Một góc nhìn về “Liêu trai chí dị” và “Truyền kì mạn lục”

Nguồn: nhasachphuongnam.com

Nguồn: nhasachphuongnam.com

Nguyễn Thị Hồng Thủy – DH13NV

Con người ta sinh ra trên đời như một trang giấy trắng, và rồi chính thời gian là một liều thuốc nuôi dưỡng và bồi bổ những kinh nghiệm cho con người. Họ sống bằng cái tâm, tận tụy hết mình, tích lũy, đúc rút những gì mình cho là hay, cho là có ý nghĩa… Song, đã là cuộc đời thì không phải lúc nào cũng bằng phẳng, cũng như mơ, cũng đẹp. Đời cũng có những thử thách, gian nan, khó nhọc, bất công, bất cập, đặt ra trước mắt. Ai đã từng sống, từng nếm trải “mùi” đời sẽ có được những thể nghiệm hết sức sống động, chan chứa tình cảm. Thể nghiệm ở đây khác với kinh nghiệm, thể nghiệm là sự lĩnh hội rồi suy tư, suy ngẫm dẫn đến thấu suốt. Ở đây tôi muốn nói đến việc hiểu thấu cuộc đời.

Kết thúc học phần Văn học Châu Á, được tiếp cận với môn Văn học Trung Quốc trong thời gian vừa qua, cứ làm tôi bâng khuâng mãi. Phải chăng chính vì đã được thể nghiệm cuộc đời, được trải mình ra để hòa quyện vào nó, được “lăn xả” trong đời người đầy ẩn uất, cay đắng, xen lẫn hoài niệm, tiếc nuối mà những con người ấy – cả Bồ Tùng Linh và Nguyễn Dữ đã bộc lộ nỗi lòng mình bằng những ngôn từ, hình ảnh, những cốt truyện, nội dung hết sức sinh động và nhạy bén; đặc biệt là những hình ảnh, chi tiết hư cấu, cái mà ngoài đời thực không hề có. Phải chăng là muốn dùng những thứ không có để nêu lên ước mơ, khát vọng muốn có? Hay là dùng nó như một phương tiện để đả kích cái xã hội không có chuẩn mực? Hay đây là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa tư tưởng Nho giáo và các tư tưởng khác, cả nhân văn lẫn phản nhân văn… Hay còn gì khác nữa? Tất cả điều được thể hiện một cách rõ nét qua những đứa con tinh thần để đời của hai vị tiên sinh đáng kính được nhắc đến ở trên, tác phẩm văn học tiểu thuyết cổ Trung Quốc – Liêu trai chí dị (Bồ Tùng Linh ) và áng “thiên cổ kỳ bút” trong văn học trung đại Việt Nam – Truyền kỳ mạn lục ( Nguyễn Dữ )

Tôi biết đến Liêu trai chí dị, tiếp cận Liêu trai chí dị và bước vào thế giới của “liêu trai”. Ở nơi đó, những thần tiên hay ma quỷ không đơn thuần là chính họ. Như đã biết, Liêu trai chí dị lưu truyền trong dân gian, là sự chưng cất, chắt lọc của Bồ Tùng Linh từ kho tàng văn hóa dân gian ấy. Bồ Tùng Linh sinh năm 1640 và mất năm 1715, người ở huyện Tri Xuyên, tỉnh Sơn Đông, sinh ra và lớn lên trong một gia đình địa chủ suy tàn, sống trong cảnh nghèo hèn, túng quẩn. Cuộc đời của người trí sĩ ấy như lênh đênh trên sóng nước, những con sóng vô tình như muốn dìm xuống, muốn cuốn lấp đi tất cả những tài năng, hy vọng và hoài bão của Bồ Tùng Linh. Thật đúng với câu: “Trăm năm trong cõi người ta – Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” (Nguyễn Du). Không đỗ đạt trong con đường công danh lận đận, long đong, có lúc ông đi dạy học, có lúc lại đi làm môn khách cho bọn quan lại. Sự nghèo túng đó dẫn đường cho ông đến gần với quần chúng nhân dân,  những người lao động, những con người quanh năm quần quật, chân lấm tay bùn. Cuộc sống gần gũi và gắn bó đó đã khiến cho Bồ Tùng Linh có một mối giao cảm nhạy bén với cuộc sống thế thái nhân tình hơn chăng? Các câu chuyện trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh gần gũi, bình dị, chân thật, giàu yếu tố hiện thực. Đó là nỗi long đong của anh học trò thời mua danh bán tước, những thủ đoạn áp bức, hà  hiếp dân lành của bọn cường hào ác bá, những món ăn chơi của bọn thế gia, những mánh khóe luồn lọt của lũ người cầu danh… Tất cả những mặt sáng, mặt tối của cuộc đời đều được tác giả khéo léo sắp đặt trong không gian của những non tiên, thượng giới, âm ty, hay trong một ngôi mộ hoang, một giấc chiêm bao… Dù tác giả cố ý che phủ câu chuyện bằng lớp màn hư ảo nhưng người đọc vẫn nhận ra cái lõi hiện thực của nó. Trong Liêu trai chí dị không ít những cảnh quan lại ức hiếp dân lành (Xúc chức, Hướng Cảo… ) ỷ vào tiền tài, quyền lực để bẻ cong công lý, chính nghĩa (Tịch Phương Bình, Mộng thấy chó sói…). Ngoài ra tác giả còn đả kích chế độ khoa cử hủ lậu đã gây nên tình trạng “người trong cuộc thì khóc lóc chết dỡ, mà người ngoài nhìn vào thì rất buồn cười” (Vương Tử An, Ti Văn Lang, Thư sinh họ Diệp… )[1]. Tất cả, chính là nỗi bất bình trước chế độ phong kiến đương thời và những suy ngẫm của Bồ Tùng Linh trước thời thế.

Tiếp theo đây xin được nhắc đến “Thiên cổ kỳ bút” – Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, một tác gia của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm phê phán hiện thực – những tệ nạn trong một xã hội phong kiến đang suy thoái. Xã hội trong Truyền kỳ mạn lục là một xã hội thối nát đầy rẫy những tệ lậu từ trên xuống dưới. Trong đó, cuộc sống người dân hết sức bấp bênh, khốn đốn vì luôn bị những cái ác và cái xấu bủa vây… Mượn những sự kiện, nhân vật, khung cảnh các đời trước để phê phán, nhưng những tội ác được Nguyễn Dữ vạch trần làm người đọc không thể không liên tưởng đến triều đại đương thời. Những điển hình sắc sảo cho tội ác tham lam không đáy, nhũng nhiễu và hiếp bức dân lành. Thái độ vạch trần và tố cáo bản chất xấu xa đầy tội ác của giai cấp thống trị đã nói lên quan điểm thân dân của tác giả. Tác phẩm còn phơi bày những tệ nạn khác trong xã hội, đó là bọn tu hành gian dối, do những tên bất lương trộm cướp hay phường giá áo túi cơm lười biếng trốn việc, núp dưới mái chùa để làm điều xằng bậy (tên sư Vô Kỷ trong truyện Nghiệp oan của Đào Thị sống thiếu trung thực, làm chuyện dâm ô trong nhà chùa, hai tên hộ pháp trong Truyện cái chùa hoang ở Đông Triều với những hành động bỉ ổi “vào bếp để khoắng hũ rượu”, “vào buồng để ghẹo vợ người”. Đó là những tên lái buôn ỷ vào thế lực đồng tiền sống phóng đãng sa đọa, hoặc những nho sinh hư hỏng trụy lạc[2]… Tất cả những cái xấu xa trong một xã hội phong kiến đang đi vào suy thoái đã hiển hiện đầy đủ và sắc nét trong tác phẩm, phản ánh một cách trung thực bộ mặt xã hội. Ngoài ra Truyền kỳ mạn lục còn đề cao thái đọ “lánh đục về trong” và thể hiện một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, đồng thời cũng là một sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến của tác giả.

Khi tìm hiểu qua hai tác phẩm Liêu trai chí dịTruyền kỳ mạn lục, đâu đó trong tôi lại luôn phảng phất những suy nghĩ vẩn vơ… Có thể là trong cuộc sống này có nhiều điều làm cho chính bản thân mình cũng không thể kiểm soát được, nhưng không vì thế mà rơi vào tuyệt vọng, chán chường, có thể lấy những cay đắng, những uất ức đó chuyển thành sức mạnh biến những việc tưởng chừng như không thể thành có thể, dù cho khi làm việc này trong lòng sẽ luôn có cái gì đó làm cho mình day dứt, đau đáu với từng giây từng phút suy ngẫm và nhìn lại mình. Tôi mạn phép đặt mình ở một vị trí và cảm nhận rằng, ở đây, hai con người này, Bồ Tùng Linh và Nguyễn Dữ, họ sống ở hai thời đại (tạm cho là cách xa nhau), ở hai quốc gia và vùng lãnh thổ khác xa nhau, nhưng dường như từ sâu thẳm trong tâm thức, họ có nhiều điểm chung, đều là những con người sống bằng cái tâm trong sáng, những con người ưu thời mẩn thế, có chí hướng, hoài bão phù nghiêng đỡ lệch, song, phải vì hoàn cảnh mà rơi vào con đương bất đắc chí. Và quan trọng là không dừng lại ở đây, họ đã cho hết cả thẩy vào ngòi bút của mình, cho những khát khao công bằng, nhân dân thoát khỏi ách áp bức bóc lột, và những khát vọng được yêu thương, được hạnh phúc của con người, dù là ở tầng lớp nào đi chăng nữa. Mặc dù một phần nào đó các tác phẩm bị hạn chế bởi thời đại, bởi những tư tưởng phong kiến bảo thủ, tư tưởng Nho giáo đè nặng không cho vượt qua khỏi rào cản vững chắc của nó. Nhưng không vì thế mà các tác giả đáng kính không nêu lên được tư tưởng nhân văn, nhân đạo của mình. Họ đã vượt lên trên thời đại, đã dũng cảm làm việc đó dưới một chế độ luôn đè nặng, bắt con người ta phải chịu đựng.

Hầu hết những thiên truyện trong Liêu trai chí dị là những truyện ngắn có đầu có đuôi, tình tiết phong phú, liền mạch, tạo nên sự chặt chẽ trong kết cấu. Các yếu tố khác thường được sử dụng rộng rãi khiến câu chuyện trở nên ly kỳ, hấp dẫn. Chất tài hoa trong con người Bồ Tùng Linh cũng được thể nghiệm đầy đủ trong những áng văn “liêu trai”. Còn Truyền kỳ mạn lục đã vượt ra khỏi cái tên gọi khiêm tốn của mình, là một bản cáo trạng đanh thép đối với toàn bộ giai cấp thống trị ở xã hội mà Nguyễn Dữ đang sống, từ đó toát lên một giá trị nhân dạo sâu sắc, xứng đáng được mệnh danh là “thiên cổ kỳ bút” (theo lời bình của Vũ Khâm Lân). Hai tác gia khác nhau với hai tâm hồn, hai thể xác nhưng lại có chung một nhịp đập trái tim, một lý tưởng nhân nghĩa làm nức lòng những ai biết đến họ, sự tài hoa, uyên bác về kiến thức văn hóa, về nhân tình thế thái, triết lý nhân sinh… Dù có một khoảng lùi thời gian và không gian nhất định, nhưng họ đã cho tôi được hòa mình vào thế giới huyền bí nhưng thật gần gũi, cho tôi được lắng lòng nhìn cuộc sống ngày xưa và suy ngẫm cho ngày nay, phải biết dùng hết sức để sống và phấn đấu cho lý tưởng của mình. Đó là tất cả những gì tôi lưu tâm và tâm đắc nhất khi được học học phần Văn học Trung Quốc với tư cách là một người Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tuyển tập tiểu thuyết cổ Trung Quốc – NXB trẻ, hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM (GS. Lương Duy Thứ, PTS. Hồ Sĩ Hiệp, ThS. Đinh Phan Cẩm Vân).

2. Hợp tuyển văn học Châu Á, tập I văn học Trung Quốc, NXB  ĐH Quốc gia Hà Nội ( Lưu Đức Trung, Trần Lê Bảo, Phạm Hải Anh).

3. Tài liệu văn học Trung Quốc ( ThS. Phùng Hoài Ngọc).

4. Nguyễn Dữ, Truyền Kỳ Mạn Lục, NXB văn học

5. Văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X – cuối thế kỷ XIX, NXB giáo dục (Đoàn Thị Thu Vân, Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Lê Văn Lực, Phạm Văn Phúc).


[1] Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP. HCM, Tuyển tập tiểu thuyết cổ Trung Quốc, NXB trẻ.

[2] Văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X – cuối thế kỷ XIX, NXB Giáo dục

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: