Hội thảo khoa học Luân thường Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa

Quang cảnh hội thảo. Nguồn: www.hcmussh.edu.vn

Quang cảnh hội thảo. Nguồn: http://www.hcmussh.edu.vn

ThS. Nguyễn Thanh Phong[1]

Ngày 01.6.2013, khoa Văn hóa học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Luân thường Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa”. Hội thảo đã thu hút hơn 80 tham luận có chất lượng của các học giả đến từ nhiều nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Australia và các nhà nghiên cứu Việt Nam. Tại hội thảo này, nhiều vấn đề quan trọng trong thực tế nghiên cứu Nho giáo trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay được đưa ra thảo luận bàn bạc. Trong bài viết này, chúng tôi xin được trình bày những nội dung chính liên quan đến Nho giáo mà giới học thuật quan tâm nghiên cứu hiện nay, đồng thời điểm qua các quan điểm tranh luận chính tại hội thảo.

Nho giáo là học thuyết đạo đức – chính trị ra đời khoảng thế kỉ thứ VI trước Công nguyên với vai trò khởi xướng và đặt nền móng của Khổng Tử. Cùng với những diễn biến của quá trình giao lưu văn hóa trong khu vực văn hóa chữ Hán, Nho học, dưới sự hỗ trợ đắc lực của công cụ chữ Hán, đã được truyền bá hầu khắp các nước Đông Á, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, văn hóa, tư tưởng, đạo đức của đại bộ phận quần chúng nhân dân. Luân thường Nho giáo, tức hệ thống học thuyết xác lập trật tự xã hội và các chuẩn mực đối đãi giữa người với người, nhấn mạnh các mối quan hệ xã hội mà không đề cập đến quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, bao gồm học thuyết tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức, ngũ luân… đã được giới Nho sĩ hoan nghênh đón nhận, học tập và vận dụng để xây dựng chế độ phong kiến bền vững suốt mấy ngàn năm trong lịch sử phát triển của mỗi nước.

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự xâm nhập của văn hóa tư tưởng phương Tây khiến cho hệ tư tưởng Nho giáo chính thống vốn đã thâm căn cố đế ở các nước phương Đông bị lung lay. Ở Trung Quốc và Việt Nam đã diễn ra cuộc đấu tranh giằng co giữa giới “cựu học” và giới “tân học”, cuối cùng tư tưởng hiện đại phương Tây chiếm ưu thế, Nho giáo bị xã hội thất sủng. Trong khi đó, từ nửa cuối thế kỉ XIX, giới cầm quyền Nhật Bản đã chủ động chuyển hướng tiếp thu thành tựu khoa học kĩ thuật và văn hóa tư tưởng phương Tây, thực hiện một cách ngoạn mục chính sách “thoát Á luận”. Đạo đức Nho giáo, vì vậy, bị đạo đức, lối sống kiểu phương Tây uy hiếp. Một số nơi ở một vài thời điểm, luân thường đạo đức Nho giáo bị đánh đồng với tư tưởng cổ hủ, lạc hậu, trì trệ, bị xem là trở lực cho quá trình hiện đại hóa, phát triển đất nước và dân tộc, mà đúng ra cần nhìn nhận thỏa đáng những giá trị tích cực to lớn vốn có của nó. Quá trình nhìn nhận này kéo dài đến cả ngày nay, khi tiến bộ khoa học kĩ thuật và phát triển kinh tế diễn ra quá nhanh, đời sống tinh thần bị thách thức khiến con người quan tâm hơn đến các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có luân thường đạo đức Nho giáo.

Đầu tiên, tại hội thảo này, vấn đề đánh giá thỏa đáng về vai trò tích cực lẫn tiêu cực của Nho giáo trong bối cảnh giao lưu văn hóa của khu vực hiện nay tiếp tục được đề cập. Ngoài vai trò thiết lập trật tự xã hội, Nho giáo còn có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập, hòa hợp, tin tưởng và bao dung của các dân tộc, xúc tiến việc hợp tác giữa các quốc gia, giúp ích cho sự hội nhập của khu vực theo quan điểm các bên cùng có lợi, phát triển hài hòa và tiến tới xây dựng xã hội đại đồng. Thế nhưng, ở một số phương diện khác, Nho giáo với tư cách là một sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp, đã mang lại những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội. Nho giáo cũng có mặt hạn chế đi ngược lại xu hướng hợp tác khu vực khi quá cường điệu trật tự đẳng cấp, cường điệu quan niệm trung quân ái quốc, khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan, quá xem trọng sỉ diện, không muốn đối mặt với lỗi lầm đã gây ra làm ảnh hưởng đến quá trình hòa giải khu vực. Mặt khác, vì Nho giáo không chú ý đến hoạt động sản xuất vật chất đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội nên không tạo điều kiện cho khoa học kĩ thuật phát triển. Đối với văn hóa Việt Nam, Nho giáo cũng mang lại những tác động tích cực lẫn tiêu cực trên nhiều phương diện: xã hội, chính trị, kinh tế, giáo dục đào tạo, đối ngoại…

Thứ hai, hội thảo tiếp tục làm rõ việc nhận thức về Nho giáo, hiểu đúng giá trị của luân thường Nho giáo, tránh sự ngộ nhận do nhận thức chủ quan, duy ý chí, hiểu sai về bản thân Nho giáo. Một số biểu hiện của việc nhận thức sai lệch về Nho giáo là: đồng nhất Nho giáo với chế độ phong kiến một cách tuyệt đối; hiểu chế độ phong kiến chỉ có Nho giáo làm nền tảng tư tưởng; phủ nhận thượng tầng kiến trúc phong kiến mà không phân biệt rõ thượng tầng kiến trúc của giai cấp phong kiến và thượng tầng kiến trúc của nhân dân, dân tộc thời phong kiến; phủ nhận những giá trị văn hoá và tinh thần vốn là vĩnh hằng trong lịch sử nhân loại chỉ vì nó gắn liền với Nho giáo; xem Nho giáo là công cụ thống trị Việt Nam của phong kiến Trung Hoa mà không xem nó là thành tựu văn hoá lớn có sức lan toả trong khu vực theo quy luật vận động tự thân của chính văn hoá…

Thứ ba, hội thảo tiếp tục thảo luận về sự ảnh hưởng của Nho giáo ở các nước Đông Á (bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam, Singapore), đánh giá kinh nghiệm từ thực tế vận dụng tư tưởng học thuyết Nho giáo vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các nước trong khu vực. Nho giáo góp phần tạo ra kỷ cương, tôn ti trật tự trong xã hội, tạo nên môi trường làm việc có tổ chức, có tinh thần trách nhiệm, có sự trung thành và lối ứng xử tốt đẹp trong công việc, góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các nước Đông Á. Chính người Trung Quốc cũng phải thừa nhận rằng Hàn Quốc là “đất nước mẫu mực của phương Đông” bởi sự học tập và tuân thủ tuyệt đối nghiêm ngặt những quy định của Nho giáo của người Hàn. Nhật Bản tiếp thu Nho giáo với một tinh thần dân tộc mạnh mẽ và riêng biệt, nhờ đó có thể sớm thoát khỏi tình trạng bảo thủ trì trệ của một xã hội phong kiến phương Đông, mạnh dạn gạt bỏ những bất cập trong tư tưởng Nho giáo chính thống Trung Quốc để chuyển mình mau lẹ vào thế giới hiện đại.

Thứ tư, nhiều bài viết tại hội thảo bàn về sự phát triển của Nho giáo trong tương lai, tác dụng của Nho giáo trong việc góp phần định hình lại thế giới, khi trọng tâm của thế giới đang có xu hướng dịch chuyển dần sang Châu Á. Là một học thuyết có tầm ảnh hưởng rộng khắp các nước khu vực châu Á, Nho giáo chắc chắn sẽ tiếp tục chiếm giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội các nước phương Đông, cùng với xu hướng vận động của nền kinh tế, chính trị các nước Châu Á. Tiếp tục gạn đục khơi trong, vận dụng những giá trị tích cực của Nho giáo trong sự kết hợp hài hòa với các học thuyết khác để phát triển xã hội. Nghiên cứu Nho giáo là một cách để củng cố sức mạnh văn hóa phương Đông và tinh hoa văn hóa Việt Nam để đứng vững trước những thách thức và nguy cơ của một cuộc xâm lăng văn hóa, đồng thời đủ sức tiếp thu thành tựu tốt đẹp của văn minh nhân loại.

Thứ năm, Nho giáo được tìm hiểu với tư cách là một loại “sức mạnh mềm”, một loại “quyền lực mềm” của Trung Quốc trong quá trình toàn cầu hóa và vươn lên vị trí cường quốc thế giới. Viện Khổng Tử khoác lên mình chiếc áo của tổ chức công cộng phi lợi nhuận, là một công cụ đắc lực cho chính sách bành trướng văn hóa mới của Trung Quốc. Viện Khổng Tử trong tương lai sẽ thể hiện vai trò quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại Trung Quốc, thế hiện chức năng truyền bá văn hóa và ngôn ngữ, cầu nối liên lạc trong ngoại giao nhân dân, hợp tác và trao đổi giáo dục quốc tế.

Thứ sáu, một chủ đề cũng được quan tâm là đặc điểm của tư tưởng Nho giáo, nhất là luân thường Nho giáo, trong quá trình di cư và định cư của người Trung Quốc tại Việt Nam. Do biến động của hoàn cảnh xã hội và tăng cường giao lưu kinh tế, người Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc di dân sang Việt Nam. Tại quê hương mới, luân thường Nho giáo vẫn tiếp tục được xem trọng, kết hợp hài hòa với nếp sống của cư dân bản địa, tạo nên một diện mạo mới.

Thứ bảy, nhiều tác giả nghiên cứu sự phát triển về mặt nội hàm ý nghĩa của các phạm trù đạo đức Nho giáo như nhân, lễ, hiếu, trung, nhân ái, trung quân, chính danh, quân – dân, quân – thần, nội thánh ngoại vương… trong thực tế vận dụng và phát triển ở Việt Nam. Các phạm trù này được hấp thụ vào nền văn hóa Việt đã ít nhiều có sự thay đổi trọng tâm, mở rộng nội hàm khái niệm.

Thứ tám, luân thường Nho giáo được tiếp tục bàn bạc trong diễn trình tiếp biến của văn hóa Việt Nam. Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh tiếp thu có chọn lọc một cách mềm dẻo, không cố chấp vào những giáo điều. Trong quá trình tiếp biến, người Việt đã cải biên cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của mình, cụ thể là “giản dị hóa” cho phù hợp với thực tiễn và tâm thức người Việt, vốn ưa sự hài hòa chứ không thích cực đoan. Nhiều quan điểm cho rằng, nguyên nhân quan trọng dẫn dến sự thất bại trong việc hội nhập của Việt Nam thời kỳ lịch sử cận đại là do các tác động kìm hãm của tư duy Nho giáo, tiêu biểu là thất bại của Nguyễn Trường Tộ; ý thức hệ Nho giáo cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào yêu nước thế kỉ XIX.

Thứ chín, hội thảo cũng bàn về tư tưởng Nho giáo, đặc biệt là luân thường Nho giáo, trong mối quan hệ với triết học Phật – Lão và với Võ đạo. Nhiều tác giả đã chỉ ra vai trò của Nho giáo và Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức lối sống cho người Việt Nam, thông qua việc đối chiếu giữa luân thường và đạo từ bi. Từ đó, đề xuất xã hội hiện nay cần tăng cường giáo dục triết lý, tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo trong xã hội để tầng lớp thanh thiếu niên tự điều chỉnh nhân cách của mình, sống có ích cho xã hội. Gia đình được Nho giáo đặc biệt chú ý vì bản thân luân thường Nho giáo cũng quan tâm đến việc xây dựng gia đình, đề cao vai trò của gia đình và chủ trương tổ chức Nhà nước và xã hội theo hình mẫu gia đình. Vì thế, cần kế thừa một cách có chọn lọc những tư tưởng Nho giáo để xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại. Không những vậy, luân thường Nho giáo còn tồn tại trong sự kết hợp chặt chẽ với võ đạo, võ thuật truyền thống Việt Nam.

Thứ mười, nhiều tác giả tập trung bàn về vấn đề tiếp nhận Nho giáo ở Nam Bộ. Cùng với quá trình di dân vào Nam Bộ từ thế kỉ XVII-XIX. Nho giáo cùng với Phật giáo đại thừa, Đạo giáo, Thiên chúa giáo đã tiếp xúc với Bàlamôn – Ấn Độ giáo, Phật giáo tiểu thừa và Hồi giáo của cư dân bản địa, tạo nên một diện mạo tư tưởng khá mới so với truyền thống, góp phần khẳng định quyền thống trị của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Khi đó, Nho giáo được nhân dân hóa, đại chúng hóa khiến cho quan niệm quân thần cũng đổi khác so với truyền thống. Hơn nữa, luân thường Nho giáo cũng đã xâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống giáo lý của các giáo phái dân gian. Luân thường Nho giáo thể hiện xuyên suốt trong cả Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài và Hòa Hảo từ quan niệm, nhận thức đến thực hành tín ngưỡng, tạo nên đặc trưng riêng cho các tôn giáo bản địa ở đồng bằng Sông Cửu Long. Việc vận dụng luân thường Nho giáo (tư tưởng tu thân, tứ đại trọng ân, hiếu hạnh với tổ tiên cha mẹ, nghĩa khí đối với quê hương đất nước, không đề cập quan niệm trung quân…) ảnh hưởng tích cực lẫn hạn chế đối với đạo đức cá tính của con người vùng Tây Nam Bộ trong lịch sử và hiện tại. Người Tây Nam bộ đã “phi Nho” trên những nét cơ bản của Nho, coi Nho giáo ngang hàng với các học thuyết, tôn giáo khác.

Nho học là một lĩnh vực nghiên cứu vô cùng phức tạp, được giới học thuật quan tâm nghiên cứu từ nhiều đời nay và dẫn đên không ít tranh cãi. Thế nhưng, việc nghiên cứu nó chưa có vẻ là đã đạt được một tiếng nói chung và dừng lại. Bóc tách nhiều lớp vỏ của vấn đề, chúng ta càng thấy nhiều điều lý thú, có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Luân thường Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM, TP.HCM, tháng 6/2013.


[1] GV Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, ĐHAG.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: