Tư tưởng “thiên tử” trong văn học thời Lý Trần

Các Giáo sư, Tiến sĩ chủ trì phần thảo luận (từ trái sang phải) : GS. Vương Thu Bân, GS. Lưu Đức Bân, GS.NGND. Nguyễn Đình Chú, TS. Nguyễn Văn Hiệu, PGS. TS. Huỳnh Quốc Thắng, GS. Vương Sâm Phát (Ong Seng Huat, Học viện Hàn Dương, Malaysia). Nguồn: http://www.hcmussh.edu.vn/

Các Giáo sư, Tiến sĩ chủ trì phần thảo luận. Nguồn: http://www.hcmussh.edu.vn/

ThS. Nguyễn Thanh Phong

Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Đại học An Giang.

Tóm tắt

Thời đại Lý Trần kéo dài gần 500 năm (938-1418) trải qua sáu triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, là thời kì đầu tiên của nền phong kiến tự chủ Đại Việt. Để xây dựng ổn định chế độ phong kiến còn sơ khai đó, hoàng đế các đời đã tích cực học hỏi mô hình của chế độ phong kiến Trung Quốc, đặc biệt vận dụng khéo léo hệ thống tư tưởng “thiên tử” trong triết học cổ điển Trung Quốc để phục vụ cho quá trình trị nước của mình.

Luân lý Nho giáo đề cập nhiều đến vai trò của thiên tử, vai trò đó được thể hiện trong quan hệ tác động qua lại mật thiết với hoàng thiên (thượng đế), với thần minh và anh linh tổ tông, với quần thần và với quần chúng nhân dân. Quan trọng hơn, “tu thân” đối với thiên tử vẫn là nền tảng không thể thiếu để “trị quốc” và “bình thiên hạ”. Do đó, “quân quân” (vua làm trọn phận sự của vua) trong quan niệm Nho giáo được áp dụng vào thực tế xã hội thời Lý Trần, giúp ta thấy rõ hơn chân dung của từng vị vua trong lịch sử dân tộc. 

Abstract

The Ly – Tran Era lasting nearly 500 years (938 AD – 1418 AD) with 6 dynasties including Ngo, Dinh, Tien Le, Ly, Tran, and Ho is the first autonomous feudal period of Dai Viet nation. In order to build up the nascent feudal system, emperors swiftly learned the Chinese model’s feudal system. Particularly, they applied cleverly the concept of “the son of Heaven” in ancient Chinese philosophy into their statecraft.

Confucian ethics extensively discusses the roles of “the son of Heaven”, reflected in reciprocal interactions with god, with spirits and ancestors, with mandarins, and with subjects. More importantly, self-cultivation is the foundational must for “the son of Heaven” to be able to “lead the country” and “pacify the world”. Hence, the application of the Confucian concept “quân quân” (king fulfills his responsibility) into Ly -Tran societies helps us visualize more clearly the depiction of each king in our national history.

1. Đặt vấn đề

Thời Lý Trần, Nho học ảnh hưởng mạnh mẽ đến các giai tầng phía trên trong xã hội phong kiến Việt Nam, trở thành một trong những bộ phận chủ yếu chi phối quan niệm chấp chính của người cầm quyền. Tuy nhiên, do Phật giáo vẫn còn chiếm giữ địa vị quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội, lại được giới cầm quyền nhiệt tình ủng hộ, nên tư tưởng Nho gia đương thời cũng ít nhiều chứa đựng màu sắc tư tưởng Phật giáo. Hiện tượng này tạo nên đặc tính dung hợp Nho – Phật trong tư tưởng thời Lý Trần.

Để phục vụ cho nhu cầu xây dựng nền độc lập tự chủ của chế độ phong kiến đương thời, người lãnh đạo của các triều đại thời Lý Trần đã sử dụng một cách hữu hiệu các học thuyết chính trị thần quyền của Trung Quốc để thu phục dân tâm, củng cố vững chắc chính quyền phong kiến còn sơ khai. Các triều đại thời Lý Trần đã tích cực mô phỏng thể chế chính trị điển hình của phương Đông thời bấy giờ là Trung Quốc. Mô hình chế độ phong kiến này lấy quân vương làm trung tâm của quốc gia, lấy thuyết “thiên địa vạn vật nhất thể” làm cốt lõi tư tưởng triết học, lấy sự tồn tại hài hoà giữa nhân quần và vũ trụ trời đất làm mục tiêu.

Mối quan hệ giữa lực lượng chấp chính trong các triều đình thời Lý Trần rõ ràng đã tiếp thu đạo quân thần trong tư tưởng Nho gia, xem trật tự trên dưới của quân thần là quan hệ trọng tâm của hoạt động triều chính. Đồng thời cũng nhấn mạnh trách nhiệm trọng đại của đấng quân vương, đó là thay trời hành đạo, tạo phước muôn dân. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thừa Hỷ nhận xét: Trên quan niệm, nhà vua thời Lí Trần – cũng như trong lí thuyết về vương quyền của triết học cổ đại phương Đông – là một người đại diện cho thượng đế trước nhân dân, đồng thời cũng là người đại diện cho nhân dân trước thượng đế. Điều đó gn liền với thuyết ‘mệnh trời’ (thiên mệnh) và quan niệm ‘thay trời hành đạo’ (thế thiên hành đạo) được chứa đựng và phát triển trong Nho giáo”.[1]

Các hoàng đế thời Lý Trần luôn xem triều đại Nghiêu Thuấn trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc là các thể chế phong kiến lý tưởng, không chấp nhận tiếp thu cơ cấu quan liêu cực kì phức tạp của các triều đại Tống – Nguyên. Những vị vua khai sáng các triều đại thời Lý Trần đa phần đều có công lao to lớn và đức hạnh phi thường, nhưng qua quá trình kế thừa vương vị lâu dài, các vị vua sau cùng của các triều đại lại thiếu đi vai trò tích cực, thêm vào lối sống truỵ lạc vô độ, không trọng dụng hiền tài, dẫn đến việc triều chính bại vong.

Đạo quân – thần là một trong ba giềng mối quan trọng (tam cương) của luân lý đạo đức Nho giáo, về sau trở thành một trong năm quan hệ luân lý (ngũ luân) chủ yếu ở đời. Trong Luận ngữ, Khổng Tử và học trò bàn nhiều về vai trò và thái độ của thiên tử, quan hệ của thiên tử đối với chư hầu và với nhân dân. Các nhà Nho thời kì sau đã tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống tư tưởng về thiên tử, trong đó nổi bật là Đổng Trọng Thư. Trong bài viết này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tư tưởng “thiên tử” được thể hiện trong các sáng tác văn học thời Lý Trần, trong đó đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa “thiên tử” và “hoàng thiên”, giữa “thiên tử” và “bình dân” cùng với quan niệm về tu dưỡng đạo đức của thiên tử. Trên cơ sở đó, rút ra những kết luận về tư tưởng “thiên tử” thời Lý Trần.

2. Tử tưởng về thiên tử trong triết học Nho gia

Trung Quốc từ thời Ân Thương – Chu đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc lịch sử biến động, chính trị bất ổn, chiến sự liên miên, là mảnh đất tốt để tư tưởng thiên mệnh thần quyền cắm rễ và phát triển. Trong lúc các vương triều thay nhau nắm giữ vị trí cầm quyền, người lãnh đạo hầu như đều khéo dùng thuyết “thiên mệnh” để thu phục lòng người, chứng minh vương triều mới mang tính chính danh vì được trời thọ mệnh. Học giả Nhật Bản Kojima Tsuyoshi cho rằng: “Cuối mỗi vương triều, nhất định sẽ có lời tiên đoán về sự xuất hiện các hiện tượng tai ách và sự hưng thịnh của vương triều mới; ngược lại, nếu trời mong muốn vương triều hiện tại tiếp tục trị vì, sẽ cho xuất hiện các điềm lành để chứng minh”.[2] Có thể thấy, các thủ đoạn chính trị vì phù hợp với niềm tin của dân chúng đương thời, nên phát huy được tác dụng to lớn của nó.

Học giả Trương Lập Văn bàn về thái độ tôn sùng “thiên mệnh” của người Ân Chu như sau: “Thời Ân Chu, bất kì sự việc quan trọng nào trong hoạt động chính trị cũng đều thông qua trung gian là chiêm bói, dựa vào số lượng và phương hướng những vết nứt xuất hiện trên mai rùa và xương thú sau khi nung mà suy ra ý chỉ của thượng đế, sau đó mới quyết định thi hành các hoạt động chính trị. Nếu như đi ngược lại ý chỉ và mệnh lệnh của thượng đế, thượng đế sẽ tiến hành trừng phạt, khiến cho hoạt động chính trị gặp phải thất bại thảm hại. Trong quan niệm người Chu, Hạ Thương sở dĩ diệt vong là bởi vì tất cả các hoạt động chính trị của Hạ Kiệt và Thương Trụ đã vi phạm ý chỉ của thượng đế đối với nhà Hạ nhà Thương, không thực hành kính đức bảo dân, vì thế thượng đế mệnh lệnh nhà Thương thay thế nhà Hạ, nhà Chu thay thế nhà Thương”.[3] Có thể thấy, người Trung Quốc cổ đại quan niệm, sự thay đổi của các vương triều đều do mệnh trời quyết định, trời luôn dõi tìm người có đức để trị vì nhân dân. Nếu như vua thương dân như con, ngày đêm thận trọng trị nước, biết thi hành đức trị, có thể “dĩ đức phối thiên”, thì mãi mãi sẽ được trời thần phù trợ.

Nho gia đã đề xuất khá toàn diện những yêu cầu đạo đức để trị nước đối với thiên tử. Theo quan điểm Nho gia, tu thân tích đức là bước đầu tiên để trị vì quốc gia của người chấp chính, cũng là bước đầu tiên để thực hiện thiên mệnh. Thiên tử tu chính được thân tâm, tự nhiên sẽ thu phục được lòng dân, đất nước theo đó được thái bình thịnh trị. Vì vậy, người chấp chính có đạo đức nhân nghĩa càng cao thì càng có năng lực hoàn thành thiên mệnh, chắc chắn sẽ càng nhận được thời thần phù trợ. Lúc này, trời chính là lực lượng quản thúc nhà vua: “Trời chính là khuôn phép và thước đo đạo đức luân lý cao nhất, tất cả những danh hiệu và tước vị công khanh đại phu của trời và người đều lấy những chuẩn tắc về đạo đức nhân nghĩa trung tín làm tước vị, gọi là ‘thiên tước’. Lòng nhân là trọng tâm của đạo đức, là thiên tước tôn quý nhất. Người tu dưỡng thiên tước, truy cầu tâm thiện, nhân đức lễ nghĩa, thì có thể lập thân trị nước”.[4]

Hoàng thiên luôn quan tâm theo dõi đạo đức hành vi của thiên tử, còn thiên tử làm sao để tiếp nhận ý chỉ của hoàng thiên? Theo quan niệm người xưa, ngoài cách thông qua chiêm bói để dự đoán cát hung, còn có thể thông qua việc theo dõi lòng dân và quan sát các hiện tượng tốt xấu phát sinh trong tự nhiên để đoán biết ý trời. Ý trời tương đồng với ý nguyện của quảng đại nhân dân, dân chúng mong mỏi nước nhà thái bình thịnh trị, nhà nhà an cư lạc nghiệp, ý trời cũng giống như vậy; dân chúng mong mỏi thiên tử thi hành đức trị, yêu dân như con, trọng đức khinh hình, ý trời cũng giống như vậy. Thiên tử tôn kính và thuận theo lòng dân cũng chính là tôn kính và thuận theo ý trời. Ngoài ra, thiên tử có thể thông qua việc quan sát thiên tượng để tiếp nhận mệnh trời. Vì vậy, các vương triều phong kiến Trung Quốc luôn định ra các chức quan bói toán, chiêm tinh, thiên văn để làm việc này. Cổ nhân cho rằng, trời sẽ hiện điềm lành hoặc giáng tai họa để bình phẩm hiện trạng chính trị ở quốc gia đó. Đây là một trong những biểu hiện của tư tưởng “thiên nhân cảm ứng” mà danh Nho đời Hán là Đổng Trọng Thư xây dựng và hoàn thiện.

Nho giáo Trung Quốc mặc dù vẫn tuyên dương địa vị và quyền lực độc tôn của thiên tử, nhưng cũng khẳng định sức mạnh quan trọng tạo nên nền tảng quốc gia của nhân dân. Có thể nói, quan niệm này đã chứa đựng trong đó tinh thần dân chủ sơ khai, xem nhân dân là động lực to lớn cho sự phát triển của xã hội, thiên tử thi hành bất kì quyết sách chính trị nào cũng không ngoài việc phục vụ cho nhu cầu sinh tồn của nhân dân. Vì vậy, tư tưởng thiên tử cũng chứa đựng trong đó nhiều yếu tố tích cực.

3. Quan hệ giữa thiên tử và hoàng thiên trong văn học Lý Trần

Tư tưởng về quan hệ giữa “thiên tử” và “hoàng thiên” trong văn học thời Lý Trần về đại thể giống như tư tưởng thiên mệnh thần quyền cổ đại Trung Quốc. Học giả Trung Quốc Ô Ân Phổ bàn về mối quan hệ này như sau: “Quan niệm v thiên mệnh thời kỳ Ân Thương nằm ở địa vị thống trị. Người ta cho rằng thiên tử nắm giữ chính quyền đất nước là do ý chí quyết định của hoàng thiên. Hoàng thiên trao đế vị cho ai, người đó chính là thiên tử, hoàng thiên muốn tước đoạt đế vị của ai, người đó sẽ mất đi đế vị. Vì vậy, thiên tử muốn giữ gìn ngôi vị, giữ vững chính quyền quốc gia, thì phải tuân theo ý chí của hoàng thiên mà hành sự, chỉ có như vậy mới có thể nhận được mệnh trời lâu dài”.[5] Có thể nói, tất cả mọi việc triều chính của quốc gia đều do hoàng thiên (tức thượng đế) quyết định, đặc biệt là việc lên ngôi, kế ngôi hay mất ngôi của thiên tử đều không ngoài ý chỉ của trời. Thiên tử nếu có thể làm đúng mệnh trời, tuân theo ý chỉ của trời, tích cực tu dưỡng đức hạnh, thì địa vị của vua ắt sẽ được hoàng thiên quan tâm bảo hộ.

Đối với các tác giả thời Lý Trần, thiên tử không phải là người bình thường phàm phu tục tử, mà có nguồn gốc xuất thân thần thánh, do lực lượng siêu nhiên bẩm thụ mệnh trời mà giáng sinh xuống thế gian để tạo phước cho trăm họ: “Kính nghĩ đức hoàng đế bệ hạ, bậc ‘Thánh hiền thể đạo, thánh văn thần vũ, anh cách dân vật, vạn linh chiếu ứng, vĩnh long nguyên hóa, thông minh quảng vận, nhân trí ý nghĩa, thuần thành minh hiếu’ của triều Lý, là do đấng trời chung đúc; nhật nguyệt kết tinh. Cho nên điềm lành báo trước; triệu tốt mới ra. Phụ hoàng nằm mộng; nước ngoài dâng voi trắng sáu ngà; mẫu hậu có thai, gác tía phủ rồng vàng năm sắc. Đó là điềm lúc bệ hạ đầu thai vậy. Sao lành đêm hiện, sông Ngân ứng vẻ sáng trăng non; mây tốt sớm bay bệ đỏ giãi sắc màu lụa trắng. Khí mừng vút thẳng trời xanh; hương lạ ngạt ngào cung cấm. Mười tháng hoài thai tròn cữ; tháng giêng xuân tiết sinh Người. Đó là cái điềm lúc bệ hạ ra đời. Tuổi thơ mà lên ngôi đại bảo, trời đất khuông phù; trẻ dại mà thống ngự hoàn khu, thần nhân giúp đỡ”.[6](Nguyễn Công Bật – Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi) Trên đây là lời tán tụng của Nguyễn Công Bật dành cho vua Lý Nhân Tông, lời văn cho ta thấy thái độ và phong khí thần thánh hóa thiên tử của triều thần đương thời. Theo Nguyễn Công Bật, thiên tử xuất thân từ hàng ngũ thần thánh, do trời đất nhật nguyệt kết tinh, trước khi đản sinh cha mẹ gặp được điềm lành, lúc giáng sinh khí phận trời đất quang minh chiếu rọi, các ngôi sao cũng chiếu sáng dị thường. Kiểu miêu tả này rõ ràng đã tiếp thu câu chuyện đản sinh của thái tử Tất Đạt Đa trong Phật giáo cùng với quan niệm điềm lành báo ứng của Đổng Trọng Thư. Địa vị của thiên tử bước đầu được thần thánh hóa, tạo thành tiền đề để vua có quyền uy tối cao trong quá trình chấp chính về sau.

Sách Công dư tiệp ký có chép về chuyện Lý Công Uẩn thời niên thiếu rất hiếu động, một hôm ông bị sư phụ trừng phạt, trói tay chân và nhốt trong một nhà kho, nửa đêm ông ngủ không được, cảm thán mà ngâm rằng: “Thiên vi khâm chẩm địa vi chiên, nhật nguyệt đồng song đối ngã miên, dạ thâm bất cảm trường thân túc, chỉ khủng sơn hà xã tắc điên” (Trời làm chăn gối, đất làm đệm; chung một cửa sổ, mặt trời mặt trăng nhìn ta ngủ; đêm khuya chẳng dám duỗi thẳng chân; chỉ sợ núi sông xã tắc nghiêng đổ).[7] Không rõ tác phẩm này do Lý Công Uẩn tự mình sáng tác hay người đời sau viết ra rồi gán cho ông, nhưng nó đủ để chứng minh quan niệm “thiên tử” đặc thù đương thời. Chân mệnh “thiên tử” ngay từ lúc sinh ra đã có, bất kể đã lên ngôi hay chưa đều có tư chất phi phàm, có thể tương tác bình đẳng với trời đất núi sông nhật nguyệt, thậm chí vượt lên trên sức mạnh của tự nhiên. Bài thơ này vì vậy đã thể hiện đầy đủ niềm tin về sự xuất thân siêu phàm, kì dị, vĩ đại của đế vương đương thời.

Liên quan đến hoàn cảnh xuất thân của hoàng đế Lê Đại Hành, sách Việt sử lược ghi chép như sau: “Huý là Hoàn, họ Lê, người Trường Châu. Cha là Mịch, mẹ họ Đặng, khi mới có mang, nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen, bỗng chốc kết thành hạt, hái lấy chia cho mọi người ăn, khi tỉnh dậy không hiểu duyên cớ ra sao. Ngày 15 tháng 7 năm đầu niên hiệu Thiên Phúc (936) sinh ra vua. Bà mẹ thấy sắc tay vua khác thường, nói với người ta rằng: ‘Thằng bé này lớn lên, sợ ta không kịp hưởng lộc của nó’. Vài năm sau, cha mẹ vua đều mất. Trong bản châu có ông Quan sát họ Lê thấy vua, lấy làm lạ, bèn nuôi làm con mình. Gặp ngày đông giá rét, vua nằm úp cối, ông nhìn vua thấy có rồng vàng phủ ở trên, do đó lại càng lấy làm lạ. Lớn lên, vua thờ Nam Việt Vương Liễn. Tiên vương khen là dũng cảm, có mưu trí, thăng dần đến chức Thập đạo tướng quân, điện tiền chỉ huy sứ”.[8] (Khuyết danh – Việt sử lược, Đại Hành Vương) Đoạn văn này đề cập đến những quý tướng của vua Lê Đại Hành, mẹ vua khi còn mang thai nửa đêm nằm mộng thấy điềm lạ, lúc sinh ra trên tay có màu sắc lạ, lúc vua ngủ có rồng vàng che phủ trên thân. Những biểu hiện kì dị này người thường không thể có được, đó là điềm xuất hiện bậc chân mệnh thiên tử, người chiêu tập được những điềm lành đó sẽ có vận mệnh không tầm thường. Có thể khẳng định, những miêu tả trên đây có được nhờ sức tưởng tượng vô cùng phong phú của sử gia, cùng với tiếp thu quan niệm thần tượng hóa, thần thánh hóa lãnh tụ của chế độ phong kiến.

Để xây dựng một quốc gia hòa bình thịnh thế, theo quan điểm của các nhà tư tưởng đương thời, các vương triều đã thần thánh hóa, thiêng liêng hóa vương triều. Thiên tử, vì vậy, có khả năng sai khiến lực lượng thần thánh phục vụ cho quá trình thi chính của mình, uy quyền và địa vị hiển nhiên được củng cố. Nguyễn Công Bật cho rằng lực lượng siêu nhiên đều ủng hộ thiên tử, trong đó bao gồm thiên long, thần thánh, anh linh tổ tiên, anh hùng tiên liệt của đất nước: U hiển đều về; thiên long cùng đến. Đem lực công tối thượng; phúc đức vô lường. Ca ngợi hoàng cương vững bền như trời đất; cầu mong bảo vận vằng vặc như trăng sao. Sớm sinh thái tử; nối mãi mệnh trời. Mong gốc ngành ngàn thuở; cầu xã tắc muôn năm. Cỏ lướt nhiều phương; quì nghiêng muôn nước. Thần dân yêu mến; tổ khảo khuông phù. Thần đạo giúp ngầm; trời người nâng đỡ”.[9](Nguyễn Công Bật – Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi)

Có thể thấy, lực lượng thần minh luôn ngầm hỗ trợ cho thiên tử thi hành đức trị, bảo hộ vận khí quốc gia hưng thịnh, xã tắc ổn định, trăm họ âu ca. Sở dĩ thần linh hiệp trợ cho thiên tử khuông phù quốc chính một mặt là bởi vì tiếp nhận mệnh lệnh của hoàng thiên, một mặt là do quyền uy và đức hạnh của thiên tử chiêu cảm. Vì thế, thiên tử thi hành bất kì chính sách nào cũng đều có lực lượng thần minh ủng hộ và giúp đỡ. Hồ Nguyên Trừng trong cuốn Nam ông mộng lục có kể câu chuyện sau: Đời Tống Nhân Tông, vua nhà Lý nước An Nam tự mang quân, thuyển đi đánh Chiêm Thành. Khi tới cửa biển Thần Đầu, sóng gió nổi lên hết ngày này sang ngày khác, không thể vượt biển được. Vua nghe ở núi gần đấy có người đạo sĩ, một mình sống trong am, bèn cho vời đến để khấn cầu. Đạo sĩ nói: ‘Vua tự có phúc lực, thần cam đoan muôn một không có gì đáng lo. Ngày mai cứ việc lên đường chớ sinh lòng nghi ngại!’. Nửa đêm trời dừng gió. Sáng sớm khi ra tới ngoài biển, nhìn xa thấy sóng gió cao như núi, nhưng đoàn thuyền đến đâu thì sóng gió yên lặng đến đó. Bấy giờ lại thấy vị đạo sĩ đang bước đi trên mặt nước, lúc ở đằng trước, lúc ở đằng sau, trông rất rõ ràng, duy người không thể đến gần được thôi. Ngày quân trở về với núi Thần Đầu, đạo sĩ ra nghênh tiếp. Vua mừng và ủy lạo. Đạo sĩ nói: ‘Thần biết vua phúc trọng, không có gì đáng lo, ấy là nhờ thần linh giúp đỡ, chứ không phải hạ thần này’. Hỏi người trong hương, đều nói: ‘Đạo sĩ từ dạo ấy đi hái thuốc lâu nay không thấy ở am’. Vua càng lấy làm lạ, phong cho hiệu ‘Chân nhân đè sóng’. Ban thưởng nhiều vàng lụa, nhưng đều không nhận. Sau đó vào núi, rồi không biết đi đâu”.[10] (Hồ Nguyên Trừng – Áp Lãng chân nhân) Câu chuyện đậm đà màu sắc Đạo giáo này đề cập đến sự kiện năm 1044 Lý Thái Tông thảo phạt Chiêm Thành. Lúc đại quân xuất binh gặp phải sự cản trở của sóng to gió lớn, bèn cho người thỉnh cầu đạo sĩ trên núi đến cầu đảo và thi triển thần thông hiệp trợ, sóng gió trên biển nhờ đó được bình ổn trở lại, chiến sự rốt cuộc đạt được thành công. Thông qua câu chuyện kì dị này, Hồ Nguyên Trừng muốn khẳng định tính hợp lý của việc hoàng đế Đại Việt thảo phạt quân Chiêm đang gây nhiễu loạn nơi biên cương.

Tác giả thời Lý Trần cũng chủ trương lúc thiên tử trị vì quốc gia phải biết tuân theo mệnh trời, đồng thời biết kết hợp mệnh trời với ý nguyện nhân dân làm một. Lý Công Uẩn trong Thiên đô chiếu đã bộc lộ hàm ý đó: “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời”.[11] (Lý Công Uẩn – Thiên đô chiếu) Nhà vua biết tuân theo mệnh trời thì vận nước sẽ lâu dài, văn hóa phong tục sẽ phồn vinh thịnh vượng, hai triều Thương Chu chính là ví dụ điển hình. Còn vương triều nào không tuân thủ thiên mệnh, vận nước ắt sẽ ngắn ngủi, nhân dân và vạn vật suy yếu tổn thất, hai nhà Đinh Lê chính là những vương triều như vậy. Theo chủ trương của Lý Thái Tổ, đây chính là định luật tự nhiên bất biến. Dời đô là việc lớn của nước nhà, ở đây nó cũng được bao phủ bởi một chiếc áo huyền bí kì ảo.

Lý Phật Mã cũng lấy mệnh trời để thuyết minh cho sự chính nghĩa của mình khi tiến hành thảo phạt loạn quân: Trẫm từ làm chủ thiên hạ tới nay, các bề tôi văn võ, không người nào dám bỏ tiết lớn; phương xa cõi lạ, không thần phục. Mà họ Nùng đời này qua đời khác cũng giữ yên bờ cõi được phong, hàng năm nộp đều cống phẩm. Nay, Tồn Phúc càn rỡ, tự tôn tự đại, tiếm xưng vị hiệu, ban hành chính lệnh, tụ tập quân ong kiến, làm hại dân biên thùy. Vì thế, trẫm cung kính thi hành mệnh trời trách phạt, bắt được bọn Tồn Phúc, gồm năm người, đều đem chém đầu ở chợ”.[12] (Lý Phật Mã – Bình Nùng chiếu) Có thể nói, phạm vi biểu hiện của việc thuận theo mệnh trời khá rộng lớn, nó bao hàm toàn bộ chính sách lớn nhỏ của quốc gia và biện pháp thi hành chính trị, dời đô và chinh phạt loạn quân là những trường hợp điển hình. Hoàng thiên vốn muốn đem hạnh phúc an vui ban rải khắp trăm họ, nhưng bọn Tồn Phúc lại tự tôn tự đại, khởi dậy binh đao, xâm phạm biên thùy, nhiễu loạn bách tính, tức đi ngược lại ý chỉ của hoàng thiên, cho nên thiên tử phải thay trời chinh phạt để trừng phạt họ.

Các hoàng đế thời kì này đều xem ý chỉ của trời là nguyên tắc, khuôn thước để trị vì quốc gia, đồng thời xem việc thực hiện đúng mệnh trời là mục đích của quá trình trị vì đất nước. Ngoài một bộ phận nhỏ người cầm quyền xem thường mệnh trời ra, các vị vua khác lúc còn tại vị hầu như không thoát ly tinh thần thiên mệnh. Mối quan hệ mật thiết giữa hoàng thiên và thiên tử đã chi phối mọi hoạt động triều chính đương thời và tâm tư suy nghĩ của thiên tử. Vì vậy, thi hành đức trị là một trong các yêu cầu chủ yếu để trị nước của thời đại Lý Trần. Nguyễn Pháp trong tác phẩm Cần Chính lâu phú đã tán tụng tinh thần trị nước nhân đức và cần mẫn của Đường Huyền Tông: “Nhà Đường đến đời thứ sáu, vua Minh Hoàng lên ngôi; cần kiệm chăm bề đức tốt, hữu ái sẵn có tính trời. Thanh sắc lánh xa chẳng thiết, bắn săn bỏ dứt không chơi. Cấm gấm vóc không cho là quí, mặc giản đơn làm trước mọi người. Dù phú quí không màng dật lạc, nghĩ nghiệp vua khó nhọc lâu dài. Thức khuya dậy sớm, sử dụng hiền tài. Thân coi chính sự, nắm hết quyền oai. Đức Nghiêu, Thuấn mong rằng sánh kịp, công vua Văn cố gắng theo đòi. Lầu mới đặt tên Cần Chính, ý kia vốn có sẵn rồi… Nhà vua bèn lắng tai nhìn kỹ, nghe lời nên chăng. Chuẩn y hay bãi bỏ: Chính sự chưa làm nên tính mà làm, đức hóa chưa khắp nghĩ sao cho khắp; hình chưa hay lo việc sửa sang, dân chưa yên lo bề sắp đặt. Lợi chưa nhiều lo cách thi hành, hại chưa trừ liệu phương cải cách. Ngày ngày đêm đêm, vạn ngày như một; phải làm phải chăm, không chơi không nhác; dòng nhân chảy khắp, mọi vật đượm nhuần; muôn họ âu ca, bốn phương yên ổn. Lẽ nên đời Khai Nguyên thái bình thịnh trị, làm rạng công Trinh Quán Thái Tông”.[13] (Nguyễn Pháp – Cần Chính lâu phú)

Vua Đường Minh Hoàng thời kì đầu nhờ thi hành đức chính để trị vì quốc gia, nuôi dưỡng đức tốt, coi trọng mệnh trời, không tham lạc thú, dốc lòng trị dân, trọng dụng hiền tài, cho nên quốc gia thái bình thịnh trị, muôn dân lạc nghiệp âu ca, ân trạch và lòng nhân đức của vua rải rộng bốn phương. Nguyễn Pháp cho rằng, đời Đường là gương mẫu cho chế độ phong kiến đương thời, đáng để làm gương cho triều đình Đại Việt kế thừa xây dựng một quốc gia thịnh vượng: Các vua đời sau, gương lớn chẳng xa. Trị loạn cơ trời, lòng vua dời chuyển; Cần Chính nền kia, phải lo chiêm nghiệm; chăm gốc ý kia, phải lo thực hiện. Mọi việc trước lại có sau, may tiếng lầu kia khỏi thẹn.[14] (Nguyễn Pháp – Cần Chính lâu phú)

Vua Lý Công Uẩn cũng quan niệm quá trình trị vì cần phải hết lòng tiếp nhận mệnh trời, ngoài ra còn chủ trương phải tiêu trừ bọn giặc bạo ngược để bảo vệ cuộc sống thanh bình, ổn định của lương dân, việc này hoàn toàn không mâu thuẫn gì với hàm ý của thi hành đức trị: Tôi là kẻ ít đức, lạm ở trên muôn dân, nơm nớp lo sợ, như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy quân mạnh mà đi đánh dẹp càn. Chỉ vì người châu Diễn không theo giáo hóa, mặc sức làm điều hôn bạo, tàn ngược dân đen. Tội ác đầy dẫy, nay không thể không đánh. Còn trong khi binh đao xô xát, hoặc giết oan người trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nổi hoàng thiên nổi giận vạch rõ lầm lỗi cho tôi, thì dù thân này có phải chết cũng không dám phàn nàn gì. Tuy nhiên, đối với sáu quân, tội đó xin dung thứ. Dám mong lòng trời soi xét”.[15] (Lý Công Uẩn – Chinh hoàn quá Biện Khẩu, ngộ bạo phong sậu vũ, đảo ư thiên) Đoạn văn trên thể hiện rõ tinh thần đức trị của Lý Công Uẩn. Ông không chỉ vì bảo vệ dân chúng mà chinh phạt loạn quân Diễn Châu, mà còn thay mặt toàn quân lãnh chịu sự trừng phạt đầy giận dữ của hoàng thiên. Có thể thấy, tinh thần đức trị mà Lý Thái Tổ nói lên không hạn chế trong quan hệ đối với nhân dân, mà còn mở rộng đến quan hệ với ba quân tướng sĩ.

Triều Trần đặc biệt có Trần Thái Tông, ở ông ngoài thực hiện lý tưởng “dĩ đức phối thiên” để trị vì quốc gia, còn biên soạn sám văn để giáo hóa dân tâm, thực hiện chính đạo “tự lợi lợi tha”: “Trẫm nhờ quyến thuộc nhà trời, ở ngôi chí tôn, nên việc dân gian, quốc chính phiền rộn. Phồn hoa dụ dỗ bên ngoài, thị dục mê hoặc ở trong. Miệng thì chán ngán vị ngon, thân phải đeo mang vàng ngọc. Thấy nghe đuổi theo thanh sắc, ở ăn toàn chốn gác đài… Trẫm vì lẽ đó, ôm ấp trong lòng, thương cảm xen lẫn, quên ăn mất ngủ. Nhân khi việc triều rảnh rỗi, xem khắp kinh, luận và các văn nghi lễ, tuyển chọn pháp có được tự lợi lợi tha, dùng để chỉ dạy cho người”.[16] (Trần Thái Tông – Lục thời sám hối khoa nghi tự)

Vua Trần Thái Tông thân mặc dù ở nơi cung thất, đối mặt với đủ thứ chính sự rối rắm gian nan, nhưng tâm tư lúc nào cũng lo nghĩ đến sự thống khổ của trăm họ, lúc nào cũng âu sầu bất an, cho nên mong muốn có thể lấy tư tưởng nhà Phật để giáo hóa dân chúng. Quan niệm đức trị này đương nhiên nhận được sự ủng hộ và tán thán của bách tính: “Đức nhà vua lớn như trời đất, uy danh làm cho tám cõi được yên ổn, cho đến những nơi tối tăm cũng được nhờ ơn trạch, và thấm nhuần đến cả ‘xung thiên’ này”.[17] (Khuyết danh – Đại đức) Đạo đức của thiên tử rộng lớn như càn khôn, công ơn rải ban khắp bốn biển, khiến cho dân chúng các nơi đều nhận được lợi ích.

Tác giả thời kì này cho rằng, tình trạng chính trị của đất nước có quan hệ mật thiết đến hoàn cảnh tự nhiên của trời đất. Lý Phật Mã tin tưởng hiện tượng tự nhiên có thể phản ánh thực trạng trị loạn của quốc gia, nếu thiên tử thi hành đức trị thì trời đất sẽ hiện ra điềm lành để tán trợ: Đời Đường Ngu chỉ vẽ hình mà người không dám phạm; không đánh mà khuất phục được quân của người; rũ áo khoanh tay mà thiên hạ bình yên. Cho nên các sao không đi trái, sấm mưa không hỗn loạn, chim muông nhảy múa, phượng hoàng đến chầu, di dịch bốn phương quy thuận, man rợ các miền hướng theo giáo hóa, không hiểu làm thế nào mà được đến như thế! Trẫm đem tấm thân cô đơn, sống gửi trên (tất cả) sĩ dân, dậy sớm thức khuya, lúc nào cũng (lo sợ) như lội vực sâu, chưa biết lấy đạo gì để thấu trời đất, lấy đức gì để kịp Nghiêu Thuấn. Vừa rồi giặc Nùng dẹp yên, nước Chiêm quy phụ, hang nảy vàng ròng, đất sinh bạc trắng, ý chừng có điều gì mà được như thế chăng? Hay là có điều gì mà (trời đất) cảnh tỉnh chăng? Trẫm rất lấy làm lo sợ, sao xứng đáng tôn danh hiệu tốt đẹp! Lời bàn của các khanh nên dẹp bỏ đi”.[18] (Lý Phật Mã – Đáp quần thần thỉnh tiến vị hiệu)

Đoạn văn trên là lời Lý Phật Mã trả lời việc quần thần muốn dâng lên tôn hiệu. Vua trình bày về kết quả của việc Nghiêu Thuấn thời Đường Ngu thi hành đức trị: các nơi thần phục, thiên hạ thái bình, dân không phạm pháp, nhờ đó trăng sao vận hành trật tự, nắng mưa sấm chớp hợp thời, bốn phương quy thuận, chim thú vui vẻ tung tăng. Lý Phật Mã cho rằng phẩm chất của chính mình không thể so được với Nghiêu Thuấn, nên tự lấy làm hổ thẹn mà từ chối nhận lấy nhiều tôn hiệu. Thái độ này vô hình trung thể hiện tinh thần trọng đức và khiêm tốn khi chấp chính của ông.

Nguyễn Công Bật cũng cho rằng thiên tử chỉ cần khéo tu dưỡng đạo đức của mình, hoàng thiên nhất định sẽ giáng điềm lành để biểu dương: Làm chân chủ của đất trời; xét huyền cơ của tạo  hóa. Vận trí biến thông; hiển mưu đầy khắp… Đức cùng trời đất, nên năm sao chói sáng; ơn tới cá chim thi muôn vật dâng điềm. Mười chín rồng thần quang phục thềm quỳnh điện báu; một nghìn voi trắng hộ trì vườn cấm ao tiên. Tỏ rõ sự dài lâu của ngôi báu, hợp phù sự ưu thịnh của phúc lành. Cho nên, trời đất hiện điềm thiêng; rừng phô vật lạ… Cảm ứng sự yên tĩnh của muôn dân, gợi bảo sự hưng long xã tắc. Nên: vành trăng tán ở tầng trời; ánh vàng rọi từ kho tối. Tỏ rõ sự sáng soi là hữu hạn; nói lên sự tuế đoán là vô cùng. Điềm trời báo phúc; khe tối dâng điềm… Vâng chịu phúc dày trời đất; kế thừa mệnh lớn tổ tông. Hơn năm mươi năm trị nước; hàng trăm nghìn nước sợ oai. Mưa nắng hợp thời; trăng sao đúng độ”.[19] (Nguyễn Công Bật – Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi) Những điềm lành được Nguyễn Công Bật nhắc đến ở đây bao gồm sự luân chuyển chiếu rọi của nhật nguyệt tinh thần, trạng thái sinh tồn của trùng thú chim cá, cả biểu hiện của cây cối sông núi khe hồ trên mặt đất. Những sự vật và hiện tượng đó tồn tại trong không gian tự nhiên của trời đất, con người hoàn toàn có thể nhận thức và cảm nhận được hiện trạng của nó, nên có thể dựa vào đó mà phán đoán tình hình chính trị quốc gia và đức hạnh của nhà vua.

Để thể hiện sự ủng hộ thiên tử thi hành đức trị, hoàng thiên đã dùng những điềm lành của khí tượng để thể hiện rõ ý mình. Nói cách khác, vị minh quân biết tuân theo mệnh trời ắt sẽ được hoàng thiên ban giáng phước lành và điềm tốt. Đào Sư Tích trong Cảnh tinh phú đã nhấn mạnh học thuyết “thuận thiên tường thụy giáng phúc” như sau: Nắm chốt chấn hưng việc trời, sao sáng rọi soi đêm tối. Ân đức thấm khắp gần xa, muôn vật tốt tươi chói lọi. Vô tư đức đã dồi dào, trời bèn ứng ban điềm mới. Vì thế điềm tốt lạ Cảnh tinh, sở dĩ muôn đời mới xuất hiện, là để làm nổi bật phúc lớn thái bình đó chăng... Đời vua Đường Nghiêu, thiên hạ sáng ngời, bầu trời chói lọi, rực rỡ khắp nơi. Sao đến cuối đời Hán Đường, luôn tối tăm mờ mịt đất trời! Nay nhân gặp buổi thịnh thời, bầu trời lại rạng. Người người xem thấy sướng vui, đủ nghiệm phép trời tỏa sáng. Điềm tốt lạ lùng rất mực, làm cho thiên hạ thái bình. Âm dương hòa hợp, đất trời yên minh, mưa hòa gió thuận, lúa tốt cây xanh. Khói lửa ba bề yên tĩnh, gió nhân tám cõi bay quanh. Lễ nhạc sáng tỏ, phép tắc phân minh. Người yên vật thịnh, chính tốt hình thanh. Âu ca muôn phương rộn tiếng, ngợi khen bốn bể lừng danh. Thật đủ để nêu cao nước nhà thịnh trị, và dâng lên một đấng điềm lành. Nhưng thường xét thấy rằng: Trời người một lẽ, cảm thông rất mực. Ứng nghiệm không ở trời mà ở người, tốt lành không tại điểm mà tại đức. Cho nên: trời giúp vua Thuấn, không tại sánh bầy thất chính, mà tại thiên thời vâng kính. Trời ban cho vua Vũ, không tại trình bày Lạc thư, mà tại sửa sang sáu phủ. Huống gì hiện nay: đạo mở Hiên Hy, chính trị vượt hơn Thuấn Nghiêu, đức tốt sáng ngời, trăm quan vâng theo. Cưỡi Ky, Vĩ, sánh khách Thương gia, ng sao Mão, khinh người Hán triều. Thế thì, chỉnh đốn cõi bờ, định yên đất nuớc, để Cảnh Tinh đưa lại điềm lành, thực hợp với Đồ Thư đời trước. Không điều gì mà không nhờ thánh hoàng ta khéo vận dụng tài năng để mở rộng cho muôn đời bằng mưu lược. Thần kính cẩn chấp tay cúi đầu mà dâng lời rằng: kìa xem điều báu, rực rỡ trời cao. Điềm của thái bình, phúc biết dường bao. Với thánh hoàng ta, tại đức không tại sao”.[20] (Đào Sư Tích – Cảnh tinh phú)

Theo quan niệm Nho gia, sao Cảnh xuất hiện chính là điềm lành báo hiệu đất nước mở ra thời kì thái bình thịnh trị. Người xưa đều xem sao Cảnh là biểu trưng của quốc gia có đạo, nó thường xuất hiện lúc hai khí âm dương dung hợp hài hòa và thời tiết mưa hòa gió thuận hợp thời. Vì tình trạng tự nhiên của thời tiết có liên quan mật thiết đến tình hình chính trị quốc gia, cho nên sao Cảnh xuất hiện nói rõ tình hình đất nước đương thời rất thịnh vượng, bốn biển thái bình, chính trị khoan hòa, vua sáng tại vị, muôn họ an cư lạc nghiệp. Đào Sư Tích trong bài phú này dựa vào kinh nghiệm chiêm tinh cổ đại Trung Quốc mà biểu dương thời vận rạng rỡ của thời đại Nghiêu Thuấn, đồng thời thuyết minh tình trạng trời đất tối tăm thời Hán Đường. Dựa vào đó, ông đặc biệt nhấn mạnh hoàn cảnh đương thời nhà Trần thi hành đức trị, nên sao Cảnh xuất hiện, thời tiết trời đất rạng rỡ tốt lành. Quan niệm “thuận thiên tường thụy giáng phúc” của Đào Sư Tích rõ ràng đã tiếp thu tư tưởng “thiên nhân cảm ứng” của Đổng Trọng Thư.

Hoàng thiên luôn dõi theo quan sát, bình thẩm và phản ứng lại đối với những giải pháp chính trị mà thiên tử thi hành, mục đích là để tán đồng khích lệ hay nhắc nhở cảnh tỉnh thiên tử. Dưới sự trị vì của bậc minh quân, nước nhà thái bình thịnh vượng, hoàng thiên sử dụng nhiều thứ điềm lành để tán đồng, khích lệ: “Ngươi chỉ biết hang mà chưa thấy biển. Không có điềm trời, nhẽ kia ai rõ? Sông ra long mã là để nêu lên công đức họ Hy, trời cho huyền khuê làm rạng nghiệp bình thành vua Vũ, đó chẳng phải là trời lấy tin lành mà nêu lên điềm tốt đó sao?” [21] (Trần Công Cẩn – Bàn Khê điếu huỳnh phú) Theo lời Trần Công Cẩn, trời sai long mã xuất hiện để tán dương Phục Hy trị nước có phép tắc đạo lý, trời ban thưởng bảo ngọc huyền khuê để khích lệ công trạng trị thủy của vua Vũ. Những hiện tượng này đều ám thị thái độ của hoàng thiên đối với thiên tử.

Nguyễn Phi Khanh một mặt ca ngợi vua Hồ Quý Ly tuân theo ý trời mà trị vì quốc gia, có công lao to lớn trong việc xây dựng xã tắc nhà Hồ và tạo phúc cho trăm họ: “Xem xét xưa nay, ngàn xưa vẫn thế. Rùa lên khi trị thuỷ vừa xong, lân hiện lúc kinh kia đã viết. Thực là buổi vận hội đương nhiên, nhưng cũng bởi thánh hiền dốc sức. Thánh tướng ta lấy tâm tạo hoá làm tâm, dùng trí hóa công làm trí. Tay thước trời dựng xây vũ trụ, thân khuôn lớn đúc nên mọi thứ… Kính xem: tài năng thánh trí, khó kẻ luận bàn. Lại trộm nghĩ: suy xét lòng trời, dõi tìm nhân sự”. [22] (Nguyễn Phi Khanh – Diệp mã nhi phú) Đứng trước hoàn cảnh đất nước hạn hán nhiều năm, vua bèn mô phỏng theo các hoàng đế cổ đại Trung Quốc ban chiếu tự trách tội mình, hoàng thiên lập tức cảm ứng lòng thành đó mà giáng mưa tưởng thưởng: Rừng rực đất đai khắp nước đang lúc khô cháy, một trận mưa của trời gieo khắp ơn sâu. Quốc gia sắp làm lễ thỉnh tội để cầu mưa trọng thể, trời mới đem lại khí hoà, dân đã thấm khắp niềm vui. Rồng nằm vốn là con vật của nhân gian, tiếu tượng của trời có thể hẹn mưa dầm trong năm hạn. Chẳng phải dùng làm gì cái lễ đưa một thân hình gầy còm ra phơi ngoài chợ, xưa nay chỉ có lòng chí thành là cảm đến trời”.[23] (Nguyễn Phi Khanh – Giáp Tý hạ hạn, hữu sắc chư lộ đảo vũ, vị đảo nhi tiên vũ) Một mặt khác, Nguyễn Phi Khanh tán đồng với quan niệm hoàng thiên giáng điềm tốt lành để ủng hộ nhà vua có đức: “Mây mở ngày lành, bầu trời hửng sáng, xuân gieo đức vua, mưa móc rộng khắp”.[24] (Nguyễn Phi Khanh – Hoạ Chu hàn lâm vị ương tảo triều)

Đức của vua vì cảm động trời đất nên nhận được sự phò hộ của các thần minh trong trời đất, bất kì kẻ gian tặc nào xâm hại uy quyền của vua đều bị trừng phạt: “Đức của bệ hạ cảm động đến cả trời đất, kẻ nào dám mưu toan gì khác thì trời đất thần linh đều gắng hết chức phận mình mà tru diệt đi, chứ chúng thần có công gì đâu?”[25] (Ngô Sĩ Liên – Đại Việt sử ký toàn thư, Dữ tả hữu nghị sự), “Quân của vua bị hãm ở sông. Vệ Vương Toàn bị trúng tên chết. Vua kêu trời ba tiếng, giặc tự vỡ”.[26] (Khuyết danh – Việt sử lược, Đại Hành vương) Trời đất quỷ thần đều ủng hộ thiên tử tiêu diệt gian tặc để duy trì quyền lực trị vì của minh quân.

Hoàng thiên sẽ ủng hộ và tưởng thưởng cho vị vua nào dốc chí tuân theo thiên mệnh, đồng thời ghét bỏ và trừng phạt người chấp chính không chịu tuân theo mệnh trời. Theo quan điểm của Đào Cam Mộc, hoàng thiên sẽ đánh giá thái độ và hành vi chấp chính của thiên tử để quyết định ủng hộ hay trừng phạt: “Mới rồi chúa thượng u mê bạo ngược, làm nhiều điều bất nghĩa, trời chán ghét ông ta thất đức nên không cho hưởng hết tuổi thọ. Con nối dõi còn thơ ấu, chưa kham nổi tình thế hết sức khó khăn. Muôn việc thì phiền nhiễu, quỷ thần chẳng đoái hoài, hạ dân nhao nhác ngóng tìm bậc chân chúa. Thân vệ sao không nhân lúc này đem kỳ mưu, dùng quyết đoán, xa thì theo dấu cũ của Thang Vũ, gần thì xem việc làm của Đinh Lê, trên thuận ý trời, dưới chiều lòng người, mà cứ muốn khư khư giữ tiếu tiết làm gì?… Cam Mộc này thấy cơ trời việc người như thế nên mới dám nói ra điều ấy… Đây là lúc trời trao người theo, thân vệ còn nghi ngờ gì?”[27] (Đào Cam Mộc – Khuyến Lý Công Uẩn tức đế vị) Lê Long Đĩnh là vị hôn quân cuối triều Tiền Lê. Ông giết anh đoạt ngôi, hoang dâm vô độ, làm nhiều điều bất nghĩa, nên bị hoàng thiên ghét bỏ và trừng phạt tội lỗi. Vì thế, thân ông nhiều bệnh tật, thọ mệnh ngắn ngủi, con nhỏ không kham nổi chính sự, thần minh cũng không phù trợ, trăm họ chán ghét và mong mỏi một vị chân chúa. Đào Cam Mộc dựa vào lập luận này để khuyên Lý Công Uẩn thức thời, không chấp nhặt tiểu tiết, chiếm lĩnh lấy ngai vua, làm như vậy mới là thuận theo ý trời, phù hợp với nguyện vọng của trăm họ. Rõ ràng có thể thấy, ý trời luôn hợp với lòng dân, trời dứt khoát sẽ trừng phạt hôn quân bạo chúa, đồng thời chọn người có đức hạnh sâu dày để phó thác ngôi vị.

Tóm lại, tác giả văn học thời Lý Trần đều cho rằng giữa thiên tử và hoàng thiên luôn luôn có mối quan hệ giao cảm mật thiết. Bất kì chính sự nào của đất nước cũng đều do hoàng thiên quyết định, thiên tử cũng do hoàng thiên sắp đặt để thay trời hành đạo, tạo phước trăm họ, giáo hóa muôn dân. Thiên tử một khi tiếp nhận thiên mệnh phải tuân theo ý chỉ của trời, không được nghịch lòng trời, khéo tu dưỡng đức hạnh, thi hành đức trị. Có thể làm được như vậy, thiên tử sẽ nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của hoàng thiên và quỷ thần; ngược lại, thiên tử nếu thi hành bạo chính, sát hại trung thần, phản bội mệnh trời, làm điều bất nghĩa, ắt sẽ chuốc lấy sự ghét bỏ và trừng phạt của hoàng thiên và quỷ thần. Trong quan niệm của các tác giả thời Lý Trần, thiên tử vốn không phải là kẻ phàm phu tục tử mà là con của hoàng thiên, bạn bè anh em với thần thánh, nên vua hoàn toàn có thể quán thông thiên lý nhân sự để trị vì quốc gia. Tư tưởng này rõ ràng đã tiếp thu từ tư tưởng triết học Nho gia của Trung Quốc.

 

4. Quan hệ giữa thiên tử và nhân dân trong văn học Lý Trần

Thời Lý Trần, quyền lực của thiên tử có các đặc tính tuyệt đối, độc tôn, toàn diện (bao gồm các mặt chính trị, quân sự, tôn giáo, kinh tế, văn hóa…). Mặc dù quyền hành có lúc biểu hiện độc đoán chuyên chế, nhưng căn cứ vào hoàn cảnh đương thời, đó là kết quả tất yếu của thể chế chính trị – xã hội phong kiến. Từ triều Lý, thiên tử các đời đã nhiều lần lên tiếng chỉ ra mô hình của chế độ phong kiến nước Đại Việt, mô hình đó không thoát khỏi sự tiếp thu các triều Thương Chu và Tam Hoàng Ngũ Đế thời cổ đại Trung Quốc. Trong đó, các đời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ, Thành Thang, Chu Văn Vương, Chu Võ Vương được xem là các triều đại lý tưởng nhất, thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến. Trong quá trình chấp chính, vua của các triều đại thời Lý Trần hầu như đều xem các vương triều trên là khuôn mẫu, ngoài ra còn xem các vị vua trên là người chấp chính mẫu mực muôn đời.

Xã hội phong kiến luôn xác định thiên tử là trung tâm của quốc gia, vì vậy vua luôn chiếm địa vị trọng yếu, các triều đại thời Lý Trần cũng quan niệm như vậy. Học giả Nguyễn Thừa Hỷ bàn về chế độ phong kiến thời Lý Trần như sau: “Dưới thời Lí Trần, trên danh nghĩa và trước pháp luật, nhà vua đã nắm một quyền uy độc tôn và vô thượng, tập trung lãnh đạo toàn diện trong một thể thống nhất không thể phân chia, là hiện thân của một sức mạnh thần thánh, là con người đứng ở vị trí trung tâm và vượt lên trên cộng đồng thần dân trong đất nước Chế độ phong kiến quân chủ tập quyền đã hình thành, nhưng vẫn còn ở một mức độ trẻ trung, chưa xơ cứng, nên nhìn chung, các nhà vua vẫn còn giữ gìn được mối liên hệ nhất định với cộng đồng”.[28] Thời Lý Trần, quan hệ giữa thiên tử và nhân dân khá mật thiết, khoảng cách giữa hai bên tạm còn gần gũi, đặc trưng này gần giống với quan hệ vua dân trong xã hội phong kiến thời Nghiêu Thuấn cổ đại, nhưng khác xa thời quân chủ chuyên chế tách biệt nhân dân từ Tần trở về sau.

Địa vị thiên tử mặc dù độc tôn không ai bằng, thế như vua phải tuân theo ý chỉ của hoàng thiên. Nói cách khác, tư tưởng thiên mệnh chính là sức mạnh chế ước quyền hành của thiên tử, cho nên mọi quyết sách của thiên tử đều phải thuận theo ý trời. Theo đó, tác giả thời Lý Trần cũng ra sức đề cao tư tưởng thiên mệnh giống như các triết gia Trung Quốc. Thiên tử tuân theo ý dân thì cũng chính là tuân theo mệnh trời: “Bản thân trong quan niệm của các vua Lí Trần, quyền uy của nhà vua không tách rời trách nhiệm nặng nề của họ trước dân chúng. ‘Mệnh trời’ phải gắn liền với lòng người, lòng dân. Đó đã từng là một nguyên lí cổ điển của người xưa: ‘Cái mà dân muốn, tức là trời muốn’ (Thiên căn vu dân, dân chi sở dục, thiên tất tòng chi)”.[29] Các vua thời Lý Trần hầu như đều nhận thức được trách nhiệm của mình đối với bách tính, nên thay trời che chở muôn dân, lòng thương dân như cha mẹ thương con: “Từ vị trí ở trung tâm cộng đồng, các nhà vua đã tự coi mình như một trung tâm cố kết, là người che chở trực tiếp cho toàn dân, là cha mẹ của dân chúng”.[30]

Tác giả thời này đều cho rằng nhiệm vụ của thiên tử là thay trời hành đạo, cho nên thiên tử phải quan tâm lo lắng cho dân, đồng thời phải biết đau xót cho nỗi thống khổ và tai ách của nhân dân. Lý Thường Kiệt có viết: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân… Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót”.[31] (Lý Thường Kiệt – Phạt Tống lộ bố văn) Đối với ông, đạo quân dân chủ yếu biểu hiện ở việc nhà vua phải biết chăm lo vỗ về dân chúng, nếu dân chúng rơi vào cảnh nguy nan khốn đốn, quân vương trước tiên phải thương xót cho họ. Vì vậy, việc chinh phạt của quốc gia đều phải lấy sự an nguy của trăm họ làm gốc. Trần Thái Tông trong Thiền tông chỉ nam tự có ghi chép về lời khuyên của đại sư Phù Vân đối với vua: Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về triều, bệ hạ không thể không trở về được”.[32] (Trần Thái Tông – Thiền tông chỉ nam tự)

Lý Huệ Tông là vị vua thứ 8 của triều Lý, vì vua không có con trai kế vị nên đem ngai vàng truyền lại cho con gái là Lý Chiêu Hoàng. Thái sư Trần Thủ Độ sắp xếp cho Trần Cảnh hầu hạ Chiêu Hoàng, về sau tác hợp cho hai người thành vợ chồng, đồng thời sắp xếp cho Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông). Chế độ phong kiến của nước Đại Việt đã chuyển từ triều Lý sang triều Trần như vậy. Sau khi nhường ngôi, vì Chiêu Hoàng lâu năm không con, nên Thủ Độ ép Trần Cảnh phế ngôi giáng Chiêu Hoàng xuống làm công chúa, đồng thời đoạt lấy vợ của Trần Liễu rồi lập làm hoàng hậu (Trần Liễu chính là anh ruột của Trần Cảnh, vợ của Liễu lại chính là chị gái của Chiêu Hoàng). Trần Liễu nổi giận mộ binh phản loạn, Trần Cảnh vừa hối hận vừa chán đời nên xả bỏ tất cả vào núi cầu Phật. Thủ Độ tự thân thống lãnh quần thần vào núi đón vua về triều. Đoạn văn trên là lời khuyến dụ của pháp sư Phù Vân đối với Trần Cảnh. Sư Phù Vân cho rằng đạo của đấng quân vương là lấy tâm tư nguyện vọng của trăm họ làm mục đích chấp chính của bản thân mình. Tư tưởng “thuận theo ý dân” này giống như lời của nhà nghiên cứu Ô Ân Phổ: “Sự thấy nghe của hoàng thiên đều dựa vào sự thấy nghe của nhân dân. Những điều mà nhân dân hy vọng, hoàng thiên nhất định sẽ ban cho; những điều mà nhân dân chán ghét, hoàng thiên ắt sẽ trừ diệt bỏ”.[33]

Nguyễn Nguyên Ức trong Thiên hạ hưng vong trị loạn chi nguyên luận nhấn mạnh đạo trị nước của nhà vua như sau: “Thiên hạ cũng giống như đồ dùng, đặt chỗ yên thì được yên, đặt chỗ nguy ắt gặp nguy; cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi. Nếu đức hiếu sinh hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ, ngửa trông như mặt trời mặt trăng: đó là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy. Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan; được người thì nước trị, mất người thì nước loạn. Thần trải xem các bậc đế vương đời trước, chưa từng có ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong. Tuy nhiên nguồn gốc dẫn đến sự hưng vong đó không phải là cái cớ một chiều một sớm. Chúng xuất hiện dần dần. Ví như trời đất, không thể nóng hay rét bất thần được, mà phải biến chuyển dần dần qua mùa xuân mùa thu. Vua chúa cũng không thể bất thần hưng hay vong được, mà phải dần dần, do làm thiện hay gây ác. Các bậc thánh vương đời trước đều bắt chước trời, không ngừng trau đức để sửa mình; bắt chước đất, không ngừng trau đức để yên dân. Sửa mình thì cẩn thận ở trong lòng, run sợ như dẫm trên băng mỏng. Yên dân thì yêu mến người dưới, hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Làm đúng thế thì không thể không hưng, làm trái thế thì không thể không vong. Quá trình dần dà của sự hưng vong là ở chỗ đó”.[34] (Nguyễn Nguyên Ức – Thiên hạ hưng vong trị loạn chi nguyên luận) Theo quan điểm của Nguyễn Nguyên Ức, đạo trị nước chủ yếu biểu hiện ở ba mặt: tuân theo lòng dân, trọng dụng hiền tài, tu dưỡng đức hạnh. Nếu nhà vua biết thuận theo lòng dân, vua nhất định sẽ được dân chúng ủng hộ và tôn kính, thế nước vì vậy được ổn định. Nếu vua biết trọng dụng hiền thần, loại bỏ kẻ tiểu nhân, đất nước nhất định sẽ hưng long thịnh trị, nếu không triều chính sẽ phát sinh động loạn, thế nước sẽ suy yếu bại vong. Nhà vua cũng cần phải tu dưỡng đức hạnh, dựa vào trời đất mà gột sạch lòng tà, làm như vậy ắt được hoàng thiên phù trợ. Nguyễn Nguyên Ức cuối cùng khẳng định, hưng vong trị loạn của quốc gia đều không nằm ngoài quyết định của đấng quân vương.

Thiên tử thay trời tạo phước trăm họ, nếu nhân dân rơi vào mối họa ngoại xâm, thiên tử nhất định phải thống lĩnh quân đội nghênh chiến để bảo vệ nhân dân: “Hai vị thánh quân đều anh minh, chính ở sông này rửa giáp binh. Bụi Hồ từ nay không dám động, ngàn năm giữ vững thăng bình. Mới biết: cốt không ở núi sông hiểm yếu, mà cốt ở đức sáng cao vòi vọi”.[35] (Trương Hán Siêu – Bạch Đằng giang phú) Trương Hán Siêu du lãm chiến trường xưa trên sông Bạch Đằng, cảm khái trước cảnh vật và ca ngợi công lao chống giặc cứu nước của Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Đất nước chiến sự liên miên, trăm họ mùa màng tổn thất, lúc này thiên tử cần phải xá thuế để an ủi muôn dân: “Việc đánh dẹp phương xa làm tổn hại đến công việc nhà nông. Thế mà có ngờ đâu, mùa đông năm nay lại được mùa lớn! Nếu trăm họ đều no đủ thì trẫm còn lo gì thiếu thốn? Vậy, xá cho thiên hạ một nửa tiền thuế năm nay để an ủi nỗi khổ nhục lội suối trèo đèo”.[36] (Lý Phật Mã – Xá thuế chiếu) Thiên tử xem mùa màng bội thu của nhân dân là thành quả trị nước của mình. Tư tưởng “dân vi bản” này chứng minh tình hình đức trị dưới thời Lý.

Người xưa kêu gọi phận làm con phải biết hiếu thuận mẹ cha, bậc làm vua cũng không ngoại lệ. Sử gia Lê Văn Hưu cho rằng thiên tử mặc dù thân phận cao quý hơn người bình dân, thế nhưng lòng hiếu thảo cũng không vì thế mà lơ là, xem nhẹ: “Kẻ làm con sinh ra được ba năm, cha mẹ mới khỏi phải bế ẵm trong lòng. Cho nên từ thiên tử đến dân thường, tuy sang hèn khác nhau nhưng tình thương nhớ ba năm đều như một. Thế là để báo đền công khó nhọc của cha mẹ vậy”.[37] (Lê Văn Hưu – Đại Việt sử ký, Trừ phục luận) Ơn cù lao cốt nhục của cha mẹ to lớn vô cùng, thiên tử cũng cần phải giữ lòng tưởng nhớ, hơn nữa phải biết lấy lòng hiếu thuận đó làm gương cho trăm họ.

Thời này, vai trò của thiên tử nhiều lần được giải thích là vai trò của cha mẹ, quan hệ vua dân vì vậy được giải thích là quan hệ cha con. Đây là điểm đặc sắc trong quan hệ vua dân của thời Lý Trần, nhà nghiên cứu Nguyễn Thừa Hỷ có viết: “Ở đây, ta thấy có sự đồng nhất hóa giữa mối quan hệ xã hội (vua dân) và quan hệ gia đình (cha con). Điều đó phản ánh, một mặt là truyền thống gắn bó giữa thủ lĩnh và quần chúng đã từng có, trong lịch sử lâu đời của Việt Nam, mà nền móng là những quan hệ thân tộc công xã, mặt khác là sự tiếp thu lí tưởng ‘thân dân’ rút ra từ những nguyên lí của Nho giáo khởi thủy (sách Đại học: minh minh đức, thân dân, chỉ ư chí thiện), kể cả phần nào có kết hợp với tinh thần từ bi bác ái của đạo Phật”.[38]

Hiện tượng này tất yếu dẫn đến một vấn đề, hai phẩm chất hiếu thuận và trung nghĩa kết hợp làm một. Học giả Nguyễn Đức Sự bàn về vấn đế này như sau: “Khái niệm trung nghĩa được đặt ra trong thời Lí Trần nhằm củng cố quan hệ vua tôi. Nó đòi hỏi một sự trung thành và hi sinh tuyệt đối của bề tôi đối với lợi ích của nhà vua. Do đó, nó không khỏi có liên hệ với khái niệm hiếu. Vì khái niệm hiếu qui định sự phục tùng và kính sợ vô hạn độ của con cái đối với cha mẹ. Đó là biểu hiện của lòng trung thành trong một phạm vi nhỏ hẹp hơn. Cho nên, khái niệm hiếu nhằm duy trì trật tự phong kiến trong gia đình và do đó nó góp phần củng cố ý thức trung quân của bề tôi”.[39]

Quan hệ quân thần, ở một góc độ nào đó, cũng chính là một kiểu quan hệ vua dân. Giữa quân thần có sự tác động qua lại chặt chẽ. Vua Trần Minh Tông cho rằng, vua sáng nhất định phải trọng dụng hiền tài, còn vua u mê chỉ biết trọng dụng gian thần. Đạo lý đó cũng giống như đạo lý Nghiêu Thuấn trọng dụng Tắc Tiết, Quỳ Long; Kiệt Trụ trọng dụng Phỉ Liêm, Ác Lai vậy: “Ta quả thật là ông vua hiền, thì người mà ta phó thác cũng hiền. Nghiêu Thuấn đối với Tắc Tiết, Quỳ Long chính là như vậy. Còn ta không phải là ông vua hiền? Thì người mà ta phó thác cũng không hiền. Kiệt Trụ đối với Phi Liêm, Ác Lai chính là loại ấy. Đó là ‘đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu’, hợp nhau theo loại vậy”.[40] (Trần Minh Tông – Nhậm nhân luận)

Không có bậc minh quân nào dùng kẻ gian thần, cũng không có bậc hôn quân nào trọng dụng trung thần, giữa quân thần có quan hệ “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Bề tôi cũng do hoàng thiên chọn lựa để trí quân trạch dân, họ có trách nhiệm gần giống thiên tử, chỉ khác là thiên tử là người có quyền lực tối cao và lãnh đạo toàn diện. Đặc biệt là ở thời Lý Trần, thiên tử, bề tôi và nhân dân có quyền lợi và nguyện vọng tương đồng nhau: “Suốt các triều đại Đinh Lê Lí Trần, quyền lợi của vua quan và giai cấp phong kiến thống trị về cơ bản nhất trí với quyền lợi của dân tộc. Các tập đoàn phong kiến cầm quyền mà đại biểu là nhà vua và các vị tướng lĩnh tài giỏi đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình”.[41]

Trong thơ văn thời Lý Trần, bề tôi cũng có bối cảnh xuất thân phi phàm, dị thường: “Trong loài chim thì có chim phượng, trong loài cá thì có cá côn, trong loài người thì cũng như vậy. Chung đúc khí thiêng sông núi, năm trăm năm mà nảy sinh ra bậc hiền tài. Ở ngôi tướng vũ tướng văn, làm chủ mười vạn hộ. Uy nghi đáng sợ nhưng đáng theo, hình dáng nghiêm trang mà đứng đắn. Giúp nước xây nền móng thái bình, ở triều giữ vững một lòng trung  trực… Núi cao, giáng xuống một vị thần, từ đó sinh ra bậc triết nhân, uy nghi lẫm liệt, văn là chất rỡ ràng. Là người có trí lại có dũng, giúp rập cho đời, vỗ yên muôn dân, gây dựng nền thi thư và lễ nghĩa, lấy nghĩa làm đường đi, lấy nhân làm nhà ở. Là dòng dõi của bậc chủng tể, là sứ thần của bậc thánh quân”.[42] (Khuyết danh – Cự Việt quốc Thái uý Lý công thạch bi minh tự) Đoạn văn trên tán tụng công lao và đức hạnh của Thái úy Đỗ Anh Vũ. Tác giả bài bia kí đã thần thánh hóa quan Thái úy, đồng thời xem ông là hiện thân của thần minh, do linh khí núi sông kết tinh mà thành hình. Quan Thái úy là đấng quang minh lỗi lạc, anh dũng vô song, công ơn bao trùm khắp người vật, là trợ thủ đắc lực của thiên tử.

Quần thần do hoàng thiên sai khiến giáng xuống thế gian để phụng sự nhà vua và phục vụ nhân dân, nên họ phải tuân theo ý trời, đồng thời phải tuân theo mệnh lệnh của thiên tử: Tướng công Băng Hồ của ta, lấy cái tài trời xây núi dựng để quyết định mưu lược cho nhà vua, làm rường cột cho tông xã. Khi xảy ra cuộc biến Đại Định. Người đã có công dẹp yên nội loạn. Trong lúc vận nước đương như treo trên sợi tóc, Người một mình gánh vác công việc của những ngày nước nhà điêu đứng vậy. Đó chính là buổi đầu của sự xây dựng trời đất. Nếu không phải Người đã hành động theo lẽ trời thì có thể làm được như thế chăng? Đến khi tình hình hỗn loạn đã được dập tắt, hiệu quả của việc nhân, nghĩa đã tỏ rõ, vương nghiệp đã vững như âu vàng, nước nhà đã yên như bàn thạch, thì cái chí của Lưu Hầu, Tấn Công mới mạnh mẽ không có gì ngăn cản được Người nữa, đây lại là một việc để tỏ rõ sự sáng suốt của Người để giữ mình vậy. Nếu không phải Người biết tìm thú yên vui theo lẽ trời, lại có thể như thế được chăng? (Nguyễn Phi Khanh – Thanh Hư động ký) Nguyễn Phi Khanh sáng tác bài ký này để tặng cho nhạc phụ của mình là Trần Nguyên Đán nhân dịp cha vợ cáo quan về quê ở ẩn. Trần Nguyên Đán một đời dốc lòng phò tá thiên tử, đóng góp mưu lược quét sạch nội loạn, tham gia an bang định quốc. Tất cả công lao của ông tất nhiên nhờ tuân theo mệnh trời, ra sức thực hiện mà thành.

Là bề tôi, một khi tranh thủ được bình an hạnh phúc cho muôn dân, vô hình trung, người đó đã thực hiện được ý chỉ của trời. Tuy nhiên, cũng có lúc gặp phải thất bại, nhưng hoài bão vì nước báo thù của họ vẫ còn mãi không mất: “Việc đời  dằng dặc, khốn nỗi mình đã già! Trời đất mênh mông chỉ thu vào cuộc hát say. Gặp thời, bọn hàng thịt, đi câu cũng dễ thành công; lỡ vận rồi, người anh hùng nuốt nhiều tủi hận.Giúp vua, có lòng định đỡ trục đất; rửa gươm, tiếc không đường kéo nổi sông Ngân. Nợ nước chưa đền đầu đã sớm bạc, luống tiếc bao phen mài gươm Long Tuyền dưới bóng trăng”.[43] (Đặng Dung – Cảm hoài) Trong bài thơ này, Đặng Dung là võ tướng bất phùng thời, thế nhưng lòng trung thành canh cánh của ông không phai nhạt, luôn ôm ấp nguyện vọng giúp vua phò chính, tuổi già sức yếu cũng không khuất phục được ý chí của ông. Hình ảnh vị tướng quân này chứng minh sự tin tưởng lẫn nhau cao độ của vua tôi đương thời.

Sử gia Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử kí phê phán Lý Thần Tông vì thỏa mãn dục vọng của bản thân mà bức hại dân lành, phản bội lại mệnh lệnh của hoàng thiên: “Trời sinh dân, lại đặt ra vua, ấy là để vua chăn dắt dân, chẳng phải để vua tự cung phụng mình. Lòng kẻ làm cha mẹ ai chẳng muốn con cái có vợ có chồng. Thánh nhân thể lòng ấy, chỉ sợ kể thất phu thất phụ không được yên ổn nơi chốn của họ. Cho nên Kinh thi đã biểu hiện điều đó trong bài Đào yêu và bài Phiếu hữu mai, khen hôn thú kịp thời và chê việc để lỡ thời. Thế mà Thần Tông xuống chiếu bắt con gái của các quan phải đợi vua tuyển xong cung nữ, ai không trúng mới được lấy chồng. Đó là tự phụng sự cho mình, đâu phải tấm lòng của người làm cha mẹ dân!” [44] (Lê Văn Hưu – Đại Việt sử lược, Tự phụng luận) Hoàng thiên giao quyền hành lại cho thiên tử, mong mỏi vua thực hiện được chức trách bổn phận vỗ về giáo hóa dân đen, chứ không phải sai vua lạm dụng quyền lực của mình để bức hại bách tính. Thần Tông ở đây cản trở các quan gả con gái, nghịch lại ý trời lòng dân, không phù hợp với đạo lý trời đất.

Tóm lại, các tác giả thời Lý Trần đều cho rằng, giữa quân dân có mốt quan hệ hô ứng mật thiết với nhau. Trách nhiệm của thiên tử là thay trời hành đạo, vỗ về muôn dân, tạo phúc bách tính. Vì vậy, thiên tử phải quan tâm đến nhân dân, thương xót cho nhân dân phải chịu tai ách thống khổ, đồng thời lấy an nguy của trăm họ làm gốc, lấy tâm tư nguyện vọng của nhân dân làm mục đích chấp chính của mình. Còn nhân dân phải phục tùng mệnh lệnh của thiên tử, cũng giống như con cái phải hiếu thảo đối với cha mẹ, đồng thời biết ngưỡng vọng và tưởng nhớ công ơn của thiên tử. Quần thần trong sáng tác thời này cũng có vai trò đặc biệt, tức đối tượng trung gian giữa thiên tử và nhân dân. Họ cũng có hoàn cảnh xuất thân kì lạ, được trời giao trọng trách, nên phải tuân theo ý trời, đồng thời cũng tuân theo mệnh lệnh của thiên tử.

5. Quan niệm tu dưỡng đạo đức của thiên tử trong văn học Lý Trần

Thiên tử nếu muốn thi hành đức trị, bản thân vua trước tiên phải có đạo đức. Thứ đạo đức này không phải một sớm một chiều muốn có là có, mà nó phải thông qua quá trình tu dưỡng và tích lũy trong thời gian dài. Nho gia đề xuất yêu cầu đức trị đối với chế độ phong kiến, đồng thời kêu gọi nhà vua phải tu dưỡng mình thành bậc chính nhân quân tử.

Học giả Trung Quốc Dư Đôn Khang cho rằng tư tưởng “đức trị” có từ thời Chu, đồng thời vạch ra cho người chấp chính hai nhiệm vụ trọng yếu: trị lý nhân dân và giáo hóa nhân dân, nhiệm vụ nào cũng yêu cầu thiên tử có đức hạnh rộng lớn. Ông nói: “Thuyết đức trị của Nho gia có nguồn gốc từ tư tưởng ‘dĩ đức phối thiên’ (lấy đức phối hợp với trời) của người đời Chu. Từ sau nhà Chu thay nhà Ân Thương, tổng kết lời giáo huấn về lẽ hưng vong của các đời, rút ra ‘hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ’ (hoàng thiên không thiên vị ai, chỉ người có đức mới được giúp vì), cũng quy định rõ ràng rằng người thọ mệnh làm vua phải làm tròn hai chức trách, một là làm vua để trị lý nhân dân, hai là làm thầy để giáo hóa nhân dân, chính trị và đạo đức phải kết hợp chặt ch với nhau, một thân nhưng làm hai việc lớn. Làm vua để trị lý nhân dân tức là chỉ nhiệm vụ chính trị của nhà vua, nội dung chủ yếu bao gồm hai phương diện là ‘minh đức’ và ‘thận phạt’. Thiên Khang cáo trong sách Thượng thư có viết: ‘Duy nãi phi hiển khảo Văn vương, khắc minh đức thận phạt’(Riêng đức Văn vương làm rạng rỡ đức sáng, cẩn trọng về hình phạt), ‘Dư duy bất khả bất giám, cáo nhữ đức chi thuyết, ư phạt chi hành’. Người đời Chu cho rằng quyền lực hành sử của nhà vua, phải ‘hoài bảo tiểu dân, huệ tiên quan quả’, khiến nhân dân giữ được đất đai nhà cửa, an cư lạc nghiệp, không được lạm dụng hình phạt, tùy ý giết người. Liên quan đến việc làm thầy để giáo hóa nhân dân, tức là đề cao những quy phạm đạo đức ‘phụ từ, tử hiếu, huynh hữu, đệ cung’, khiến cho điều đó trở thành ‘dân di’ (phép tắc của dân chúng), dẫn dắt nhân dân hướng thiện, thiết lập một loại trật tự xã hội tốt đẹp. Để đy mạnh giáo hóa, bản thân nhà vua phải biết tiết chế tính tình của mình, tuân thủ đi đầu, trở thành gương mẫu. Thiên Chiêu cáo trong Thượng thư có viết: ‘Tiết tính, duy nhật kỳ mại. Vương kính tác sở, bất khả bất kính đức’. Tư tưởng chính trị này của người đời Chu cũng được gọi là ‘kính đức bảo dân’”.[45]

Việc tu dưỡng đạo đức của thiên tử có tác động rất lớn đến sự nghiệp trị vì quốc gia. Dư Đôn Khang cũng cho rằng bất kì chính sách trị nước nào của thiên tử cũng đều phải bắt đầu từ việc tu thân. Ông viết: “Để thực hiện lý tưởng ‘minh minh đức ư thiên hạ’, cần phải bắt đầu t việc tu thân. Tu chính bản thân mình mới có thể tu chính cho người, chỉ cần làm tốt việc tu thân, mới có thể tiến bước mà tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. ‘Thị cố quân tử tiên thận hồ đức, hữu đức thử hữu nhân, hữu nhân thử hữu thổ, hữu thổ thử hữu tài, hữu tài thử hữu dụng’. Tu thân không chỉ là vấn đề tu dưỡng đạo đức của con người, nó còn trực tiếp liên quan đến sự hưng suy trị loạn của nền chính trị quốc gia. ‘Nghiêu Thuấn soái thiên hạ dĩ nhân, nhi dân tùng chi. Kiệt Trụ soái thiên hạ dĩ bạo, nhi dân nghịch chi’. ‘Thượng lão lão nhi dân hưng hiếu, thượng trưởng trưởng nhi dân hưng đễ, thượng tuất cô nhi dân bất bội, thị dĩ quân tử hữu hiệt củ chi đạo dã’ (vì thế nên người quân tử có cái đạo đo vuông)… Nếu phong khí xã hội bại hoại, ảnh hưởng đến sự ảnh hưởng của kết cấu quyền lực, nhà vua cần phải phản tỉnh chính mình, tự trách lỗi lầm, không thể đùn đẩy trách nhiệm cho bề tôi. Thiên Nhan Uyên trong Luận ngữ có viết: ‘Tử dục thiện, nhi dân thiện hỹ. Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo, thảo thượng chi phong tất yển’. Thiên Nghiêu viết trong Luận ngữ cũng có viết: ‘Trẫm cung hữu tội, vô dĩ vạn phương; vạn phương hữu tội, tội tại trẫm cung’, ‘bách tính hữu quá, tại dư nhất nhân’. Căn cứ vào tư tưởng đức trị này của Nho gia, trong xã hội mà mỗi thành viên đều phải cùng nhau đảm nhận trách nhiệm đạo nghĩa, vị quân chủ nắm quyền lực tối cao có trách nhiệm càng lớn. Đức của người quân tử giống như gió, chủ động nổi lên mà thi triển tác dụng, đức của kẻ tiểu nhân giống như cỏ, rơi vào chỗ bị động tiếp thu. Thế nên, nếu đức của dân cạn mỏng, chính trị hỗn loạn, trách nhiệm trước hết thuộc về nhà vua, nhà vua phải biết tăng cường tu dưỡng đạo đức, dẫn dắt nhân dân theo chính đạo, không ngừng điều chỉnh hành vi chính mình, khiến nó phù hợp với yêu cầu của lễ”.[46] Có thể thấy rằng, việc tu thân của thiên tử và kẻ phàm phu có chỗ không giống nhau. Thiên tử tu thân trực tiếp ảnh hưởng đến sự thịnh suy trị loạn của quốc gia, chứ không chỉ có tác dụng với bản thân người tu dưỡng. Quân tử cũng cần phải phản tỉnh tự thân, xem tội lỗi của thần dân là tội lỗi của chính mình, trước tiên nhận lấy trách nhiệm, chứ không được đùn đẩy cho người khác.

Chế độ phong kiến Việt Nam tiếp thu tư tưởng thiên tử tu thân thời cổ đại Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Sự cho rằng, các triều đại thời Lý Trần của Việt Nam, quan niệm tu đức của thiên tử thể hiện rõ nét. Trên thực tế, tư tưởng đức trị hầu như đã quán triệt tất cả các phương án trị nước của các bậc đế vương thời này. Nguyễn Đức Sự nói: “Ở nước ta ngay từ thời Lý Trần, những tư tưởng chính trị đã không tách rời những quan niệm về đạo đức. Bởi vì cái đạo trị nước yên dân của nước ta hồi ấy đã mang tính chất của một nền đức trị. Nhà vua đã lo sửa đức, tu thân để lấy đó làm lợi khí bình trị thiên hạ. Đồng thời nhà vua và những đại biểu về tư tưởng của tập đoàn phong kiến đương quyền cũng đòi hỏi những bề tôi và thần dân phải có những hành vi phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức nhất định. Ở đây những qui phạm đạo đức gắn bó với chính trị và phục vụ cho những yêu cầu chính trị”.[47] Đối với chế độ phong kiến còn non trẻ vừa được thành lập ở Việt Nam đương thời, thiên tử tu đức thành công sẽ khiến cho thần dân trăm họ tin tưởng và ủng hộ mình, có như vậy mới có thể xây dựng được nền tảng quốc gia ổn định.

Tác giả thời Lý Trần nhiều lần đề cập và tán dương truyền thống tu đức của bậc thánh vương cổ đại. Nguyễn Nguyên Ức trong Thiên hạ hưng vong trị loạn chi nguyên luận có viết: “Các bậc thánh vương đời trước đều bắt chước trời, không ngừng trau đức để sửa mình; bắt chước đất, không ngừng trau đức để yên dân. Sửa mình thì cẩn thận ở trong lòng, run sợ như giẫm trên băng mỏng. Yên dân thì yêu mến người dưới, hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Làm đúng thế thì không thể không hưng, làm trái thế thì không thể không vong. Quá trình dần dà của sự hưng vong là ở chỗ đó”.[48] (Nguyễn Nguyên Ức – Thiên hạ hưng vong trị loạn chi nguyên luận) Mặc dù Nguyễn Nguyên Ức không chỉ rõ “cổ chi thánh vương” là ai, nhưng căn cứ theo ghi chép của cổ sử cùng với truyền thống sáng tác văn triết thì chúng ta có thể phán đoán được nhắc đến là các vị vua Nghiêu Thuấn và Thương Chu. Nhà vua tu dưỡng đức hạnh của mình phù hợp với đại đạo của trời đất, thận trọng suy nghĩ, yêu kính người dưới, đề phòng sơ hở. Trăm họ theo đó được yên ổn, quốc gia theo đó được hưng thịnh, tất cả bắt đầu từ việc nhà vua tu đức. Hoàng đế Lý Phật Mã canh cánh trong lòng nỗi lo không biết tu dưỡng đạo đức thế nào mới có thể thấu cùng trời đất, hợp với đức nhân của Nghiêu Thuấn thuở xưa: Trẫm đem tấm thân cô đơn, sống gửi trên (tất cả) sĩ dân, dậy sớm thức khuya, lúc nào cũng (lo sợ) như lội vực sâu, chưa biết lấy đạo gì để thấu trời đất, lấy đức gì để kịp Nghiêu Thuấn.[49] (Lý Phật Mã – Đáp quần thần thỉnh tiến vị hiệu)

Đức hạnh của Nghiêu Thuấn là khuôn mẫu tu thân cho hoàng đế thời Lý Trần, quan điểm đức trị của Nghiêu Thuấn chính là tấm gương cho các vua thời Lý Trần trị nước. Không chỉ có Nghiêu Thuấn, vua Thành Thang triều Thương cũng từng được các nhân sĩ thời Lý Trần xem là hoàng đế lý tưởng có phương trị nước: “Đẹp thay Thành Thang, sáng suốt ôn lương. Gió nhân chan hòa chín cõi; dấu nghĩa huy hoàng bốn phương. Nhân lòng người thuận, đổi Hà làm Thương. Giúp trời đất để dựng ngôi hoàng cực; vì muôn bang nên sửa lại kỷ cương. Quét bụi độc ở nơi xa thẳm; nhào nguyên khí ở chốn hoang lương. Song còn thẹn đức cao chưa khắp; lại lo đạo cả không thường. Bèn gắng sáng tỏ đức lớn; lo cùng vầng nhật sánh ngang. Nên làm chậu ngày ngày tắm gội; ngõ hầu cho tinh khiết rỡ ràng… Bởi lẽ: Mặt trời là biểu tượng của nhà vua; chiếc chậu là tượng hình cho mặt nguyệt. Tuy dáng tròn vẫn không đổi thể xưa; mà ánh sáng vẫn thấy luôn luôn đổi mới. Chắc thánh nhân khi thể nghiệm đạo trời, sẽ nhận ở chậu này nhiều tâm đắc. Nguyên tính thường của trời ban xuống; cũng sáng lòa như vầng nhật nguyệt kia. Sợ khi tư dục nẩy mầm, lòng người bị mây mù lấp lú. Làm lụy đến đức sáng trong của  hòng hiếu đễ; làm mất đi sự trong sáng của lòng thiện ác. Bèn khắc bài minh ở chậu này, ngụ tấm lòng thành nơi bất diệt. Đã rửa sạch được bụi nhơ, lại sáng ngời được đức lớn. Để giữ mãi công tự xét mình, làm cho tột cùng cái sức hàm dưỡng. Để tâm linh trong trắng rỡ ràng; để thực tính rạng ngời tươi tốt. Để nêu gương chí thiện với dân này; để rửa cái nhơ xưa cho muôn nước. Để xóa nhòa mọi hổ thẹn ngày xưa; để lưu lại phép lớn lao cho vua nối. Như vậy công dựng ấy có thể sánh với đất trời; tính tình ấy có thể sánh cùng nhật nguyệt. Há phải chỉ là tắm rửa ngoài da, mong tấm thân mình sạch sẽ mà thôi? Nghĩ rằng: Tắm mãi điềm lành sinh mãi; gội luôn thì thánh kính càng cao. Rờn rợn như bên vực sâu thường sợ rớt; mát mẻ như công dội tưới đã ngấm vào. Đã tắm gội khi Tang Lâm đảo vũ; lại chay thành nơi Sằn Dã lễ trao. Vắt tóc chưa khô, nghĩ ra ơn cùng trăm họ; rửa mình cho sạch, ngời đức tốt với chín châu. Chậu dùng lời minh càng vẹn; lòng càng sáng đức lại càng cao. Đến khi: Càng khoan càng nhân, đức ngời muôn dân. Thâu tóm trăm lộc, làm đấng nhân quân. Nhờ chở che của trời đất, cùng muôn vật trở thành xuân. Đức lành hòa hiệp, muôn nước duy tân, chẳng còn tệ gì mà bỏ; chính sự ngày càng thêm thuần. Vật thái vì thế mà trong trẻo; dân phòng vì vậy lại càng thuần. Thế chẳng cũng là không có gì không do chậu này mà trở thành hòa nghi ngút đó ư?”[50] (Khuyết danh – Thang bàn phú) Thành Thang là hoàng đế sáng lập nhà Thương, ông đã cho khắc trên bồn tắm của mình câu nói “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” để làm châm ngôn cảnh tỉnh chính mình. Thành Thang sử dụng câu nói này để khích lệ bản thân phải tu thân dưỡng đức mỗi ngày, bỏ ác tùng thiện, khiến cho đạo đức ngày một tiến bước nâng cao. Cách làm đó đã dẫn đến sự cảm kích và kính phục của nhân sĩ thời Lý Trần. Tác giả của Thang bàn phú đã ca ngợi tinh thần dốc chí tu đức thận trọng của vua Thành Thang. Mặc dù nhân nghĩa đạo đức của ông vang dội bốn phương, công lao ơn trạch bao trùm tất cả, nhưng vẫn nơm nớp lo sợ đức mình cạn mỏng, chưa sáng rỡ cùng nhật nguyệt, cho nên ngày đêm cẩn thận tắm rửa để gột sạch trần cấu, hướng thượng nỗ lực tu đức. Tán dương kì công tu thân của người xưa, tác giả thời Lý Trần cũng gián tiếp kêu gọi người chấp chính hãy noi gương xưa mà hành sự.

Có lúc thiên tử lơ là việc triều chính, không quan tâm gì đến nỗi thống khổ của bách tính lê dân, quần thần đành phải khuyến gián vua tự mình phản tỉnh mà tu đức: “Quần thần nhân việc đó can vua rằng: ‘Xưa Nguỵ Minh Đế mới xây gác Lăng Tiêu, có chim thước đến làm tổ, Cao Đường Long nói rằng: Kinh thi có nói, chim thước làm tổ, chim cưu đến ở. Nay cung thất mới làm xong mà chim thước đã đến làm tổ, thần ngu hèn cho rằng có họ khác đến ở đó. Thần xin bệ hạ xét lời nói của Cao Đường Long trước cốt sửa mình tu đức, sau hãy khởi công, xây dựng mới là phải’. Vua nín lặng hồi lâu rồi hỏi hoạn quan là Phạm Bỉnh Di. Bỉnh Di nói rằng: ‘Gác mới làm mà chim thước đến làm tổ, đẻ con, đó là điềm trời ban cho dòng dõi bệ hạ được trăm đời’. Vua đẹp lòng, sai sửa sang điện gác mau chóng, trăm họ vì thế càng khốn khổ”. [51] (Khuyết danh – Việt sử lược, Cao Tông) Năm 1197, Lý Cao Tông ra lệnh cho xây cung Nghênh Thiềm, năm 1203 lại ra lệnh cho xây dựng hàng loạt cung điện. Đang lúc xây dựng gác Kính Thiên mới hoàn thành, có chim sẻ đến làm tổ trên đó để sinh con, quần thần cho rằng đây là điềm xấu, lo sợ xảy ra việc dị tộc soán đoạt vương vị, cho nên khuyến gián nhà vua tu dưỡng đức hạnh. Thế nhưng nhà vua chấp mê không ngộ sự thật, tin theo lời súc siểm của tên hoạn quan Phạm Bỉnh  Di, đốc thúc nhanh chóng xây xong, dẫn đến sự thống khổ của dân chúng. Việc tu đức của thiên tử rõ ràng không còn là việc riêng của cá nhân vua, mà là quốc gia đại sự, cho nên quần thần cũng vì việc này mà lo lắng ưu phiền.

Tóm lại, các tác giả thời Lý Trần đều xiển dương tư tưởng thiên tử tu thân dưỡng đức, cũng khẳng định sự ảnh hưởng to lớn của việc này đến sự hưng vong trị loạn của quốc gia. Thiên tử phải tu dưỡng đạo đức để trị lý quốc gia và giáo hóa nhân dân, chứ không chỉ có tác dụng đối với chỉ riêng bản thân mình, nên nhận được sự mong mỏi và tín nhiệm của quần thần trên dưới. Đối với các tác giả thời Lý Trần, các đế vương cổ đại Trung Quốc như Nghiêu Thuấn, Hạ Vũ, Thành Thang, Chu Công… đều là mẫu mực của hoàng đế các đời biết tu thân trị nước.

6. Kết luận

Các triều đại phong kiến thời Lý Trần rõ ràng đã tiếp thu sâu sắc tư tưởng “thiên tử” trong triết học cổ đại Trung Quốc. Trong đó, chúng ta đã chú trọng đề cao những tư tưởng có đóng góp tích cực vào hoàn cảnh thực tế của quốc gia đương thời, mà tương đối xem nhẹ việc bàn luận tính hợp lý, đúng sai của các triết thuyết đó. Tư tưởng thiên tử ở đây không đơn thuần chỉ là tư tưởng mang tính lý thuyết, mà đã trở thành tư tưởng được vận dụng vào trong thực tế, trong từng con người và hoàn cảnh cụ thể của nó.

Thiên tử là một đối tượng đặc biệt, là trung gian giữa trời và người, vì vậy thiên tử phải thông cùng thiên lý nhân sự, làm hết phận sự chức trách của mình theo ý trời lòng dân. Đó là vị minh quân lý tưởng trong xã hội phong kiến Đại Việt. Đương nhiên không phải vị vua nào cũng vậy, nhiều vị hôn quân chính là tác nhân chính cho sự xuống dốc và sụp đổ của triều đại.

Tài liệu tham khảo:

1. Mizoguchi Yuzo, Kojima Tsuyoshi (chủ biên), Thế giới tư duy của Trung Quốc, Quan niệm chính trị của “Thiên khiển luận” đời Tống, Giang Tô Nhân Dân xuất bản xã, Nam Kinh, 2006.

2. Nhiều tác giả, Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981.

3. Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996.

4. Trương Lập Văn (chủ biên), Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996.

5. Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977.

6. Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1988.

7. Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978.

(Bài viết được đăng trong kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Luân thường Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa” diễn ra ngày 1.6.2013 tại ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM)


[1] Nguyễn Thừa Hỷ, Kết cấu chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 307.

[2] Mizoguchi Yuzo, Kojima Tsuyoshi (chủ biên), Thế giới tư duy của Trung Quốc – Quan niệm chính trị của “Thiên khiển luận” đời Tống, Giang Tô Nhân Dân xuất bản xã, Nam Kinh, 2006, trang 281.

[3] Trương Lập Văn (chủ biên), Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 21.

[4] Trương Lập Văn (chủ biên), Trung Quốc triết học phạm trù tinh túy tùng thư – Thiên, Thất Lược xuất bản xã, Đài Bắc, 1996, trang 2.

[5] Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Ô Ân Phổ soạn mục từ “thọ thiên vĩnh mệnh”, Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 332.

[6] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 403, Đỗ Văn Hỷ dịch nghĩa.

[7] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 228, Nam Trân dịch nghĩa. Bài thơ này của Lý Công Uẩn khá tương đồng về mặt văn bản với một bài thơ khác của Chu Nguyên Chương Trung Quốc. Nội dung bài thơ của Chu Nguyên Chương là: “Thiên vi la trướng địa vi chiên, nhật nguyệt tinh thần bạn ngã miên, dạ gian bất cảm trường thân cước, khủng đạp sơn hà xã tắc xuyên”. Về vấn đề văn bản tạm chờ đợi giới học giả tiếp tục khảo chứng, chúng tôi tạm thời căn cứ vào quyển Thơ văn Lý Trần để bàn luận.

[8] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 263, Trần Quốc Vượng dịch nghĩa.

[9] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 407, Đỗ Văn Hỷ dịch nghĩa.

[10] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 263, Trần Quốc Vượng dịch nghĩa.

[11] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 229, Nguyễn Đức Vân dịch nghĩa.

[12] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 245, Nguyễn Đức Vân dịch nghĩa.

[13] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 324, Nguyễn Đức Vân dịch nghĩa.

[14] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 324, Nguyễn Đức Vân dịch nghĩa.

[15] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 231, Phạm Tú Châu dịch nghĩa.

[16] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), trang 155.

[17] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 220, Phạm Tú Châu dịch nghĩa.

[18] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 245, Phạm Tú Châu dịch nghĩa.

[19] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 406, Đỗ Văn Hỷ dịch nghĩa.

[20] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 229, Nguyễn Đức Vân, Tiên Sơn dịch nghĩa.

[21] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 236, Nguyễn Đức Vân dịch nghĩa.

[22] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 484, Tiên Sơn, Phạm Đức Duật dịch nghĩa.

[23] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 484, Đào Phương Bình dịch nghĩa.

[24] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 484, Đào Phương Bình dịch nghĩa.

[25] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 251, Hoàng Lê, Băng Thanh dịch nghĩa.

[26] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 265, Trần Quốc Vượng dịch nghĩa.

[27] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 232, Huệ Chi, Băng Thanh dịch nghĩa.

[28] Nguyễn Thừa Hỷ, Kết cu chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 312.

[29] Nguyễn Thừa Hỷ, Kết cu chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 314.

[30] Nguyễn Thừa Hỷ, Kết cu chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 315.

[31] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 320, Trần Văn Giáp dịch nghĩa.

[32] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), trang 24.

[33] Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Ô Ân Phổ soạn mục từ “thiên thị tự ngã dân thị”, Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 332.

[34] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 461, Huệ Chi dịch nghĩa.

[35] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), trang 738, Nguyễn Thanh Phong dịch nghĩa.

[36] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 461, Nguyễn Đức Vân dịch nghĩa.

[37] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), trang 376, Cao Huy Giu, Băng Thanh dịch nghĩa.

[38] Nguyễn Thừa Hỷ, Kết cu chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 315-316.

[39] Nguyễn Đức Sự, Tư tưởng chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 589.

[40] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), trang 817, Huệ Chi dịch nghĩa.

[41] Nguyễn Đức Sự, Tư tưởng chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 590.

[42] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 467, Đỗ Văn Hỷ dịch nghĩa.

[43] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 517, Phan Võ dịch nghĩa.

[44] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 2), trang 381, Cao Huy Giu, Băng Thanh dịch nghĩa.

[45] Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Dư Đôn Khang soạn mục từ “đức chính thuyết”, Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 148.

[46] Quỹ Khổng Tử Trung Quốc, Trung Quốc Nho học bách khoa toàn thư, Dư Đôn Khang soạn mục từ “đức chính thuyết”, Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư xuất bản xã, Bắc Kinh, 1996, trang 149.

[47] Nguyễn Đức Sự, Tư tưởng chính trị xã hội dưới thời Lý Trần (Nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Lý Trần), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981, trang 587.

[48] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 461, Huệ Chi dịch nghĩa.

[49] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 1), trang 245, Phạm Tú Châu dịch nghĩa

[50] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 328, Đỗ Văn Hỷ, Đào Thái Tôn dịch nghĩa.

[51] Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần (tập 3), trang 279, Trần Quốc Vượng dịch nghĩa.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: