Vài cảm nhận về tình thầy trò và tính cách các nhân vật trong “Tây du ký”

Nguồn: giaoduc.net.vn

Nguồn: giaoduc.net.vn

Nguyễn Thị Thúy An –  DH13NV

Tây du ký – một trong các tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng Trung Quốc – đã để lại cho đời những triết lí sâu sắc. Mỗi câu chuyện về sự xuất thân của nhân vật, hình thành tính cách nhân vật, mà tính cách ấy là một phương diện tính cách con người trong xã hội. Bên cạnh đó, Tây du ký còn chứa đựng những câu chuyện cảm động về tình thầy trò và phần nào nói lên các mối quan hệ giữa người với người.

I. Tình thầy trò trong Tây du ký

1. Tình thầy trò giữa Tôn Ngộ Không và Tu Bồ Đề tổ sư

Trong xã hội cũ, con người luôn đề cao đức tính của người quân tử: lòng trung quân, hiếu đạo, lòng tôn kính các bậc tiền nhân, chữ nhân nghĩa luôn đi đầu. Trong Tây du ký, Ngô Thừa Ân đã khắc họa rõ chân dung người quân tử, một lần nữa đề cao chữ nhân nghĩa qua tình thầy trò giữa các nhân vật, mà nhân vật có thể được xem là mang ơn nhiều thầy nhất là Tôn Ngộ Không.

Là một người mộ đạo, lại mang bản chất trời đất hợp thành, Ngộ Không dù mang tính cách “tự do” của trời đất nhưng trong con người ấy vẫn khắc sâu ơn nghĩa của nhưng người từng truyền dạy, giúp đỡ mình, và những người thầy trong Tây du ký cũng dành cho đồ đệ của mình những tình cảm sâu sắc. Mỗi người mỗi cách thể hiện nhưng đâu đó chứa đựng những tình cảm rất gần, truyền dạy cho học trò bằng cả cái tâm. Là một con khỉ được sinh ra từ tảng đá lớn, Ngộ Không may mắn được vị tiên Tu Bồ Đề tổ sư truyền cho các phép thần thong. Chẳng những thế, với Ngộ Không, Bồ Đề tổ sư là người đã sinh ra Ngộ Không lần thứ hai, người đã đặt cho con khỉ vô danh một cái tên, dạy cho biết đạo lý và truyền dạy phép trường sinh để Ngộ Không bất tử. Cũng chính vì vậy mà tình thầy trò gắn bó, Ngộ Không tạc lòng không quên, nên khi bị bắt phải rời động, Ngộ Không đã quỳ khóc tức tửi van xin “Xin thầy mở lượng từ bi dung thứ cho đệ tử được gần thầy ngày đêm hầu hạ”, dù biết khi rời động Ngộ Không biết mình còn nơi để về, động Thủy Liêm còn có bầy khỉ con chờ đợi. Ngót hơn mười năm ở Tam Tinh động, Ngộ Không mến cảnh nhớ người, không nỡ rời xa: “Sống nơi đây hơn mấy năm trời, mến thầy nhớ bạn, lẽ nào nhất đán thầy nỡ đuổi đệ tử về quê để ôm sầu cách biệt”.

Lại xét cho lòng người thầy, dù mến thương đứa học trò phi thường, nhanh trí nhưng đoán trước được tai họa từ tính tình nông nổi cùng với tài năng mình đã truyền dạy sớm muộn sẽ gây họa lớn nên đành cắn răng, bóp lòng đuổi đi với bao lời quở trách “Ngươi là đứa khoe khoang, gàn dở ta không quở phạt làm gì, song ngươi phải rời khỏi chốn này”. Cuộc chia tay cuả hai thầy trò đầy đau xót. Vốn mến thương nhưng e dè tai họa, Tu Bồ Đề tổ sư buộc lòng phải chối bỏ đứa học trò mình thương yêu, đã gần gũi nhau “bao mùa đào chín”: “Ngươi về xứ cũ ắt làm việc chẳng lành, nhưng lành hay dữ tùy ngươi đeo họa lấy. Ta chỉ cấm ngươi đừng xưng là đệ tử của ta, nếu ngươi nói nửa lời sẽ bị thu hồi phép và hồn người bị bắt giam cầm nơi địa ngục”. Và từ đó, Ngộ Không dù thương nhớ nhưng không một lần dám nhận mình đã từng theo học ở Tà Nguyệt Tam Tinh Động, cứ mang theo những gì thầy dạy lên trời, xuống biển tung hoành náo động khắp nơi. Đi đến đâu cũng tự hào xưng tên họ – Tôn Ngộ Không, đó là điều duy nhất về những năm sống ở Tam Tinh Động mà Ngộ Không dám nhắc đến. Và có lẽ với con khỉ đá đó mỗi lúc xưng tên là mỗi lần nhớ đến người thầy đã ban cho cái tên ấy. Xưng tên với tất cả niềm trân trọng. Có lẽ vì vậy mà qua hàng mấy trăm năm khi đã gây ra bao nhiêu sóng gió, bị giam cầm ở Ngũ Hành Sơn rồi đến khi về phò tá Đường Tăng gặp kiếp nạn, Ngộ Không vẫn nhớ đến người thầy đầu tiên, quay về cầu cứu thầy. Nhìn cảnh cũ hoang sơ tiêu điều, người cũ thì vắng bặt, sinh linh bằng đá ấy đã rơi những giọt lệ nhớ thương người thầy cũ.

2. Tình thầy trò giữa Đường Tam Tạng và ba đồ đệ

Lại nói về tình thầy trò trong Tây du ký, nếu Tu Bồ Đề tổ sư có ơn truyền dạy phép thuật tinh thông cho các môn đệ và là người ơn sâu nghĩa nặng với Tôn Ngộ Không thì Đường Tam Tạng lại là người ban ơn cho Tôn Ngộ Không thoát khỏi núi Ngũ Hành, thâu nhận làm đồ đệ để rồi mở ra cho Ngộ Không một hướng đi mới sau năm trăm năm bị giam cầm. Ngộ Không bái sư mới nguyện theo phò tá bảo vệ Tam Tạng trên đường sang Tây Thiên nhưng vẫn giữ lấy cái tên của người thầy ở động Tà Nguyệt Tam Tinh đã đặt cho, đồng thời lại nhận ơn ban tên Hành Giả. Điều đó cho thấy Ngộ Không là người trọng tình cảm thầy trò, không quên ơn người dưỡng dạy.

Xét về sự nhọc công giữa hai người thầy khi thâu nhận Tôn Ngộ Không làm đồ đệ thì Đường Tam Tạng nhọc công hơn muôn phần bởi Tôn Ngộ Không vốn là cốt khỉ, tánh không chịu sự quản thúc theo lối nhà tu, mà Tam Tạng lại là một thầy tu phải dùng lời thuyết lý Phật pháp răn dạy Ngộ Không theo nẻo chính. Ấy thế mà đã bao phen Ngộ Không trở chứng bỏ đi, để mình thầy quạnh quẽ giữa núi rừng nhưng Tam Tạng vẫn không một lời oán trách cứ cho đó là do số mình không có học trò. Ngộ Không cũng là kẻ có tình, dù tức giận bỏ thầy nhưng khi nhìn thấy bức tranh nhặt hài của Huỳnh Thạch Công và Trương Lương, Tôn Hành Giả bỗng nhớ về công ơn của thầy từ việc cứu khỏi núi Ngũ Hành đến về thầy chong đèn ngồi may áo, liền quay lại tiếp tục hộ tống thầy đi Tây Thiên, bao phen vào sinh ra tử cứu thầy thoát khỏi bọn yêu quái.

Tấm lòng Tam Tạng với Hành Giả là thế, với hai đồ đệ là Bát Giới và Ngộ Tịnh cũng không giảm đi. Với mỗi học trò, Tam Tạng đều cho một cái tên “Ngươi đã làm đệ tử, ta phải đặt pháp danh cho ngươi”. Biết học trò mình mang tính phàm trần, Tam Tạng hết lòng dùng Phật pháp răn dạy. Mỗi người một tính, Tam Tạng dựa vào tính của học trò mà lựa lời khuyên răn. Dùng cái tâm lương thiện của mình để cảnh tỉnh những học trò chưa thật sự am hiểu đạo lý, Phật pháp.

Với Tôn Hành Giả, dùng lời thuyết pháp không đặng, ngăn không xong những việc Hành Giả làm đành phải yêu thương đệ tử mà răn dạy bằng câu chú gây đau đớn. Nhưng hỡi ôi, với cách răn dạy đó, trong dạ người thầy đau xót biết bao. Còn với Bát Giới, vốn mang nhiều bản tính phàm tục, lắm dục vọng, Tam Tạng phải bao lần nhọc tâm khi chứng kiến dục vọng của học trò mình nổi lên: tham ăn, háo sắc, mê của và khi ấy người thầy lại dùng cái tâm tính thiện mong hướng học trò về điều ngay, là người cầm lái cho bản tính của Bát Giới. Riêng về Sa Ngộ Tịnh, Tam Tạng đỡ nhọc lòng hơn bởi đây là đứa học trò ngoan. Tính người cũng như tên gọi, lấy tịnh chế động. Người không mang dục vọng lại biết lắng nghe lời thầy, luôn vững tâm tiến đến Tây Thiên.

Trên đường dài tìm chân kinh gian khổ, trải qua bao kiếp nạn, bao lần thầy trò giận nhau vì lỗi lầm của đồ đệ nhưng tình cảm giữa bốn người thật gắn bó. Thầy trò nâng đỡ nhau cùng đi đến Tây Thiên.

II. Tính cách nhân vật trong Tây du ký phản ánh tính cách con người

Với hệ thống nhân vật trong Tây du ký mà đặc biệt là sự kết hợp của thầy trò Đường Tăng, dưới ngòi bút của Ngô Thừa Ân, đã đúc kết hoàn chỉnh tính cách của con người phạm tục vốn có. Và đâu đó, qua các nhân vật lại ẩn giấu một khái niệm quan trọng về chữ tâm trong đạo làm người. Mà từ Đường Tăng cho đến các môn đệ đều biểu trưng một đặc tính thường thấy của con người.

Nhân vật Tôn Ngộ Không thường để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Tây du ký. Bởi tinh thần mộ đạo, tài năng siêu phàm và bên cạnh là tính tình cương trực, nóng nảy – vì nóng nảy nên Ngộ Không phạm phải điều háo sát. Ngộ Không hội đủ trí, dũng và lòng trung thành một dạ báo ân. Một người người đầu đội trời, chân đạp đất, dám nghĩ dám làm, lại chẳng một chút sợ sệt trước các thế lực của kẻ cầm quyền. Và ở nhân vật ương ngạnh ấy, còn có sự ung dung, lạc quan đến lạ lùng. Khi Ngọc Hoàng giáng tội, chư tiên kéo đến bắt về trừng trị còn có thể thản nhiên ngồi ngất nghểu uống rượu ngâm thơ – những câu thơ đầy ngạo mạn.

“Ngõa nguê tiệc rượu lại ngâm thi

Bao quản ngoài tai tiếng thị phi”

hay

“Thơ rượu sẵn vui ngâm lại nhậu

Công danh chỉ tính kiếp cùng chầy”

Tôn Ngộ Không chẳng những tượng trưng cho tài trí mà còn cho cả lý trí. Với quan niệm của con người, bao giờ lý trí cũng phải dẫn dắt, soi đường cho hành động. Ngô Thừa Ân ắt hẳn phải thấu suốt mới thể hiện được quan điểm đó một cách tài tình bằng việc để Tôn Ngộ Không luôn đi trước dẫn đường thầy và hai sư đệ trên suốt đường đi Tây Thiên. Lý trí luôn nổi loạn trước sự bất bình và Tôn Ngộ Không đã nổi loạn, ngang tàng, phách lối, chẳng nhận thua kém về mình. Cho nên đã coi mình ngang bằng trời, tự xưng hiệu Tề Thiên. Và cứ thế lên trời xuống biển quậy phá không chút đắn đo, chẳng hề ngần ngại. Với Ngọc Hoàng vẫn xưng “Lão Tôn” cho thấy sự kiêu căng vô lối. Trước mắt trời quyết không quỳ, phát ngôn bất kể tôn ti trật tự, đó là một kiểu tượng trưng cho đầu óc duy lý của những người muốn phủ nhận Thượng Đế. Chính từ những “thuộc tính” như thế nên cần phải được uốn nắn luôn luôn, cho biết gì là kỷ cương khuôn phép. Và vòng kim cô của Quan Âm Bồ Tát là công cụ uốn nắn khôn khéo nhất cho Tôn Ngộ Không.

Nếu Tôn Ngộ Không là lý trí thì trái ngược với đồ đệ của mình, Đường Tam Tạng lại là cảm tính. Ông tượng trưng cho thế giới tình cảm của con người: lòng từ bi, nhân hậu, bao dung, quyết tâm tu hành vượt qua muôn vàn cám dỗ. Tuy nhiên, với ông còn thể hiện sự u mê phàm tục, nhu nhược. Nhiều lần sa vào tay yêu quái cũng bởi cả tin. Có lẽ do tâm bát nhã rải đều thiên hạ nên Tam Tạng chẳng hiểu được rằng “ngoài tính thiện còn có tính chẳng thiện”. Trong cuộc hành trình đi Tây Thiên, nhiều lần Đường Tăng bị lợi dụng lòng nhân hậu và những lúc ấy Tề Thiên luôn ngăn cản, nhắc nhở nhưng Đường Tăng cứ bỏ ngoài tai để rồi tự mình vương lấy nạn. Đó chính là sự nhận thức của cảm tính tách rời lý trí. Đường Tăng cứ lặp đi lặp lại những sai lầm của mình mà chẳng sai lầm nào giống sai lầm nào. Với con người cũng vậy, nếu không nghe theo lý trí, lương tâm mà chỉ biết chiều theo dục vọng, tình cảm nhất thời thì cứ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác mà thôi.

Một con người phàm tục đâu chỉ có lý trí và cảm tính, đâu chỉ có những chân – thiện – mỹ, nó còn có cả những cái gì tầm thường, khó chấp nhận. Trư Bát Giới là đại diện cho tính tham và dục vọng, những gì thuộc về bản năng. Bát Giới tham ăn, tham ngủ, tham của, tham sắc và tham nịnh nọt để vụ lợi. Ngô Thừa Ân đã gửi gắm một ngụ ý sâu sắc khi chọn khí giới cho Bát Giới không gì khác hơn mà là cây đinh ba, dụng cụ cào cỏ, như rằng nó dùng để vơ vào cho mình nhiều thứ cho thỏa sự tham dục, trần tục, mà con người vốn không thể chối bỏ.

Riêng về Sa Tăng, cứ như một đứa trẻ ngoan, cần cù, nhẫn nại, luôn nghe theo bề trên hiếm lời phản bác can ngăn. Là người thủ vai vác hành lý và luôn đi sau cùng. Thế nhưng, Sa Tăng không một lần thốt lên lời thối lui – trái ngược hoàn toàn với Bát Giới bao phen đòi quay lại – và trong tâm tưởng khi đã quyết theo thấy thì đầy quyết tâm, một lòng không biến đổi. Đó là tinh thần trì thủ, chí đã định thì không xoay dời.

Bên cạnh đó, trong hệ thống nhân vật Tây du ký, còn tìm thấy ở Thái Bạch Kim Tinh đức khoan hồng rộng lớn, đã bao lần cầu xin Thượng Đế khi Tôn Ngộ Không gây nhiều tai họa “Thạch hầu là trời sanh, tu đã lâu năm, thần thông biến hóa. Hạ thần thiết tưởng khó nỗi thu hồi, chi bằng đòi về phong chức lưu giữ lại thiên cung, nếu nó có hung hăng dễ bề trị tội. Xin Ngọc Hoàng lấy lượng khoan hồng”.

Ngoài ra, tác phẩm Tây Du Ký còn truyền tải đến chúng ta những triết lý sâu sắc về đạo lý ở đời như U Minh Giáo chủ Địa Tạng Vương đã nói: “Thiết nghĩ: Trời có thần, đất có quỷ âm dương thay đổi, sống thác có mạng, muôn vật đều chịu kiếp luân hồi, không có vật gì trường tồn mãi mãi. Đó là đạo lý”.

N.T.T.A

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: