Công việc Sinh viên DH13NV chuẩn bị cho tuần 2

Bìa sách Thần thoại và truyền thuyết Trung Quốc, NXB Tổng hợp TPHCM. Nguồn: nxbhcm.com.vn

Bìa sách Thần thoại và truyền thuyết Trung Quốc, NXB Tổng hợp TPHCM. Nguồn: nxbhcm.com.vn

Công việc Sinh viên chuẩn bị cho tuần 2

(Lên lớp chiều Thứ Ba, 19.02.2013)

Lớp: DH13NV

Môn: Văn học Trung Quốc

SV chuẩn bị trước 3 việc theo thứ tự dưới đây:

1. Đọc phần 1 (Khái quát về văn học dân gian Trung Quốc) và phần 2 (Thần thoại Trung Quốc) của chương 1 (Văn học Trước Tần), tức từ trang 5-8 trong giáo trình. Đồng thời trả lời câu hỏi: (1) VHDG TQ có những thể loại nào? (2) Có những điểm gì giống VHDG Việt Nam?

2. Đọc tất cả các câu chuyện thần thoại dưới đây; sau đó, tập kể lại trước lớp (một cách hấp dẫn, có thể sáng tạo thêm) câu chuyện mà nhóm mình được phân công:

Nhóm 1 –  Chuyện Bàn Cổ mở ra Trời Đất

Nhóm 2 – Chuyện Nữ Oa tạo ra con người và Nữ Oa vá trời

Nhóm 3 – Chuyện người Toại khoan gỗ lấy lửa

Nhóm 4 – Chuyện Ngưu Lang Chức Nữ

Nhóm 5 – Chuyện Hằng Nga lên Mặt Trăng

Nhóm 6 – Chuyện Ngu Công dời núi

1. Chuyện Bàn Cổ mở ra Trời Đất

Bàn Cổ. Nguồn: vietnamese.cri.cn

Bàn Cổ. Nguồn: vietnamese.cri.cn

Truyền thuyết thời thái cổ, Trời Đất không chia, cả vũ trụ như một quả trứng lớn, bên trong hỗn độn, đen tối một màu, không phân chia trên dưới phải trái, đông nam tây bắc. Nhưng trong trứng gà thai nghén một anh hùng vĩ đại, đó là Bàn Cổ khai thiên lập địa. Bàn Cổ thai nghén 18 nghìn năm trong trứng gà, cuối cùng đã bừng tỉnh từ trong giấc ngủ say đắm. Anh mở mắt ra, thấy xung quanh tối đen như mực, cả người nóng nực khó chịu, rất khó thở. Anh muốn đứng dậy, nhưng vỏ trứng gà bọc chặt lấy thân anh, không sao duỗi được chân tay. Bàn Cổ nổi giận, nắm lấy một chiếc rìu có sẵn, dùng sức vung lên, chỉ nghe một tiếng nổ lớn, long tai nhức óc, quả trứng gà bị vỡ, trong đó thứ nhẹ và trong không ngừng bay lên, biến thành Trời, một số thứ nặng và đục thì từ từ lắng xuống, biến thành Đất.

Bàn Cổ đã khai thiên lập địa, rất vui mừng, nhưng anh sợ Trời Đất lại hợp lại với nhau, liền lấy đầu đội Trời, chân đạp đất, hiển thần thông, một ngày chín biến hoá. Anh mỗi ngày cao một trượng, Trời cũng mỗi ngày lên cao một trượng, Đất cũng dày thêm một trượng. Như vậy đã qua 18 nghìn năm. Lúc này Bàn Cổ đã trở thành người khổng lồ đầu đội Trời, chân đạp Đất, thân người cao chín vạn dặm. Cứ như vậy không biết lại trải qua bao nhiêu vạn năm, cuối cùng Trời đất trở nên vững chắc, sẽ không hợp lại với nhau nữa. Lúc này Bàn Cổ mới yên tâm. Nhưng vị anh hùng khai thiên lập địa này đã kiệt sức, không còn sức để đứng vững nữa, thân hình khổng lồ của anh ngã xuống Đất.

Bàn Cổ sắp chết, toàn thân xảy ra biến đổi to lớn. Mắt trái của anh biến thành Mặt Trời đỏ chói, mắt phải trở thành Mặt Trăng trắng ngần, trút hơi thở cuối cùng biến thành gió và mây, tiếng nói phát ra cuối cùng biến thành tiếng sấm, tóc và râu của anh biến thành các vì sao lấp lánh, đầu và tay biến thành bốn cực Mặt Đất và núi cao, máu trở thành sông ngòi, đường gân biến thành đường sá, bắp thịt trở thành đất đai phì nhiêu, da và lông trở thành cây cối hoa cỏ, răng và xương trở thành vàng bạc đồng sắt, đá quý, mồ hôi của anh trở thành nước mưa và sương mai. Từ đó bắt đầu có thế giới.

2. Chuyện Nữ Oa tạo ra con người và Nữ Oa vá trời

Nữ Oa sáng tạo loài người. Nguồn: nguoixunghekiev.vn

Nữ Oa sáng tạo loài người. Nguồn: nguoixunghekiev.vn

Trong thần thoại Hy Lạp cổ, Prô-mê-thêu đã sáng tạo ra con người, trong thần thoại Ai Cập cổ, con người đã ra đời do được thần gọi, trong thần thoại Do-thái, Giô-hô-va đã sáng tạo ra con người, vậy thì trong thần thoại cổ Trung Quốc, con người đã được ra đời như thế nào? Điều này là công của nữ thần thân người đuôi rồng mang tên Nữ Oa.

Tương truyền sau khi anh hùng Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa đã du ngoạn đó đây giữa Trời Đất. Lúc đó, mặc dù trên Mặt Đắt đã có sông núi cây cỏ, có chim thú sâu cá, nhưng vẫn không sinh động hoạt bát, bởi vì trên Trái Đất còn chưa có loài người. Một hôm, Nữ Oa đi lại trên Mặt Đất hoang vắng tĩnh mịch, trong lòng cảm thấy rất cô đơn, bà cảm thấy phải tăng thêm thứ gì đó có sinh khí hơn cho Trời Đất.

Nữ Oa bay lượn trên Mặt Đất, bà yêu mến cây cối hoa cỏ, song bà càng say sưa hơn với chim thú sâu cá hoạt bát hơn và có sức sống hơn. Sau khi quan sát chúng, Nữ Oa thấy sáng tạo của Bàn Cổ còn chưa hoàn chỉnh, trí tuệ của chim thú sâu cá còn không sao làm bà hài lòng. Bà phải sáng tạo ra sinh linh xuất sắc hơn bất cứ sự sống  nào.

Nữ Oa bay lượn dọc theo sông Hoàng Hà, cúi đầu thấy bóng dáng xinh đẹp của mình, bất giác vui mừng. Bà quyết định dùng bùn dưới sông nặn một người đất theo hình dạng của mình. Nữ Oa sáng dạ và khéo tay, chẳng mấy lúc đã nặn được nhiều người đất. Những người đất này hầu như giống bà, chỉ khác là bà nặn cho họ đôi chân phối hợp với đôi tay, để thay thế đuôi rồng. Nữ Oa thổi hơi tiên vào những người đất nhỏ này, những người đất này liền được tiếp sức sống, đã “Sống” lại, trở thành những thứ nhỏ có thể đứng thẳng người đi lại, biết nói, thông minh khéo léo, Nữ Oa gọi họ là “Người”. Nữ Oa tiếp dương khí lên một số người trong đó—một loại yếu tố tính đực thính đánh nhau trong giới thiên nhiên, do đó họ đã trở thành đàn ông; còn trên một số người khác, bà lại tiếp âm khí–một loại yếu tố tính cái hiền lành trong giới thiên nhiên, do đó họ trở thành đàn bà. Những người đàn ông đàn bà này vây quanh Nữ Oa nhảy múa, reo hò, mang lại sức sống cho Mặt Đất.

Nữ Oa muốn để loài người phân bố khắp nơi trên Mặt Đất, nhưng bà đã mệt, làm đã chậm hơn trước. Do đó, bà nghĩ ra một cách làm nhanh chóng. Bà cầm một sợi dây rơm cỏ thả xuống đáy hồ ngoáy trong bùn, cho đến khi đầu dây dính đầy bùn liền vung lên, cho bùn tung toé ra khắp nơi, những đám bùn đó biến thành những người nhỏ. Nữ Oa đã như vậy sáng tạo ra mọi người phân bố rộng trên Mặt Đất.

Trên Mặt Đất đã có loài người, công việc của thần Nữ Oa hầu như có thể chấm dứt rồi. Nhưng bà lại có một ý nghĩ mới: Làm thế nào mới khiến con người có thể sinh sống tốt được? Người cuối cùng thế nào cũng chết, chết đi một số, lại làm ra một số, như vậy thì phiền quá. Do đó, thần Nữ Oa liền ghép cặp đàn ông đàn bà với nhau, dạy họ sinh con đẻ cái, gánh vác trách nhiệm nuôi dưỡng đời sau. Loài người đã sinh sôi nảy nở như vậy, và ngày càng tăng lên.

Nữ Oa luyện đá vá trời. Nguồn: yume.vn

Nữ Oa luyện đá vá trời. Nguồn: yume.vn

Sau khi Nữ Oa, thuỷ tổ loài người tạo ra con người, luôn luôn vô sự thái bình. Bỗng một hôm, Trời Đất đâm mạnh vào nhau, trên Trời bị vỡ ra một mảng lớn, Mặt Đất cũng bị bùng nổ nứt ra và lún xuống, ngọn lửa từ trong lòng Đất phun ra, đốt cháy cây rừng; nước lũ từ đáy sâu phun lên, trôi dạt núi đồi; yêu ma quỷ quái, ác cầm mãnh thú thừa cơ hoành hành, loài người rơi vào cảnh nước sôi lửa bỏng.

Nữ Oa nghe thấy tiếng cầu cứu của loài người, bà trước tiên giết chết yêu ma quỷ quái và ác cầm mãnh thú, sau đó dập tắt nạn nước, tiếp đó tiến hành công trình vá Trời vĩ đại.

Nữ Oa đi các nơi kiếm củi đốt, chở đến nơi Trời bị nứt, xếp đống cao bằng trời, sau đó đi tìm đá xanh giống với màu của Trời, do trên Mặt Đất không có nhiều như vậy, đành phải nhặt đá trắng, đá vàng, đá đỏ và đá đen, đặt lên trên đống củi. Nhân ngọn lửa phun từ trong lòng Đất còn chưa tắt, bà dùng một cây lớn châm lửa đốt đống củi, ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt, chiếu sáng cả vũ trụ, đá năm màu đều bị nung đỏ. Dần dần, đá bị chảy ra, như nước đường chảy ra trong kẽ nứt của Trời. Đợi đến khi đống củi đốt hết, vết nứt trên Trời cũng được vá xong.

Mặc dù Trời Đất bị vỡ đã được Nữ Oa vá xong, nhưng không thể khôi phục hình dạng ban đầu. Bầu Trời nghiêng một chút về phía tây bắc, bởi vậy, Mặt Trời và Mặt Trăng đều không tự giác chạy về hướng đó; Mặt Đất bị lún xuống một hố sâu về hướng đông nam, do đó nước của các con sông lớn nhỏ đều không tự chủ chảy về hướng đông nam, nhiều nước đọng tại nơi đó, tạo thành biển cả.

3. Chuyện người Toại khoan gỗ lấy lửa

Toại Nhân khoan gỗ lấy lửa. Nguồn: vietnamese.cri.cn

Toại Nhân khoan gỗ lấy lửa. Nguồn: vietnamese.cri.cn

Trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc, có rất nhiều anh hùng mang lại hạnh phúc cho nhân dân bằng trí tuệ, dũng cảm và nghị lực, người Toại là một trong những anh hùng như vậy.

Trong thời kỳ man rợ hoang sơ viễn cổ, mọi người chưa biết có lửa, cũng chưa biết dùng lửa. Đến đêm, bốn bề tối đen như mực, tiếng gào thét của dã thú hết đợt này đến đợt khác, mọi người nằm co quắp lại với nhau, vừa lạnh vừa sợ hãi. Do không có lửa, mọi người chỉ biết ăn sống, thường xuyên mắc bệnh, tuổi thọ rất ngắn.

Trên trời có một vị thần tên là Phục Hy, thần thấy cuộc sống của mọi người gian khổ như vậy cảm thấy rất đau lòng, thần muốn cho mọi người biết công dụng của lửa. Do đó thần Phục Hy liền hoá phép thần thông, giáng một trận mưa lớn ở trong rừng. Rồi cùng với một tiếng nổ đanh thép, sét đánh vào một thân cây, làm thân cây bốc cháy rồi nhanh chóng lan ra thành đám lửa bừng bừng. Mọi người sợ hãi vì sét đánh và lửa cháy, bỏ trốn tán loạn. Không bao lâu, mưa tạnh, bóng đêm trùm xuống, mặt đất sau cơn mưa càng thêm giá lạnh. Những người bỏ chạy lại tụ tập vào một nơi, họ sợ hãi nhìn cây cối bị đốt cháy. Lúc này có một chàng thanh niên phát hiện, tiếng gào thét của dã thú xuất hiện xung quanh ngày thường đã không còn, anh nghĩ: “Phải chăng dã thú sợ thứ phát sáng kia?” Do đó, anh dũng cảm đến gần đám lửa, phát hiện trên người ấm hẳn lên. Anh phấn khởi gọi mọi người: “Mau đến đây, lửa không đáng sợ chút nào cả, nó đã mang lại ánh sáng ấm áp cho chúng ta.” Lúc này, mọi người lại phát hiện dã thú bị đốt chết cách đó không xa, toả mùi thơm phưng phức. Mọi người tụ tập bên cạnh đống lửa, chia nhau ăn thịt dã thú bị thui, thấy mình chưa bao giờ được thưởng thức hương vị như vậy. Mọi người đã cảm thấy sự đáng quý của lửa, họ nhặt cành cây đốt cháy giữ ngọn lửa. Hàng ngày đều có người luân phiên nhau giữ mồi lửa, không để nó tắt ngấm. Thế nhưng có một ngày, người canh lửa ngủ quên, lửa đốt hết cành cây, rồi tắt ngấm. Mọi người lại rơi vào cảnh đêm tối và giá lạnh, rất đau khổ.

Trên trời thần Phục Hy đã biết tất cả những việc đã xảy ra, thần báo mộng cho người trẻ tuổi đầu tiên phát hiện ra công dụng của lửa, nói rằng: “Tại phương tây xa xôi có nước Thuý Minh, ở đó có ngọn lửa giống, anh có thể đến nơi đó lấy lửa giống mang về.” Chàng thanh niên tỉnh dậy, nhớ lại lời nói của thần trong giấc mộng, bèn quyết tâm đi nước Thuý Minh tìm giống lửa.

Chàng thanh niên trèo đèo lội suối, đi qua sông lớn, rừng rậm, trải qua biết bao gian khổ, cuối cùng đã đến được nước Thuý Minh. Thế nhưng nơi đây không có ánh sáng, không có ngày đêm, bốn bề tối om, không thấy lửa đâu cả. Chàng thanh niên rất thất vọng, liền ngồi nghỉ dưới một gốc cây “Thuý”. Bỗng nhiên, chàng thanh niên thấy trước mắt có ánh sáng nhấp nháy, chiếu sáng cả vùng xung quanh. Anh liền đứng dậy, đi tìm nguồn sáng. Lúc này anh phát hiện trên cây gỗ thuý, có mấy con chim to đang dùng mỏ ngắn và cứng mổ sâu trên thân cây. Mỗi lần chim mổ mỏ xuống thân cây đều loé lên tia sáng. Chàng thanh niên thấy vậy, liền nảy ra một ý nghĩ. Anh lập tức bẻ một số cành cây gỗ Thuý, dùng cành cây khoan thân cây, cành cây quả nhiên phát ra tia sáng, thế nhưng không cháy thành lửa. Chàng thanh niên không nản lòng, anh tìm đủ loại cành cây, dùng cành cây khác nhau cọ sát với thân cây. Cuối cùng, cành cây đã bốc khói, sau đó đã bốc lửa. Chàng thanh niên vui mừng đến chảy nước mắt.

Chàng thanh niên trở lại quê hương, mang lại cách khoan gỗ lấy lửa—giống lửa không bao giờ tắt cho mọi người, từ đó mọi người không còn phải sống trong cảnh giá lạnh và sợ hãi nữa. Mọi người khâm phục lòng dũng cảm và trí tuệ của chàng thanh niên này, tiến cử anh làm thủ lĩnh, gọi anh là “Người Toại”, ý là người lấy lửa.

4. Chuyện Ngưu Lang Chức Nữ

Ngưu Lang - Chức Nữ. Nguồn: yume.vn

Ngưu Lang – Chức Nữ. Nguồn: yume.vn

Ngưu Lang là một chàng trai chưa vợ nhà nghèo nhưng lúc nào cũng vui vẻ, sống nương tựa với anh là một con trâu già, một chiếc cày. Ngưu Lang hàng ngày ra đồng làm việc, sau khi về nhà tự mình nấu ăn giặt quần áo, cuộc sống rất gian khổ. Nào ngờ có một ngày, kỳ tích đã xảy ra.

Ngưu Lang làm xong việc đồng về nhà, bước chân vào nhà, chàng thấy trong nhà gọn gàng sạch sẽ, quần áo giặt xong thơm tho, trên bàn còn sắp sẵn cơm nóng canh ngon. Ngưu Lang kinh ngạc trợn tròn đôi mắt, bụng nghĩ: Cớ sao như vậy? có lẽ thần tiên xuống trần chăng ? Ngưu Lang nghĩ mãi không tìm ra đáp án.

Sau đó, liền mấy ngày, ngày nào cũng vậy, Ngưu Lang không kìm nổi tính tò mò, anh nhất định phải tìm ra đáp án vì sao lại như vậy. Hôm đó, Ngưu Lang cũng như ngày thường, sáng sớm ra cửa, anh ra khỏi nhà không bao xa thì tìm chỗ trốn lại, rình xem động tĩnh trong nhà.

Không bao lâu, có một cô gái rất xinh đến nhà. Cô vào đến nhà liền bắt đầu bận công việc bếp núc gia đình. Ngưu Lang không kìm nổi sự tò mò, liền từ chỗ trốn bước ra hỏi: “Xin hỏi vì sao cô đến giúp tôi làm việc nhà ?” Cô gái cũng bị bất ngờ, đỏ mặt nhỏ nhẹ nói: “Tôi là Ngưu Nữ, thấy cuộc sống của anh quá khổ, nên đến giúp anh.” Ngưu Lang mừng rỡ, mạnh dạn nói: “Thế thì em lấy anh đi, chúng ta cùng sống và làm việc với nhau.” Ngưu Nữ nhận lời. Từ đó Ngưu Lang Chức Nữ trở thành vợ chồng. Hàng ngày Ngưu Lang ra đồng làm việc, Chức Nữ ở nhà dệt vải, cơm nước, cuộc sống rất mỹ mãn.

Được vài năm, họ sinh được hai đứa con một trai một gái, cuộc sống gia đình rất đầm ấm.

Có một hôm, bầu trời bỗng nhiên mây đen tối nghịt, gió to nổi lên, có hai vị Thiên Tướng đến nhà Ngưu Lang. Ngưu Lang được biết: Chức Nữ là cháu gái ngoại của Thiên Đế. Mấy năm trước bỏ nhà ra đi, Thiên Đế luôn tìm Chức Nữ. Hai vị Thiên Tướng bắt Chức Nữ mang lên Trời.

Ngưu Lang ôm hai đứa con nhỏ, nhìn vợ bị bắt buộc phải về Trời, lòng vô cùng đau đớn. Chàng thề phải lên Trời tìm Chức Nữ trở về, cả nhà đoàn tụ. Thế nhưng người trần làm sao lên được Trời ?

Trong lúc Ngưu Lang đau buồn, con Trâu già từng sống nương tựa với chàng bỗng nhiên nói: “Ông giết tôi đi, rồi khoác da tôi thì có thể lên Thiên Cung tìm Chức Nữ.” Nói thế nào Ngưu Lang cũng không chịu làm như vậy, nhưng không bác lại được, lại không có cách nào khác, đành phải nén nhịn sự đau khổ, làm theo lời nói của Trâu.

Ngưu Lang khoác da Trâu già, lấy quang gánh gánh hai đứa con bay lên Trời. Nhưng trong Thiên Cung canh phòng nghiêm ngặt, không ai để ý đến người Trần nghèo khổ. Thiên Đế cũng không cho Ngưu Lang gặp Chức Nữ.

Qua nhiều lần khẩn cầu của cha con Ngưu Lang, cuối cùng Thiên Đế đồng ý cho gia đình họ sum họp trong thời gian ngắn. Chức Nữ bị giam thấy chồng và các con, vừa mừng vừa tủi. Thời gian rất nhanh trôi qua, Thiên Đế ra lệnh mang Chức Nữ đi. Ngưu Lang đau khổ mang theo hai đứa con đuổi theo Chức Nữ, mấy lần bị ngã, mấy lần bò dậy đuổi theo, khi sắp đuổi đến kịp, nào ngờ Thiên Hậu ác nghiệt rút chiếc trâm vàng trên đầu vạch một cái, tức thì hiện ra một dải Ngân Hà rộng ngăn cách họ. Từ đó, Ngưu Lang và Chức Nữ chỉ được đứng ở hai đầu Ngân Hà nhìn nhau. Chỉ có ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm, Ngưu Lang và Chức Nữ mới được phép gặp nhau một lần. Đến lúc đó, hàng nghìn hàng vạn con chim Khách bay đến, bắc thành một chiếc cầu Khách dài nối liền hai bờ Ngân Hà, để gia đình Ngưu Lang Chức Nữ sum họp với nhau.

5. Hằng Nga lên mặt trăng

Hậu Nghệ bắn rụng 9 mặt trời. Nguồn: my.opera.com

Hậu Nghệ bắn rụng 9 mặt trời. Nguồn: my.opera.com

Ngày 15 tháng 8 âm lịch Trung Quốc là tết Trung Thu, tết Trung Thu cùng Tết Nguyên Đán, tết Đoan Ngọ là ba cái tết truyền thống lịch sử lâu đời nhất, mang đậm màu sắc dân tộc nhất Trung Quốc. Vào ngày tết Trung Thu, thông thường cả nhà đoàn tụ, ăn bánh nướng, hoa quả, cùng ngắm Trăng. Sau đây là một chuyện về tết Trung Thu “Hằng Nga lên Trăng”

Hằng Nga là thần Mặt Trăng, chồng Hậu Nghệ là một vị chiến thần dũng mạnh thiện chiến, cung thần và tên thần của Hậu Nghệ bách phát bách trúng. Lúc đó trần gian xuất hiện nhiều mãnh cầm dã thú, làm hại nhân dân. Thiên Đế được tin này liền cử Hậu Nghệ xuống trần gian tiêu diệt những thứ hại người này. Hậu Nghệ thừa lệnh Thiên Đế, mang theo người vợ xinh đẹp của mình là Hằng Nga xuống trần gian. Vì dũng mãnh vô cùng, chẳng bao lâu Hậu Nghệ đã tiêu diệt nhiều động vật hại người trên Mặt Đất. Khi nhiệm vụ sắp hoàn thành, đã xảy ra chuyện bất ngờ: Trên bầu Trời cùng lúc xuất hiện mười Mặt Trời. Mười Mặt Trời đều là con Trời, chỉ vì trò chơi ác mà chúng cùng lúc xuất hiện trên bầu Trời, nhiệt độ trên Mặt Đất đột nhiên lên cao, rừng rậm, mùa màng bị nắng phơi cháy, sông ngòi khô cạn, nhân dân bị phơi chết xác chết đầy đồng.

Hậu Nghệ không nỡ nhìn sự đau khổ của nhân dân, anh đã dùng lời nói ngon ngọt khuyên răn mười Mặt Trời, mời mười anh em họ đơn độc hành động, mỗi ngày lần lượt chỉ ra một Mặt Trời. Thế nhưng anh em Mặt Trời kiêu ngạo và ngang ngược hoàn toàn không coi Hậu Nghệ ra gì, ngược lại ngày một thậm tệ hơn, cố ý xuống gần Mặt Đất, làm Mặt Đất nổi lên nhiều đám cháy lớn.  Hậu Nghệ thấy anh em Mặt Trời làm xằng làm bậy, nhiều lần khuyên răn đều không có hiệu quả, nhân dân đã bị thương vong vô số, không thể nào nhẫn nhịn được nữa,  liền lấy cung thần, tên thần của mình ra bắn vào Mặt Trời, liền một hơi bắn rơi chín Mặt Trời, Mặt Trời cuối cùng chịu tội xin tha, Hậu Nghệ mới bớt giận cất cung tên.

Hậu Nghệ đã diệt trừ tai hại cho trần gian, nhưng lại làm mất lòng Thiên Đế, Thiên Đế nổi giận lôi đình vì anh đã giết chín đứa con của mình, không cho phép vợ chồng anh trở về Trời. Không được trở Trời, Hậu Nghệ bèn quyết định ở lại trần gian, làm nhiều việc tốt hơn cho nhân dân. Thế nhưng vợ anh Hằng Nga lại ngày càng chán nản cuộc sống gian khổ trên trần gian, trách móc Hậu Nghệ hồ đồ giết chết các con Thiên Đế.

Hậu Nghệ nghe nói trên núi Côn Luân có một vị thần tiên Tây Vương Mẫu có thuốc thần, uống loại thuốc này là có thể bay lên Trời, do đó đã trèo đèo lội suối, trải qua biết bao gian khổ, leo lên ngọn núi Côn Luân, xin Tây Vương Mẫu cho thuốc thần, điều đáng tiếc là, thuốc thần của Tây Vương Mẫu chỉ đủ cho một người dùng.Hậu Nghệ vừa không nỡ bỏ lại vợ một mình lên Trời, cũng không muốn một mình vợ lên Trời bỏ lại một mình ở trần gian. Bởi vậy anh mang thuốc thần về nhà liền giấu đi

Hậu Nghệ xin được thuốc thần đã bị Hằng Nga biết, mặc dù Hằng Nga rất yêu chồng mình, nhưng vẫn không chịu nổi sự cám dỗ của thế giới cực lạc trên Trời. Trong lúc Mặt Trăng sáng nhất vào tết Trung Thu ngày 15 tháng 8, nhân lục Hậu Nghệ không ở nhà, Hằng Nga đã uống trộm thuốc thần, bỗng chốc thấy thân mình ngày càng nhẹ, từ từ bay lên Trời, cuối cùng bay đến Mặt Trăng, ở vào cung Quảng Hàn. Vừa lúc Hậu Nghệ về nhà, anh biết vợ đã bỏ mình tự lên Trời thấy rất đau khổ, nhưng lại không thể dùng tên thần bắn, đành phải chia tay vợ.

Sau này Hậu Nghệ sống cô độc một mình, anh tiếp tục làm việc tốt cho dân, đồng thời dạy học trò bắn tên. Trong đám học trò có một người tên là Phùng Mông, tiến bộ rất nhanh, không bao lâu đã bắn rất giỏi, nhưng Phùng Mông nghĩ nếu Hậu Nghệ còn sống, thì mình không thể là người giỏi nhất thiên hạ, bởi vậy có một lần nhân thầy uống rượu say, đã từ đằng sau bắn chết Hậu Nghệ.

Tuy nói Hằng Nga đã lên đến Mặt Trăng, nhưng nơi đây rất lạnh lẽo, chỉ có một chú thỏ giã thuốc và một ông lão đốn củi, bởi vậy Hằng Nga cả ngày buồn bã ngồi trong cung Trăng, nhất là lúc Mặt Trăng đẹp nhất vào ngày 15 tháng 8, Hằng Nga thường nhớ lại cuộc sống hạnh phúc của họ trước đây.

6. Ngu Công dời núi

Ngu Công dời núi. Nguồn: www.thanhcongb.org

Ngu Công dời núi. Nguồn: http://www.thanhcongb.org

Ngu Công dời núi không phải là một chuyện thật, nhưng nó ai ai cũng biết tại Trung Quốc. Chuyện này ghi chép trong “Liệt Tử”. “Liệt Tử” là một cuốn sách do nhà triết học tên là Liệt Ngự Khấu viết vào thế ký thứ bốn, thứ năm trước công nguyên.

Chuyện kể rằng, có một ông lão, tên là Ngu Công, đã gần 90 tuổi rồi. Trước cửa nhà ông có hai ngọn núi lớn, một ngọn tên là Thái Hàng Sơn, một ngọn là Vương Ốc Sơn, mọi người ra vào rất không tiện.

Một hôm, Ngu Công triệu tập tất cả người trong nhà lại nói: “Hai ngọn núi này đã ngăn cản trước cửa nhà ta, ta ra cửa phải đi nhiều đường vòng oan uổng. Chi bằng chúng ta cả nhà ra sức, di chuyển hai ngọn núi này, mọi người thấy thế nào ?”

Các con, cháu Ngu Công nghe nói đều nói: “Ông nói đúng, từ ngày mai chúng ta bắt tay vào làm.” Thế nhưng, vợ Ngu Công cảm thấy dọn hai ngọn núi này khó quá, nêu ra ý kiến phản đối nói: “Chúng ta đã sống nhiều năm tại đây, làm sao lại không thể tiếp tục sống như thế này ? Huống chi, hai ngọn núi lớn như vậy, cho dù có thể di dời từng tí một, nhưng nơi nào có thể đổ nhiều đất đá xuống như vậy ?”

Lời nói của vợ Ngu Công lập tức khiến mọi người bàn luận, đây quả thực là một vấn đề. Sau cùng họ quyết định: Chuyển đất đá trên núi đổ xuống biển.

Ngày thứ hai, Ngu Công dẫn cả nhà bắt đầu dọn núi. Láng giềng của ông là một bà goá, bà có một đứa con trai, mới mười bảy, mười tám tuổi, nghe nói dời núi cũng vui vẻ đến giúp. Nhưng công cụ di dời núi của nhà Ngu Công chỉ là cuốc và gùi địu trên lưng, hơn nữa giữa núi và biển cả cách nhau xa xôi, một người một ngày không đi được hai chuyến. Một tháng làm việc, ngọn núi xem ra chẳng khác gì ban đầu.

Có một ông lão tên là Trí Tẩu, ăn ở đối xử rất tinh ranh. Ông thấy cả nhà Ngu Công dọn núi thì cảm thấy nực cười. Có một hôm, ông nói với Ngu Công rằng: “ông đã nhiều tuổi như vậy, đi lại đã không dễ dàng, làm sao có thể dọn được hai ngọn núi này ?”

Ngu Công trả lời rằng: “Tên ông là Trí Tẩu, nhưng tôi thấy ông còn không giỏi bằng con nít. Tôi tuy đã sắp chết, nhưng tôi còn có con trai, con trai tôi chết, còn có cháu, con cháu đời đời truyền cho nhau, vô cùng vô tận. Đất đá trên núi dọn đi chút nào thì ít đi chút ấy, không thể mọc thêm được. Chúng tôi ngày nào, tháng nào, năm nào cũng dọn, làm sao không thể dọn nổi ngọn núi ?” Trí Tẩu tự cho là thông minh nghe nói cũng không nói thêm được lời nào.

Ngu Công dẫn cả nhà, bất kể mùa hè nóng nực, hay là mùa đông giá lạnh, hàng ngày đi sớm về tối, không ngừng đào núi. Việc làm của họ cuối cùng đã cảm động Thượng Đế. Thượng Đế đã cử hai vị thần tiên xuống trần gian, dọn hai ngọn núi này, Thế nhưng chuyện Ngu Công dời núi luôn lưu truyền đến nay. Nó nói với mọi người, bất kể gặp phải việc khó khăn ra sao, miễn là có quyết tâm có nghị lực làm thì có thể thành công .

SV có thể tham khảo thêm một số truyện thần thoại khác:

7. Hoàng Đế đánh nhau với Suy Vưu

Tam Hoàng Ngũ Đế. Nguồn: history.cultural-china.com

Tam Hoàng Ngũ Đế. Nguồn: history.cultural-china.com

Mấy nghìn năm trước, lưu vực sông Hoàng Hà, sông Trường Giang có nhiều thị tộc và bộ lạc sinh sống, trong đó Hoàng Đế là thủ lĩnh một bộ lạc có tiếng nhất ở lưu vực sông Trường Giang. Thủ lĩnh của một bộ lạc nổi tiếng khác là Viêm Đế. Hoàng Đế và Viêm Đế là anh em. Tại lưu vực sông Trường Giang có một dân tộc Cửu Lê, thủ lĩnh của họ tên là Suy Vưu, rất dũng mãnh.

Suy Vưu có 81 anh em, họ người nào cũng mình thú mặt người, đầu đồng tay sắt dũng mảnh vô cùng. Họ giỏi chế tạo các loại binh khí như đao, cung nỏ v.v. Suy Vưu thường xuyên dẫn bộ lạc lớn mạnh của mình xâm lược  quấy nhiễu các bộ lạc khác.

Có một lần, Suy Vưu xâm chiếm đất của Viêm Đế, Viêm Đế khởi quân chống lại, nhưng Viêm Đế không phải đối thủ của Suy Vưu, bị Suy Vưu đánh bại. Viêm Đế không có cách nào, bỏ chạy đến Trác Lộc nơi ở của Hoàng Đế để cầu giúp đỡ. Hoàng Đế từ lâu muốn diệt trừ tai hại của bộ lạc này, do đó đã liên hợp thủ lĩnh các bộ lạc, mở một trận quyết chiến với Suy Vưu trên cánh đồng Trác Lộc, đó tức là cuộc “Đại chiến Trác Lộc” nổi tiếng.

Buổi đầu của chiến tranh, nhờ vào vũ khí tốt hơn và binh sĩ dũng mãnh, Suy Vưu liên tiếp giành thắng lợi. Sau này, Hoàng Đế mời Rồng và các mãnh thú quái lạ đến đến giúp. Binh sĩ của Suy Vưu tuy dũng mãnh, nhưng gặp phải quân đội của Hoàng Đế, cộng thêm đội mãnh thú, cũng không chống lại được, tới tấp thua chạy.

Hoàng Đế dẫn quân thừa thắng đuổi giết, bỗng nhiên trời đất tối sầm lại, mây mù nổi khắp nơi, gió to nổi lên, sấm sét liên tục, trời đổ cơn mưa lớn, binh sĩ của Hoàng Đế không sao tiếp tục đuổi theo. Thì ra Suy Vưu đã mời “Thần gió” và “Thần mưa” đến giúp. Hoàng Đế cũng không chịu thua, liền mời “Thần hạn” trên trời xuống giúp, xua tan mưa gió. Bỗng chốc gió ngừng mưa tạnh, trời quang xanh ngắt một màu.

Suy Vưu lại dùng yêu thuật gây ra một trận sương mù, khiến binh sĩ của Hoàng Đế bị lạc hướng. Hoàng Đế lợi dụng hiện tượng Sao Bắc Đẩu trên Trời lúc nào cũng chỉ về hướng bắc, đã làm ra một chiếc “Xe chỉ nam”, hướng dẫn binh sĩ xông ra khỏi sương mù.

Qua nhiều trận chiến đấu quyết liệt, Hoàng Đế lần lượt giết chết 81 anh em Suy Vưu, đồng thời cuối cùng bắt sống Suy Vưu. Hoàng Đế ra lệnh đóng gông cùm cho Suy Vưu, rồi xử tử Suy Vưu. Vì sợ Suy Vưu sau khi chết còn làm những việc trái ngược, đã chôn đầu và thân mình Suy Vưu tại hai nơi cách xa nhau. Gông cùm mà Suy Vưu phải đeo đã vứt bỏ ở núi hoang, biến thành một cánh rừng phong, mỗi một chiếc lá phong đỏ chót, đều là những gọt máu của Suy Vưu.

Sau khi Suy Vưu chết, hình ảnh dũng mãnh của Suy Vưu vẫn khiến người ta sợ hãi, Hoàng Đế cho vẽ hình ảnh Suy Vưu lên cờ quân đội, dùng để cổ vũ quân đội mình dũng cảm chiến đấu, cũng dùng để doạ các bộ lạc dám chống lại Hoàng Đế. Sau này, Hoàng Đế được nhiều bộ lạc ủng hộ, dần dần trở thành thủ lĩnh của tất cả bộ lạc.

Hoàng Đế đa tài đa nghệ, có nhiều phát minh sáng tạo, như làm cung điện, đóng xe, đóng thuyền, làm áo năm màu v.v. Vợ Hoàng Đế Luy Tổ, cũng là một nhà phát minh. Đáng lẽ ra, tằm chỉ có hoang dã, mọi người còn chưa biết công dụng của tằm, chính Luy Tổ đã dạy mọi người nuôi tằm, kéo tơ, dệt tơ lụa, từ đó, Trung Quốc đã bắt đầu có văn minh tơ lụa. Sau khi Hoàng Đế phát minh ra đình, bà còn phát minh ra đình có thể di động trong lúc trời mưa, đó là chiếc ô che nắng che mưa ngày nay.

Truyền thuyết cổ đại Trung Quốc rất tôn sùng Hoàng Đế, người đời sau đều cho rằng Hoàng Đế là ông tổ dân tộc Hoa Hạ, mình là con cháu Hoàng Đế. Bởi vì dân tộc Viêm Đế và dân tộc Hoàng Đế vốn là họ hàng, sau này lại hội nhập với nhau, bởi vậy người Trung Quốc cũng thường coi mình là con cháu Viêm Hoàng. Để kỷ niệm vị tổ tiên chung trong truyền thuyết này, người Trung Quốc còn xây dựng một Lăng Hoàng Đế trên núi Kiều phía bắc huyện Hoàng Lăng tỉnh Thiểm Tây bên bờ sông Hoàng Hà. Mùa xuân hàng năm, đại diện người Hoa ở khắp nơi trên thế giới đều sum họp tại nơi đây, cùng hành hương ông tổ dân tộc Trung Hoa này.

8. Khoa Phụ đuổi mặt trời

Truyền thuyết dân gian. Nguồn: chanhkien.org

Truyền thuyết dân gian. Nguồn: chanhkien.org

Thời cổ xưa, trong hoang dã miền bắc có một ngọn núi cao chọc Trời, ở trong rừng sâu, có một nhóm người khổng lồ sinh sống. Thủ lĩnh của họ trên tai có đeo hai con rắn vàng, tay cũng cầm hai con rắn vàng, người này tên là Khoa Phụ, bởi vậy, nhóm người này được gọi là dân tộc Khoa Phụ. Người Khoa Phụ hiền lành, cần cù dũng cảm, sống cuộc sống không tranh giành với ai, an nhàn thảnh thơi.

Có một năm, thời tiết rất nóng, Mặt Trời nóng hừng hực chiếu thẳng xuống Mặt Đất, cây cối đã bị phơi khô, sông ngòi cũng bị phơi sắp cạn. Mọi người nóng nực khó chịu, người Khoa Phụ tới tấp bị nóng chết. Thủ lĩnh Khoa Phụ rất đau lòng, ông ngẩng đầu nhìn Mặt Trời, nói với mọi người: “Mặt Trời quá ác độc, tôi nhất định phải đuổi Mặt Trời, bắt lấy Mặt Trời, bắt Mặt Trời phải nghe con người chỉ huy. Người trong dân tộc nghe nói, tới tấp khuyên ngăn. Có người nói: “Ông chớ nên đuổi, Mặt Trời cách chúng ta xa như vậy, ông sẽ mệt mà chết thôi.” Có người nói: “Mặt Trời nóng như thế, ông sẽ bị đốt chết đấy.” Nhưng Khoa Phụ trong lòng đã quyết, ông nhìn mọi người nói: “Vì cuộc sống yên vui của mọi người, tôi nhất định phải đi.”

Khoa Phụ tạm biệt mọi người, đi về phía Mặt Trời, hai chân chạy nhanh như gió. Mặt Trời di chuyển nhanh chóng trên không, Khoa Phụ rượt đuổi trên Mặt Đất. Ông băng qua từng ngọn núi, vượt qua từng con sông, bước chân của ông dậm “Thình thịnh”. Khoa Phụ đuổi mệt rồi, giũ đất cát ở trong dầy ra rơi xuống đất, do đó tạo thành một ngọn núi đất. Khoa Phụ nấu cơm, nhặt ba viên đá làm kiềng bắc nồi, ba viên đá này trở thành ba ngọn núi cao mấy nghìn mét.

Khoa Phụ một mực đuổi theo Mặt Trời, xem ra ngày càng đến gần Mặt Trời, Khoa Phụ ngày càng có lòng tin hơn. Cuối cùng Khoa Phụ đã đuổi kịp Mặt Trời ở nơi Mặt Trời xuống núi. Một quả cầu lửa đỏ chói hiện ra ngay trước mắt Khoa Phụ, hàng vạn tia sáng chiếu lên người Khoa Phụ. Khoa Phụ vô cùng hân hoan giang rộng cánh tay, muốn ôm lấy Mặt Trời. thế nhưng Mặt Trời nóng lạ thường, Khoa Phụ cảm thấy vừa khát vừa mệt, Ông chạy đến bên sông Hoàng Hà, một hơi tu cạn nước sông Hoàng Hà, ông lại chạy đến bên sông Vị, uống sạch nước sông Vị, thế nhưng vẫn chưa hết cơn khát. Khoa Phụ liền chạy về hướng bắc, ở đó có đầm nước lớn ngang dọc nghìn dặm, nước trong đầm đủ đề Khoa Phụ giải khát. Thế nhưng Khoa Phụ chưa chạy đến bên đầm nước, đã bị khát chết trên đường đến đầm nước.

Khi sắp chết, Khoa Phụ trong lòng thấy rất đáng tiếc, ông còn nhớ đến người dân tộc mình, do đó quẳng chiếc ba toong trong tay mình. Nơi chiếc ba toong rơi xuống, bỗng hiện ra một rừng đào xanh tốt. Mảnh rừng đào này quanh năm rậm rạp xanh tốt, che bóng mát cho khách qua lại, quả đào làm thứ giải khát cho mọi người, để mọi người quên hết mệt nhọc, lấy lại tinh thần tiếp tục lên đường.

Chuyện Khoa Phụ đuổi Mặt Trời, đã nói lên nguyện vọng chiến thắng hạn hán của người đời xưa Trung Quốc. Tuy Khoa Phụ cuối cùng đã hy sinh, nhưng tinh thần bất khuất của ông lại bất tử. Trong nhiều sách cổ Trung Quốc, đều đã ghi chép truyền thuyết liên quan đến Khoa Phụ đuổi Mặt Trời, có địa phương Trung Quốc còn gọi núi lớn là “Núi Khoa Phụ” để kỷ niệm Khoa Phụ.

9. Chuyện vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn

Vua Nghiêu qua tưởng tượng của người đời sau. Nguồn: http://vi.wikipedia.org

Vua Nghiêu qua tưởng tượng của người đời sau. Nguồn: http://vi.wikipedia.org

Trong lịch sử phong kiến lâu dài tại Trung Quốc, ngôi vua đều do con vua kế thừa. Nhưng trong thần thoại Trung Quốc giữa ba ông vua sớm nhất vua Nghiêu, vua Thuấn và vua Vũ, việc truyền ngôi lại không phải có dòng máu. Ai có đức tài thì người đó được tiến cử kế thừa ngôi vua.

Vua Nghiêu là ông vua đầu tiên trong truyền thuyết Trung Quốc. Khi về già vua Nghiêu muốn tìm một người kế vị vua, do đó liền triệu tập thủ lĩnh các bộ lạc đến thảo luận.

Sau khi vua Nghiêu nói dự định của mình, có người tên là Phóng Tề nói: “Con ngài Đan Chu là người tiến bộ, kế thừa ngôi vua rất thích hợp.” Vua Nghiêu nghiêm túc nói: “Không được, con ta kém đức hạnh, hay tranh cãi với người.” Một người khác nói: “Cộng Công quản thuỷ lợi là người rất khá.” Vua Nghiêu lắc đầu nói: “Cộng Công giỏi ăn nói, bề mặt cung kính, nhưng trong lòng lại nghĩ khác. Dùng người như vậy, tôi không yên tâm.” Lần thảo luận này không có kết quả, vua Nghiêu tiếp tục tìm người kế thừa mình.

Qua một thời gian, vua Nghiêu lại họp các thủ lĩnh bộ lạc. Lần này có mấy vị thủ lĩnh tiến cử một thanh niên bình thường tên là Thuấn. Vua Nghiêu gật đầu nói: “Ờ, ta cũng nghe nói người này rất tốt. Các ngươi có thể kể cho ta biết chuyện của anh ta được không?” Mọi người liền kể tình hình của chàng Thuấn: Cha Thuấn là rất hồ đồ, mọi người gọi ông ta là Cổ Tẩu (Ý là ông già mù). Mẹ đẻ của chàng Thuấn chết sớm, mẹ kế đối xử rất tệ với Thuấn. Em trai do mẹ kế sinh ra tên là Tượng, ngạo mạn hết chỗ nói, nhưng lại rất được Cổ Tẩu nuông chiều. Chàng Thuấn sống trong một gia đình như vậy, nhưng đối với cha, mẹ kế và em trai đều rất tốt. Bởi vậy, mọi người cho rằng chàng Thuấn là người đức hạnh tốt.

Vua Nghiêu nghe mọi người kể về Thuấn liền quyết định thử thách Thuấn. Vua gả hai đứa con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn, còn xây kho lương thực cho Thuấn, chia cho Thuấn nhiều bò cừu. Mẹ kế và em trai Thuấn thấy thế vừa thèm vừa tức tối, cùng cha Cổ Tẩu mấy lần dùng mưu kế muốn hãm hại Thuấn.

Có một lần, Cổ Tẩu gọi Thuấn leo lên sửa nóc kho lương thực. Khi Thuấn dùng thang trèo lên nóc kho, Cổ Tẩu ở dưới đốt lửa, muốn đốt chết Thuấn. Thuấn ở trên nóc kho thấy lửa cháy, liền tìm thang để xuống, nhưng không thấy tháng đâu. May mà Thuấn có mang theo hai chiếc nón đội che nắng. Thuấn hai tay cầm hai chiếc nón, như con chim giang cánh nhảy xuống. Nón bay theo gió, Thuấn nhẹ nhàng rơi xuống mặt đất, không hề bị thương.

Cổ Tẩu và Tượng không cam lòng, họ lại gọi Thuấn đi khơi giếng. Sau khi Thuấn nhảy xuống giếng, Cổ Tẩu và Tượng ở bên trên ném nhiều đất đá xuống, muốn lấp giếng, để chôn sống Thuấn ở dưới, không ngờ sau khi xuống giếng, Thuấn đã khoét ngách giếng chui ra, an toàn trở về mặt đất.

Tượng không biết Thuấn đã thoát chết, hớn hở về nhà nói với Cổ Tẩu: “Phen này anh trai chắc chết rồi, diệu kế này do con nghĩ ra. Bây giờ chúng ta có thể chia tài sản của anh trai rồi.” Nói xong, Tượng liền đi về nhà Thuấn ở, nào ngờ, khi bước vào nhà, thấy Thuấn đang ngồi gẩy đàn bên giường. Tượng trong bụng kinh ngạc, nhưng vẫn giả vờ nói: “Ôi, em nhớ anh biết bao.”

Thuấn cũng tảng lờ như không có chuyện gì xảy ra, nói: “Chú đến rất đúng lúc, tôi bận nhiều việc, đang muốn chú giúp cho ít việc.” Sau đó, Thuấn vẫn đối xử nhã nhặn với cha mẹ và em trai như trước, Cổ Tẩu và Tượng cũng không dám hãm hại Thuấn nữa.

Sau này, vua Nghiêu lại nhiều lần khảo sát Thuấn, cho rằng Thuấn quả là một người đức hạnh lại có tài, quyết định truyền ngôi vua cho Thuấn. Sự nhường ngôi này, được các nhà sử học Trung Quốc gọi là “Thiền nhượng”.(Tức nhường ngôi)

Sau khi vua Thuấn lên ngôi, cần cù tiết kiệm, lao động như dân thường, được mọi người tin cậy. Qua mấy năm, vua Thuấn chết, vua Thuấn vẫn muốn nhường lại ngôi vua cho con trai vua Nghiêu là Đan Chu, nhưng mọi người đều không tán thành. Khi vua Thuấn về già, cũng dùng cách tương tự, lựa chọn Vũ có đức có tài làm người kế thừa mình.

Mọi người tin rằng, trong thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ, thiên hạ không có tranh giành lợi ích, quyền lực, vua và người bình thường đều sống cuộc  sống tốt đẹp và giản dị.

3. Xếp các vị thần, các nhân vật trong các câu chuyện thần thoại tiêu biểu trên (Bàn Cổ, Nữ Oa, Ngưu Lang, Chức Nữ, Hậu Nghệ, Hằng Nga, người Toại, Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Suy Vưu, Khoa Phụ, Nghiêu, Thuấn) vào các nhóm thần tương ứng như trong bảng dưới đây:

Thần sáng thế

Thần cải tạo tự nhiên và xây dựng cuộc sống

Thần đấu tranh vì tình yêu

Các hoàng đế đầu tiên

HẾT

Sinh viên có thể in tài liệu này (có bản đính kèm) để tham khảo lâu dài về sau.

Công việc Sinh viên chuẩn bị cho tuần 2 – DH13

Và các file Powerpoint giới thiệu trong buổi học Tuần 1:

Văn học Trung Quốc

Giới thiệu Blog Phongtauhu

Nhung doan lam van vui

Sinh viên có thể tham khảo thêm bài viết từ các trang web sau:

1. Lịch sử Trung Quốc

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Qu%E1%BB%91c

2. Lịch sử văn hóa Trung Hoa:

http://www.nuiansongtra.com/index.php?c=article&p=1966

3. Lịch sử văn minh Trung Hoa:

http://vnthuquan.org/(S(3wuynbmcci1atc55oa2th1nx))/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn1n4ntn3n31n343tq83a3q3m3237nvn

4. Trang web về Thần thoại Trung Quốc:

http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/chapter16/chapter160104.htm

Thanh Phong, 29.01.2013

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: