ hơn phía Đài Loan. Trong đó, khối kiến thức giáo dục đại cương chiếm 30,6% khối lượng chương trình, khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp chiếm 69,4% khối lượng chương trình; trong khi tỉ lệ tương ứng của phía Đài Loan lần lượt là 24,7% và 75,3%. Những con số này cho thấy, Việt Nam dành khá nhiều thời gian cho giáo dục đại cương, phía Đài Loan thì chú trọng giáo dục chuyên ngành nhiều hơn.

Nếu chương trình đào tạo phía Việt Nam có ưu điểm gọn nhẹ, thì chương trình đào tạo phía Đài Loan có ưu điểm chuyên sâu hơn, linh hoạt mềm dẻo hơn, mang tính phân loại cao đối với đối tượng người học, đồng thời mở ra nhiều hướng đi khác cho người học ngoài lĩnh vực chính là sư phạm.

Nếu xét về khả năng thực hiện mục tiêu đào tạo, theo đánh giá cá nhân, thì chương trình đào tạo của phía Đài Loan thể hiện khả năng tiếp cận mục tiêu đào tạo cao hơn phía Việt Nam. Chất lượng nhân lực được đào tạo, nhìn một cách tổng quát trong bối cảnh giáo dục hiện đại, thì phía Đài Loan có khả năng cao hơn phía Việt Nam.

2. Kiến nghị về việc xây dựng chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn

 Đúng như giáo sư Lê Đức Ngọc từng nhận xét: “Chuẩn đầu ra của mỗi chương trình [ở Việt Nam] hiện nay mới dừng ở việc xác định mục tiêu đào tạo về kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực một cách chung chung, thiếu cụ thể nên gần như chỉ có giá trị để xét duyệt chương trình cho mở mã ngành.”[14] Việc xây dựng chuẩn đầu ra cụ thể hơn ở từng tiêu chí có ý nghĩa rất lớn đến việc đảm bảo chất lượng sản phẩn đào tạo. Nếu xác lập chuẩn đầu ra chi tiết đến từng năng lực hay hành vi cụ thể và yêu cầu người tốt nghiệp phải đạt được thì khi đó, chuẩn đầu ra trở thành mục tiêu cho mọi hoạt động dạy học của người dạy và người học ở trường đại học; là căn cứ để các cơ quan, đơn vị sử dụng giáo viên biết năng lực cụ thể của nhân viên mình mà bố trí công tác hợp lý, đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ để tránh đào tạo lại một cách lãng phí không cần thiết.

Trong bối cảnh sinh viên sư phạm khó tìm được việc làm phù hợp như hiện nay, thiết nghĩ việc xây dựng chương trình đào tạo vừa đảm bảo người học có được kiến thức chuyên môn vững chắc, vừa có hiểu biết liên ngành và kĩ năng nền tảng tốt để vươn rộng ra các lĩnh vực khác là yêu cầu cần thiết. Ưu thế này có thể thấy trong chương trình đào tạo Cử nhân Ngữ văn, nếu muốn làm công tác giảng dạy, sinh viên có thể học để lấy thêm chứng chỉ giáo dục học và phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông.

Chúng tôi nhận thấy rằng, đối với một số học phần trong chương trình đào tạo, cần tinh giảm gọn nhẹ khối lượng kiến thức, chọn lọc ra những đơn vị kiến thức nào thật sự cần thiết và giúp ích cho quá trình giảng dạy của sinh viên sau này. Một thực tế là sinh viên mất nhiều thời gian để học tập các kiến thức đại cương lẫn chuyên ngành trên lớp, nhưng hầu như rất ít vận dụng chúng vào thực tiễn giảng dạy ở trường phổ thông của mình. Nhiều thứ mất rất nhiều thời gian để học nhưng trên thực tế không có cơ hội vận dụng, phải chăng đó là một sự lãng phí? Người học sau khi tốt nghiệp, năng lực giảng dạy chưa tốt, năng lực học tự nghiên cứu cũng yếu thì khó mà phát triển trong nghề nghiệp của mình. Đối với những học phần như vậy, chỉ cần chọn lọc những cái cốt lõi thật cần thiết để giảng dạy, tập huấn, báo cáo trong một vài buổi, thậm chí một vài tiết, là phù hợp; dành nhiều thời gian cho người học tự nghiên cứu tìm tòi và rèn luyện kĩ năng, nghiệp vụ chuyên môn.

3. Kiến nghị về việc đào tạo sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn

Để giảng dạy tốt Ngữ văn ở trường phổ thông, người giáo viên không chỉ phải có những kiến thức sâu rộng đối với lĩnh vực này, có khả năng nghiên cứu phát hiện cái mới, mà còn phải thật sự có năng khiếu về văn chương, có thiên bẩm nghệ thuật và đời sống nội tâm phong phú. Đó là chưa nói người giáo viên cần có những điều kiện tốt về tác phong, ngoại hình, giọng nói, thái độ, tình cảm… Đối với công tác tuyển sinh, nên chăng có môn thi năng khiếu để phát hiện và lựa chọn ra những người thật sự có những tố chất cần thiết đó để tiến hành đào tạo?

Nhiều giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay cho rằng họ không vận dụng được bao nhiêu kiến thức đã học ở trường đại học để phục vụ một các thiết thực cho công việc giảng dạy. Đa phần phải tự học tập tìm hiểu thêm từ các nguồn tài liệu tham khảo khác và sao chép từ giáo án giảng dạy của đồng nghiệp. Nên chăng trong quá trình đào tạo, trường đại học cần chú trọng rèn luyện nhiều hơn, tốt hơn các kĩ năng tự học tự nghiên cứu, kĩ năng giảng dạy, kĩ năng thiết kế xây dựng giáo án, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, kĩ năng giao tiếp với học sinh… cho người học?

Tư liệu tham khảo:

1. Lê Đức Ngọc và Trần Thị Hoài (biên tập), Phát triển chương trình giáo dục trình độ đại học, Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, Tp. Vinh, tháng 4 năm 2012.

2. Bộ giáo dục và đào tạo, Chương trình giáo dục đại học theo hệ thống tín chỉ ngành Sư phạm Ngữ văn, Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, Tp. Vinh, tháng 4 năm 2012.

3. Trường Đại học An Giang, Niên lịch đào tạo năm học 2012 – 2013, An Giang, tháng 8 năm 2012.

4. Trang web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, địa chỉ: http://vi.wikipedia.org.

5. Trang web Bộ Giáo dục Đài Loan, địa chỉ: http://www.edu.tw.

6. Trang web Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan: http://www2.ntnu.edu.tw.

7. Trang web Khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan, địa chỉ: http://ch.ntnu.edu.tw.

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng đối chiếu khả năng thực hiện mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra của các nhóm học phần chuyên ngành Cử nhân Ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan (Bản gốc tiếng Trung và bản dịch tiếng Việt)

Phụ lục 2: Danh mục học phần và số tín chỉ quy định đối với khối kiến thức giáo dục học đào tạo giáo viên trung học của Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan

Nhóm học phần  

Tên học phần

Số tín chỉ  

Yêu cầu

 

Cơ sở giáo dục

Giáo dục đại cương 2 Sinh viên chọn học 2 học phần, tương đương 4 TC.
Tâm lý học giáo dục 2
Triết học giáo dục 2
Xã hội học giáo dục 2
 

Phương pháp giáo dục

Nguyên lý dạy học 2  

Sinh viên chọn học 3 học phần, tương đương 6 TC.

Xây dựng lớp học 2
Kiểm tra và thẩm bình giáo dục 2
Nguyên lý và thực vụ phụ đạo 2
Thiết kế chương trình học 2
Ứng dụng phương tiện thông tin trong dạy học 2
Thực tập giáo dục Dạy học các chuyên ngành 2 Bắt buộc 6 TC
Thực tập dạy học các chuyên ngành 4
 

 

 

 

 

 

 

Tổng hợp

Dẫn luận giáo dục chuyên ngành 2  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sinh viên chọn học 5 học phần, tương đương 10 TC.

Nghiên cứu cách dạy sách giáo khoa chuyên ngành 2
Lịch sử giáo dục 2
Các trào lưu tư tưởng giáo dục 2
Pháp quy trong giáo dục 2
Hành chính trong giáo dục 2
Hành chính trong trường học 2
Giáo dục so sánh 2
Giáo dục trung học 2
Dẫn luận giáo dục đặc thù 2
Phương pháp nghiên cứu giáo dục 2
Tâm lý học nhận thức 2
Tâm lý học phát triển 2
Tâm lý học thanh thiếu niên 2
Tâm lý học thanh niên 2
Tâm lý học nhi đồng 2
Tâm lý học mầm non 2
Tâm lý học trưởng thành 2
Phụ đạo giáo dục và nghề nghiệp 2
Kiểm tra và thẩm bình giáo dục chuyên ngành 2
Kiểm tra và thẩm bình khoa học giáo dục 2
Thẩm bình giáo dục 2
Thống kê trong giáo dục 2
Kĩ thuật cải biến hành vi 2
Biên soạn giáo trình 2
Chế tác đồ dùng dạy học 2
Giáo dục nghe nhìn 2
Nghiên cứu vấn đề thanh thiếu niên 2
Công học giáo dục 2
Giáo dục đa phương tiện truyền thông 2
Máy tính và dạy học 2
Dùng máy tính hỗ trợ dạy và học 2
Phụ đạo sinh tồn và phát triển 2
Quan hệ giao tế xã hội 2
Giáo dục thân chức 2
Nguyên lý giáo dục đạo đức 2
Nguyên lý dạy bảo và thực thi 2
Giáo dục bảo vệ môi trường 2
Giáo dục khoa học 2
Giáo dục thông tin 2
Nguyên lý giáo dục thẩm mỹ 2
Giáo dục địa phương 2
Giáo dục giới tính thanh thiếu niên 2
Giáo dục giới tính 2
Tổng cộng 26 TC

Tham Luan Hoi Thao – Phong


[1] Giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Đại học An Giang.

[2] Tham khảo tại trang web Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, mục “Việt Nam” và “Đài Loan”, địa chỉ: http://vi.wikipedia.org; và trang web Bộ Giáo dục Đài Loan, địa chỉ: http://www.edu.tw, ngày lên mạng 06.11.2012.

[3] Xem thêm tại trang web Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan, địa chỉ: http://www2.ntnu.edu.tw, ngày lên mạng 07.11.2012.

[4] Xem thêm tại trang web Khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan, địa chỉ: http://ch.ntnu.edu.tw, ngày lên mạng 07.11.2012.

[5] Sở dĩ phía Đài Loan chúng tôi chọn chương trình đào tạo của một trường đại học cụ thể là vì Bộ Giáo dục Đài Loan trao quyền tự trị rất lớn cho các trường đại học, trong đó có quyền thiết kế chương trình đào tạo, Bộ Giáo dục chỉ định hướng chung chứ ít can thiệp vào việc này.

[6] Tim Wentling (1993), dẫn theo Lê Đức Ngọc và Trần Thị Hoài (biên tập), Phát triển chương trình giáo dục trình độ đại học, trang 6.

[7] Bộ giáo dục và đào tạo, Chương trình giáo dục đại học theo hệ thống tín chỉ ngành Sư phạm Ngữ văn, Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, Tp. Vinh, 2012, trang 1.

[8] Tham khảo tại trang web Khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan, địa chỉ: http://ch.ntnu.edu.tw, ngày lên mạng 07.11.2012.

[9] Lê Đức Ngọc và Trần Thị Hoài (biên tập), Phát triển chương trình giáo dục trình độ đại học, Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, Tp. Vinh, 2012, trang 28.

[10] Bộ giáo dục và đào tạo, Chương trình giáo dục đại học theo hệ thống tín chỉ ngành Sư phạm Ngữ văn, Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, Tp. Vinh, 2012, trang 1.

[11] Tham khảo tại trang web Khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan, địa chỉ: http://ch.ntnu.edu.tw, ngày lên mạng 07.11.2012.

[12] Tham khảo thêm thông tin tại Bảng đối chiếu khả năng thực hiện mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra ở Phụ lục 1.

[13] Tham khảo thêm thông tin tại Danh mục học phần và số tín chỉ quy định đối với khối kiến thức giáo dục học ở Phụ lục 2.

[14] Lê Đức Ngọc và Trần Thị Hoài (biên tập), Phát triển chương trình giáo dục trình độ đại học, Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, Tp. Vinh, 2012, trang 29.

 Thanh Phong 17.11.2012

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: