Phương pháp học tốt các học phần Hán Nôm và tư duy phản biện trong học tập

Nguồn: tuancuonghn.blogspot.com

Nguồn: tuancuonghn.blogspot.com

Bài tham luậnHỘI NGHỊ HỌC TỐT NGÀNH NGỮ VĂN 2013

Chủ đề: Phương pháp học tốt các học phần Hán Nôm và tư duy phản biện trong học tập

Kính chào quý thầy cô Bộ môn Ngữ văn tham dự hội nghị!

Các bạn Sinh viên thân mến!

Sau 12 năm học tập ở trường phổ thông, các bạn đã cùng kề vai nhau hăm hở bước vào giảng đường đại học. Chắc chắn rằng, những tuần học tập vừa qua đủ để các bạn nhận ra rằng, học tập ở môi trường đại học hoàn toàn khác với việc học tập ở trường phổ thông. Ở trường phổ thông, chúng ta có sẵn sách giáo khoa học tập; có những bài giảng được ghi chép cẩn thận lên bảng hoặc trình chiếu trên màn hình điện tử; được trả bài hằng ngày ở hầu hết các môn học; được thầy cô quan tâm nhắc nhở, hướng dẫn, chăm sóc đến từng li từng tí… Lên đại học thì khác, ở từng học phần, ngoài giáo trình chính thức ra ta còn phải thu thập kiến thức từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác; thầy cô không đọc chép hay chiếu chép nữa mà chúng ta phải lắng nghe và tự ghi chép những điều mà chúng ta cảm thấy cần thiết; mỗi ngày không có trả bài đầu giờ nữa mà thay vào đó là những câu hỏi, bài tập nhóm để chúng ta chuẩn bị trước ở nhà; giảng viên cũng không thể tiếp xúc, nhắc nhở chúng ta từng chút một, mà bản thân mỗi người phải tự ý thức về nhiệm vụ học tập và ứng xử trong cuộc sống của bản thân mình… Còn rất nhiều sự khác biệt nữa mà trong thời gian hạn hẹp tôi không thể nào liệt kê ra hết được.

Đối mặt với sự thay đổi môi trường sinh sống và học tập đó, chúng ta phải trang bị cho mình những gì?

– Các bạn có thể tự hào khi đậu đại học nhưng không nên quá tự mãn về những gì mình đạt được, đậu đại học chỉ là mở được cánh cửa của cuộc đời, chúng ta còn phải tiến bước và bước nhanh, bước mạnh, bước vững chải trên con đường đó nữa. Vì vậy, hãy hướng về phía trước, tập trung vào công việc học tập để thực hiện những ước mơ mà mình đề ra khi đặt bút đăng ký ngành học.

– Xây dựng cho mình thái độ học tập tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, luôn cầu tiến và nỗ lực học tập; không dựa dẫm vào người khác, không tự mãn với chính mình, không trốn tránh khó khăn… Phải tự nhận thức được rằng, học tốt để xây dựng nền móng vững chắc cho ngôi nhà tương lai của mình, hiểu biết rộng rãi và vững chắc về chuyên môn sẽ mang lại cho mình một tương lai tươi sáng hơn, học giỏi cũng cần phải đi đôi với “chơi” giỏi.

– Tận dụng thời gian để làm việc hiệu quả, tránh mất thời gian vào những chuyện vô bổ, lãng phí công sức và tiền bạc, đọc nhiều sách báo để nâng cao nhận thức về đời sống xã hội đang diễn ra xung quanh chúng ta và mở rộng hiểu biết liên quan đến chuyên ngành.

– Học giỏi tin học và ngoại ngữ để mở ra những cơ hội việc làm và thăng tiến tốt cho bản thân mình. Mỗi bạn nên chọn một ngoại ngữ và đeo đuổi học cho đến khi sử dụng được thành thạo cả 4 kĩ năng nghe – nói – đọc – viết đối với ngoại ngữ đó, chí ít sử dụng được trong giao tiếp với người nước ngoài.

Tiếp theo, tôi xin chia sẻ những kinh nghiệm học tốt các học phần Hán Nôm và cách tư duy phản biện trong học tập và nghiên cứu của mình với các bạn.

1. Kinh nghiệm học tốt các học phần Hán Nôm

1.1. Tình hình học tập các học phần Hán Nôm:

Theo Chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ vănNiên lịch đào tạo năm học 2012-2013 của Trường Đại học An Giang, các học phần Hán Nôm được xem là các học phần bắt buộc đối với sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn. Nhóm môn học này gồm có 4 học phần và được bố trí giảng dạy theo trình tự như sau:

– Hán Nôm 1 (Chữ Hán, Chữ Nôm trong nền văn minh chữ viết Việt Nam, HK III, 3TC)

– Hán Nôm 2 (Văn bản Hán văn cổ Trung Hoa, HK IV, 3TC)

– Hán Nôm 3 (Văn bản Hán văn Việt Nam, HK V, 2TC)

– Hán Nôm 4 (Văn bản Nôm, HK VI, 2TC)

Cách sắp xếp các học phần trên rơi trọn vào năm học thứ II và năm học thứ III của quá trình học tập. Lợi thế khi học các học phần này là sinh viên đã hình thành phương pháp học tập ở bậc đại học, biết tự học, tự mở rộng làm giàu kiến thức của bản thân; hơn nữa, lúc này sinh viên đã học xong học phần Tiếng Trung 1 (nếu có chọn), nhờ đó, Tiếng Trung và Hán Nôm được gắn kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau và hỗ trợ đắc lực cho các môn học khác.

1.2. Mục đích của việc học tập các học phần Hán Nôm:

Chữ Hán là loại chữ viết chính thức của Trung Quốc được sử dụng ngay từ thời xa xưa cách đây trên dưới 4000 năm. Trong quá trình giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực Đông Á, chữ Hán đã mở rộng sự ảnh hưởng và có lúc đã trở thành văn tự sử dụng chính thức của các nước Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ, Việt Nam… Chữ Hán, vì vậy, đã góp phần tạo nên khu vực văn hóa chữ Hán, bao gồm các quốc gia nêu trên, ở khu vực Đông Á. Hiểu rõ quá trình hình thành và phát triển chữ Hán, có các kĩ năng sử dụng chữ Hán, sinh viên Ngữ văn sẽ có cơ hội hiểu biết sâu sắc hơn về các giá trị văn hóa gắn liền với chữ Hán, bao gồm các thành tựu thuộc các lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học- nghệ thuật, địa lý, tín ngưỡng, phong tục… Phạm vi hiểu biết đó không chỉ đối với riêng Trung Quốc mà còn của các nước khác.

Chữ Hán từ đầu Công nguyên du nhập vào Việt Nam, được truyền bá một cách hạn chế ở Việt Nam suốt thời gian “ngàn năm Bắc thuộc”, đến thời Lí Trần chính thức được các triều đình phong kiến, giới tăng lữ sử dụng trong công việc hành chính, ghi chép kinh kệ và sáng tác văn học. Trên cơ sở chữ Hán, âm đọc Hán Việt và nguyên tắc cấu tạo chữ Hán, người Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm để sáng tác văn học và ghi chép lại lời nói thường ngày. Chữ Nôm, nhờ đó, được lưu truyền khá rộng rãi trong dân gian và được sử dụng đến tận đầu thế kỉ XX. Chữ Hán chữ Nôm gắn liền với lịch sử dựng nước của dân tộc và chuyển tải phần lớn những giá trị văn hóa cổ xưa của dân tộc. Đọc và hiểu được các văn bản Hán Nôm, sinh viên có khả năng tiếp cận được với nguyên văn những sáng tác trong kho tàng văn hóa dân tộc, nắm được cái hay và cái đẹp của nó để vận dụng vào công việc học tập và nghiên cứu sau này.

Học tốt các học phần Hán Nôm, sinh viên hoàn toàn có thể học tốt các học phần khác trong chương trình học tập mà Hán Nôm có thể bổ trợ như: Văn học Trung đại Việt Nam, Văn học Trung Quốc, Tiếng Việt thực hành, Từ vựng ngữ nghĩa… Trên cơ sở hiểu biết đó, sau khi tốt nghiệp ra trường, sinh viên có đủ kiến thức nền tảng về Hán Nôm để giảng dạy tiếng Việt và văn học ở trường phổ thông.

Nhờ được trang bị những kiến thức và kĩ năng về Hán Nôm, sinh viên có thể đọc hiểu được các tư liệu Hán Nôm vốn tồn tại rất nhiều trong các công trình kiến trúc văn hóa, tôn giáo, lịch sử và các tài liệu cổ xưa khác đang tồn tại rất nhiều ở địa phương mình. Điều này giúp cho cơ hội tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường được dễ dàng hơn.

1.3. Những điều cần lưu ý để học tốt các học phần Hán Nôm:

Để học tốt các học phần Hán Nôm, các bạn sinh viên ngành Ngữ văn cần chú ý những vấn đề sau:

– Xác định được mục đích và trọng tâm học tập của từng học phần, học tốt các học phần trước để làm nền tảng học tập tốt các học phần sau. Học phần đầu tiên Chữ Hán, Chữ Nôm trong nền văn minh chữ viết Việt Nam sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển của chữ Hán ở Trung Quốc qua các đời, quá trình du nhập và diễn biến của chữ Hán cùng với quá trình sáng tạo và phát triển của chữ Nôm ở Việt Nam, về nguyên tắc cấu tạo và viết chữ Hán, về các bộ thủ của chữ Hán, các điểm ngữ pháp cơ bản trong văn ngôn văn… Học phần thứ hai là Văn bản Hán văn cổ Trung Hoa sẽ giới thiệu đến sinh viên khái quát tình hình sử dụng Hán văn ở Trung Hoa, cùng với các văn bản Hán văn đặc sắc, được xem là tiêu biểu cho từng thời kì, từng thể loại quan trọng trong nền văn học Trung Hoa. Học phần thứ ba là Văn bản Hán văn Việt Nam cung cấp cho sinh viên cái nhìn toàn cảnh về quá trình sử dụng Hán văn ở Việt Nam, đồng thời bước vào tìm hiểu các văn bản Hán văn tiêu biểu tương ứng với từng giai đoạn trong lịch sử văn học Việt Nam. Học phần cuối là Văn bản Nôm tập trung giới thuyết về lịch sử phát triển, đặc điểm cấu tạo của chữ Nôm, đồng thời tiến hành phân tích những tác phẩm sáng tác bằng chữ Nôm tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Mất căn bản, không có những kiến thức nền tảng ở các học phần đầu, sinh viên gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại để học tốt các học phần tiếp theo.

– Cần thấy rằng, học Hán Nôm chủ yếu là học kĩ năng sử dụng chữ Hán chữ Nôm, tức là các kĩ năng đọc hiểu, nhận dạng, viết chữ, đối chiếu so sánh, phân tích đánh giá, liên hệ thực tế; kĩ năng tra tự điển, kĩ năng đặt câu, sử dụng sách công cụ phục vụ cho công việc lâu dài về sau này… Sinh viên phải tích cực học tập trên lớp, kết hợp với tự học ở nhà để rèn luyện thường xuyên kĩ năng của bản thân. Cần thấy rằng, đối với các môn học rèn luyện kĩ năng, nguyên tắc quan trọng nằm lòng là phải luyện tập thường xuyên cho đến khi thành thạo. Khi đó, kĩ năng đã trở thành một bộ phận gắn bó hữu cơ làm nên năng lực của mỗi người.

– Học Hán Nôm, tốt nhất là đặt mình là những hoàn cảnh bắt buộc phải thường xuyên học tập và sử dụng chữ Hán chữ Nôm, chẳng hạn như làm bài báo cáo trên lớp, viết bài cho báo Enews, đăng kí đề tài nghiên cứu, tham quan các di tích có chữ Hán chữ Nôm, tập viết thư pháp chữ Hán chữ Nôm bằng bút lông mực tàu, rèn luyện thói quen hiếu kì để khám phá nội dung của các tư liệu Hán Nôm mà mình bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày…

2. Tư duy phản biện trong học tập và nghiên cứu

Học tập là quá trình tiếp nhận, tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo tri thức; nghĩa là tri thức từ sách vở, từ thông tin trao đổi giữa nhiều người, thông qua sự sàng lọc của tư duy mà trở thành kiến thức của bản thân. Một điều nguy hiểm trong học tập là tin trọn vẹn vào tất cả những điều mà sách vở và người khác nói. Mạnh Tử sống cách chúng ta trên dưới 2.500 năm đã có một nhận định sắc bén “Tận tín ư thư bất như vô thư” (Tin tất cả vào sách chẳng bằng không có sách), đọc sách mà tin hết vào sách thì thà không đọc còn hơn. Vì vậy, người học ở bậc đại học cần có tư duy phản biện trước biển rộng thông tin, nghĩa là biết lật tới lật lui vấn đề để suy nghĩ theo nhiều chiều hướng khác nhau, đặc biệt là chiều hướng ngược lại, để tìm ra giá trị, ý nghĩa chân thật của vấn đề. Phản biện không có nghĩa là phản đối hay phản bác lại tất cả mọi điều người khác nói, mà là quá trình tìm ra những điều hợp lý và chưa hợp lý của thông tin, từ đó hình thành quan điểm và cách đề xuất giải pháp riêng của bản thân.

Các bước tiến hành tư duy phản biện:

– Xác định vấn đề mà bạn đang cố gắng giải quyết.

– Phân tích từng phần của vấn đề.

– Đặt giả thuyết về từng phần của vấn đề.

– Phân tích các mặt đúng sai, ưu khuyết điểm của từng giải pháp.

– Suy nghĩ để tìm ra lời giải của bạn cho từng phần đó.

– Hệ thống lại quan điểm của bạn.

Từ chỗ tiếp xúc với thông tin đến chỗ hình thành quan điểm đánh giá của cá nhân về thông tin là một quá trình tư duy phản biện tích cực. Cần thấy rằng mọi người không phải lúc nào cũng có đủ thông tin về một vấn đề, do đó mọi nhận định đưa ra chưa hẳn là chính xác. Người học phải biết huy động vốn hiểu biết của bản thân, luôn động não suy nghĩ để tìm ra những thông tin chuẩn xác. Dĩ nhiên, quá trình tư duy phản biện phải đi đôi với thái độ lắng nghe và tôn trọng ý kiến khác biệt của người khác.

Trên đây là những kinh nghiệm học tập mà tôi muốn được chia sẻ với các bạn trong buổi hội nghị học tốt hôm nay. Hy vọng đã mang lại cho các bạn một chút gợi mở nào đó để học tốt hơn trong tương lai.

Nguyễn Thanh Phong 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: