Vài suy nghĩ về việc dịch thơ

Nguồn: hanoicity.jaovat.com

Nguồn: hanoicity.jaovat.com

ThS. Nguyễn Thanh Phong[1]

Thơ ca là thành tựu quan trọng trong nền văn học của mỗi quốc gia từ Đông sang Tây. Thơ chứa đựng được tinh hoa văn hóa của mỗi dân tộc, mà quan trọng nhất, thơ phản ánh được đời sống nội tâm, thế giới tinh thần, của con người đang sống ở thời đại ấy, của quốc gia ấy. Một học giả Trung Quốc từng nói một cách hài hước rằng: “Lịch sử chỉ là những bài thơ, còn thơ mới là bộ mặt thật của lịch sử”. Có thể hiểu là, lịch sử thường được viết theo quan điểm của người cầm quyền ở từng thời kì xã hội, vì thế có lúc lịch sử bị hư cấu, bị tưởng tượng giống như thơ. Còn thơ mặc dù là sản phẩm chủ quan của tác giả, nhưng nó phản ánh thật nhất thái độ con người ở thời điểm đó, đương nhiên là không có ngòi bút nào dám sửa thơ người khác theo chủ ý của mình. Vì vậy, ở một khía cạnh nào đó mà nói thì thơ luôn chứa đựng sự thật.

Đa phần các dân tộc trên thế giới đều có bộ phận sáng tác bằng thơ ca đáng tự hào của dân tộc mình, nó là kết tinh của trí tuệ và tâm hồn của dân tộc đó. Người Trung Quốc tự hào về những bài Kinh thi cổ xưa, những bài Sở từ (nửa thơ nửa văn) giàu nhạc điệu dưới thời Xuân Thu – Chiến Quốc, những bài Đường thi đạt đến đỉnh cao thơ ca cổ điển thời trung đại. Người Ấn Độ tự hào về các bộ sử thi đồ sộ độc nhất vô nhị Ramayana và Mahabharata được sáng tác bằng những câu thơ đôi (Sloka) bằng tiếng Sanskrit, hay những bài thơ bằng tiếng Bengan trong tập Thơ dâng của nhà thơ R.Tagore đoạt giải Nobel văn học 1913. Người Nhật Bản tự hào về Vạn diệp tập được viết bằng thể loại đoản ca (Tanka) tròn trịa nhẹ nhàng như những chiếc lá, hay những bài thơ bài cú (Haiku) lắng đọng hàm súc nhưng đầy sức gợi. Người Việt Nam tự hào về những bài ca dao dân ca mượt mà sâu lắng, những truyện thơ Nôm như Truyện Kiều hay Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc… được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc có tiếp thu ảnh hưởng thơ ca Trung Quốc là lục bát và song thất lục bát. Dĩ nhiên, trên đây chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ thành tựu thơ ca đồ sộ trên toàn thế giới.

Giao lưu văn hóa để tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các nền văn hóa ở khắp nơi là nhu cầu đã có từ rất lâu đời. Trên lĩnh vực văn học nghệ thuật thì điều này càng dễ nhận ra hơn. Thế nhưng, quá trình đó sẽ không diễn ra một cách suông sẻ nếu gặp những rào cản xoay quanh vấn đề ngôn ngữ. Và vì vậy, việc dịch các tác phẩm thơ ca từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác là một nhu cầu tất yếu, diễn ra ở hầu hết các quốc gia, các nền văn học, các thời đại. Ở đây cần phân biệt rõ hai khái niệm dịch thơ và bản dịch thơ. Dịch thơ là công việc chuyển ngữ một tác phẩm thơ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, chữ viết khác; có thể dịch từ thơ sang văn xuôi, hoặc từ thơ sang thơ. Bản dịch thơ là sản phẩm của việc dịch một tác phẩm thơ bằng hình thức chuyển tải là thơ.

Dịch văn xuôi đã không đơn giản, dịch thơ càng khó khăn gấp bội. Cái khó khăn chủ yếu ở chỗ bản dịch vừa phải đảm bảo đầy đủ nội dung ý nghĩa, vừa phải đảm bảo đầy đủ tính thơ của nguyên tác. Đa phần khi dịch thơ, người ta phải hy sinh ý nghĩa để đạt được gieo vần, nhịp điệu, tiết tấu nhằm đạt được tính thơ, hoặc phải hy sinh tính thơ đi để đảm bảo trọn vẹn nội dung ý nghĩa. Loại thứ nhất chúng ta thường thấy khi dịch thơ Đường Trung Quốc sang tiếng Việt và loại thứ hai chúng ta thường thấy khi dịch thơ Tagore từ tiếng Anh sang tiếng Việt, hoặc dịch thơ lục bát tiếng Việt, thơ Đường luật chữ Hán, chữ Nôm sang tiếng Anh… Rất hiếm những tác phẩm dịch thơ nào vừa đảm bảo đầy đủ nội dung ý nghĩa, vừa đảm bảo tính thơ của nguyên tác. Nói hiếm chứ không phải là không có, bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Vịnh là những bản dịch xuất sắc hiếm hoi tiêu biểu.

Vấn đề dịch thuật thơ ca thời trung đại ở các nước Đông Á có điểm hết sức đặc biệt, đó là chủ yếu dịch từ chữ Hán sang ngôn ngữ mẹ đẻ của các quốc gia và ngược lại. Nghĩa là, việc dịch thuật tác phẩm thơ ca này có thể diễn ra giữa các nền văn học, cũng có thể diễn ra trong chính nội bộ một nền văn học đồng thời sử dụng nhiều loại chữ viết. Bởi lẽ, cả Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều thuộc vòng văn hóa chữ Hán. Ngay từ rất sớm, chữ Hán đã được các nước này sử dụng làm công cụ ghi chép lại những sáng tác thơ ca. Thế nhưng, không phải ai vào thời điểm đó cũng đều có thể đọc hiểu được chữ Hán, đặc biệt là người dân lao động thuộc các tầng lớp dưới trong xã hội. Vì vậy, nhu cầu diễn nghĩa các tác phẩm mang tính kinh điền từ chữ Hán sang chữ Nôm như ở Việt Nam, sang chữ Nhật (Hiragana và Katakana) trong tiếng Nhật và sang chữ Hàn (Chosongul hay Hangul) trong tiếng Hàn là một nhu cầu xuyên suốt trong tiến trình văn học các nước. Chính vì lẽ đó, ở Việt Nam, các tác phẩm diễn Nôm nổi tiếng lần lượt ra đời. Chẳng hạn, Đoàn Thị Điểm diễn Nôm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, tác giả khuyết danh diễn Nôm cuốn tiểu thuyết Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai của tác giả Tích Âm Đường Chủ Nhân thời Minh – Thanh… Dĩ nhiên, nếu nói Đoàn Thị Điểm chỉ đơn thuần dịch sang chữ Nôm bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn thì chưa đúng, mà phải thừa nhận những sáng tạo to lớn dựa trên sự đồng cảm sâu sắc với tác giả bản gốc, những cảm xúc thăng hoa và tài năng người nghệ sĩ của chính dịch giả. Sự sáng tạo đó vượt trội đến nỗi quần chúng thưởng thức thơ xem Chinh phụ ngâm khúc là sản phẩm sáng tạo toàn vẹn của Đoàn Thị Điểm, bản diễn Nôm trở nên hay hơn và được mọi người biết đến nhiều hơn cả bản gốc.

Việt Nam có mối quan hệ giao lưu thơ ca với Trung Quốc từ rất sớm, có thể đã bắt đầu từ khi người Hán xâm chiếm và đô hộ người Việt. Khi đó, những bài Kinh thi đầu tiên theo chân các sĩ phu Trung Quốc truyền vào Việt Nam, những vu quy (cô gái về nhà chồng), cù lao chín chữ (ví với công ơn nặng nhọc của cha mẹ), yểu điệu thục nữ (cô gái xinh đẹp dịu dàng)… tự nhiên đi vào lời ăn tiếng nói của người Việt Nam. Ban đầu, giới trí thức quý tộc thuộc tầng lớp trên của Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với bản nguyên tác chữ Hán của tác phẩm, sáng tác bằng chữ Hán cũng là khuynh hướng chủ đạo của văn học thời kỳ đầu. Cùng với nhu cầu truyền tụng những tác phẩm chữ Hán này trong quảng đại quần chúng nhân dân, việc dùng chữ Nôm để dịch lại những tác phẩm đã có sẵn hoặc sáng tác những tác phẩm mới dần dần chiếm giữ vai trò quan trọng, trở thành một mảng sáng trong bức tranh văn học Việt Nam hậu kỳ trung đại.

Còn nhớ trong một lần dự hội thảo văn học bàn về mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc. Tại đó, một học giả Trung Quốc phát biểu rằng, Truyện Kiều của Nguyễn Du là bản dịch thơ sang tiếng Việt (bằng chữ Nôm) cuốn tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ý kiến đó đã bị một học giả Việt Nam phản bác vì theo học giả này, Truyện Kiều là một sản phẩm sáng tạo tuyệt vời của Nguyễn Du, chứ không đơn thuần chỉ là dịch từ văn xuôi chữ Hán sang thơ lục bát chữ Nôm. Học giả này còn cho rằng, hiện tượng sử dụng thi liệu, văn liệu của văn học trước đó, trong nước hoặc của nước ngoài, để sáng tác ra một tác phẩm có nhiều chỗ kế thừa, là một việc làm rất bình thường trong sáng tác văn học. Hình tượng nhân vật Hamlet trong văn học các nước châu Âu, hình tượng Rama và Sita trong sử thi, truyện kể của nhiều nước Đông Nam Á là những ví dụ tiêu biểu. Kể lại câu chuyện này để thấy rằng, ranh giới giữa dịch thơ của người khác, sáng tác dựa trên văn liệu thi liệu của người đi trước, thậm chí là ứng họa, phóng tác thơ của người khác, nhiều lúc rất mong manh, người nghiên cứu dễ ngộ nhận bởi không phải lúc nào cũng có căn cứ để phân biệt rõ ràng.

So sánh nguyên tác với bản dịch thơ của tác phẩm là một thao tác quan trọng mà môn Hán Nôm có chức năng hỗ trợ cho người học. So sánh để thấy những hạn chế mà bản dịch thơ không thể lột tả hết được so với nguyên tác, đồng thời cũng để thông cảm với những nỗ lực cân đối giữa nội dung ý nghĩa và tính thơ mà dịch giả đã kì công chắt lọc. Đa phần các bản dịch thơ đều không phản chiếu lại đầy đủ những cái hay được thể hiện trong nguyên tác. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không cần những bản dịch thơ. Người thưởng thức có thể xem bản dịch nghĩa để thấy được đầy đủ nội dung và một phần tính thơ, họ cũng có thể có thể xem bản dịch thơ để thấy rõ hơn tính thơ và một phần ý nghĩa. Đối với học sinh phổ thông, đối tượng mà năng lực thưởng thức tác phẩm từ chính nguyên tác còn nhiều hạn chế, thì bản dịch thơ lại gần gũi và cần thiết hơn đối với họ. Chính vì vậy, bản dịch nghĩa hay bản dịch thơ, dù vẫn có chỗ chưa trọn vẹn, nhưng đều mang những giá trị nhất định của nó.

Thật ra, không có chuyện dịch thơ sẽ có hại cho nguyên tác, sẽ làm cho người khác hiểu sai tác phẩm. Nếu hiểu dịch thơ chỉ đơn thuần là dịch thơ, tức không phải là nguyên tác, thì chúng ta cũng sẽ thừa nhận những thiếu sót trong bản dịch thơ là điều tất yếu. Nguyên tác vẫn vẹn nguyên đó, vẫn giữ mãi giá trị trường tồn đã được khẳng định của nó, thì chắc chắn không có chuyện nó bị hư hỏng. Người đọc nếu xác định được đó chỉ là bản dịch thơ, được thể hiện lại qua ngôn ngữ thơ của một người khác, nó và nguyên tác là hai cá thể độc lập tương đối, thì sẽ thông cảm được phần nào những thiếu sót của bản dịch thơ. Ở một phương diện nào đó, hoạt động dịch thơ thực ra cũng là một hoạt động sáng tạo. Dịch giả đã làm sống động bài thơ bằng một ngôn ngữ khác, một chữ viết khác, thông qua những cảm nhận chủ quan của mình. Do đó, lúc này, dịch thơ cũng chính là quá trình cảm nhận của chủ quan dịch giả về bài thơ, là quá trình sáng tạo của dịch giả dựa trên những chất liệu thơ từ trong nguyên tác.

N.T.P


[1] GV Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, ĐH An Giang.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: