Các lưu phái văn học Nhật Bản thời cận đại trong bối cảnh giao lưu văn học Đông Tây

www.vinabook.com

ThS. Nguyễn Thanh Phong

Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, ĐH An Giang

Tóm tắt

Năm 1868, vua Minh Trị khởi xướng phong trào duy tân, chủ trương mở cửa giao lưu với thế giới, mà chủ yếu là phương Tây. Văn hóa phương Tây theo đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội Nhật Bản. Tư tưởng tự do, dân chủ, dân quyền của các triết gia Anh, Pháp, Đức, Mỹ… ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trí thức văn nghệ sĩ Nhật. Nhiều khuynh hướng sáng tác văn học của phương Tây tác động đến nền văn học truyền thống, dần dần làm hình thành nhiều lưu phái văn học như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa hiện thực phê phán, văn học mang khuynh hướng tư tưởng vô sản, chủ nghĩa hiện thực mới, tân tư trào…

Sự hình thành các lưu phái văn học cận đại ở Nhật Bản một mặt thể hiện sự hòa nhập và giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa Nhật Bản với phương Tây, mặt khác phản ánh rõ nét thực trạng xã hội Nhật Bản, đồng thời cũng là thực trạng của nền văn học Nhật Bản, trong buổi giao thời cải cách mở cửa với thế giới. Trong bối cảnh đó, nền văn học Nhật Bản có sự thay đổi mạnh mẽ mang tính đột biến, chuyển mạnh từ văn học truyền thống sang văn học hiện đại; đồng thời đi trước một bước so với các nước khu vực Đông Á trong quá trình hiện đại hóa nền văn học. Sự đặc biệt của hoàn cảnh xã hội cũng làm nên sự đặc biệt của các lưu phái văn học cận đại, chúng vừa tiếp nối nhau, vừa đan xen bổ sung cho nhau, vừa phản kháng nhau và kích thích nhau cùng phát triển. Nền văn học gắn bó mật thiết với diễn biến chính trị xã hội của đất nước và thế giới, đồng thời là tấm gương phản chiếu thái độ tư tưởng phức tạp của văn giới Nhật Bản đương thời.

1. Đặt vấn đề

Cuối thời phong kiến, sự hủ bại của chế độ chính trị cuối thời mạc phủ Tokugawa (德川幕府) làm cho Nhật Bản rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm. Bên ngoài không kháng cự được với các cường quốc Mỹ – Anh – Pháp – Nga liên tục chèn ép, phải ký các điều ước bất bình đẳng; bên trong không khống chế được tình trạng cát cứ của các thế lực quân phiệt phong kiến, xã hội mâu thuẫn cực độ, nông dân và thị dân nghèo khổ nổi dậy khởi nghĩa các nơi. Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị đó, giới lãnh đạo Nhật Bản đã tiến hành cuộc cải cách chính trị từ trên xuống dưới, xóa bỏ chế độ mạc phủ phong kiến Tokugawa thống trị suốt 300 năm, xây dựng thể chế chính trị quân chủ chuyên chế.

Năm 1868, đối mặt với nội ưu ngoại hoạn, rút kinh nghiệm từ tấm gương thất bại của Trung Quốc trong chiến tranh nha phiến, vua Minh Trị đã phát động phong trào cải cách duy tân. Cuộc cải cách chủ trương khai thông những bế tắc của văn hóa lỗi thời truyền thống, cải cách mở cửa, tiếp thu tri thức hiện đại của thế giới phương Tây, tích cực phát triển tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy xã hội phong kiến lạc hậu trở thành quốc gia dân chủ cường thịnh. Những thay đổi lớn trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa… đã lật đổ thể chế phong kiến mạt phủ thời Giang Hộ, thoát khỏi nguy cơ thực dân, xây dựng nhà nước tư bản chủ nghĩa cận đại, nhanh chóng Âu hóa khiến cho quốc gia mạnh giàu, kéo theo phong trào chủ nghĩa quốc túy và tự do dân quyền lớn mạnh. Thắng lợi của Nhật Bản trong chiến tranh Nhật – Thanh và chiến tranh Nhật – Nga kích thích tư bản chủ nghĩa phát triển, thế nước ngày một lớn mạnh, đồng thời cũng làm nảy sinh một loạt các vấn đề xã hội. Qua việc tiếp thu văn hóa và tư tưởng Tây học, người Nhật càng có điều kiện phản tỉnh lại những thiếu sót của mình.

Minh Trị duy tân (明治維新, Meiji Ishin) là một cuộc cách mạng dân chủ tư sản không triệt để. Sau cải cách, thế lực của chủ nghĩa phong kiến vẫn là thể lực lớn mạnh của xã hội. Điều này khiến cho xã hội chủ nghĩa tư bản của Nhật Bản cận đại trong quá trình phát triển hình thành hai hiện tượng: về mặt chính quyền do quý tộc phong kiến và giai cấp đại tư sản công thương nghiệp liên hợp thống trị; kinh tế phát triển không cân bằng, cùng tồn tại đồng thời kinh tế thành thị tư bản chủ nghĩa và kinh tế nông thôn lạc hậu phong kiến. Nhật Bản giành được thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh là chiến tranh Giáp Ngọ Trung – Nhật (1895) và chiến tranh Nhật – Nga (1904), thu về nhiều lợi ích, nhờ đó kích thích chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng. Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản trở thành nước đế quốc mang tính quân sự phong kiến. Về đối nội thực hành chính sách đàn áp chính trị và tước đoạt kinh tế, về đối ngoại tiến hành mở rộng thuộc địa ở các quốc gia và dân tộc nhỏ yếu xung quanh.

Điểm khởi đầu của văn học cận đại Nhật Bản là năm đầu tiên thời Minh Trị (1868) và điểm kết thúc là năm thứ 20 thời Chiêu Hòa (1945). Văn học cận đại Nhật Bản hình thành và phát triển trên 70 năm cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản, do đó chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hoá phương Tây. Chỉ trong thời gian ngắn ngủi mấy chục năm (từ Minh Trị duy tân đến thập niên 20 của thế kỷ XX), văn học cận đại Nhật Bản đã hoàn thành quá trình phát triển mà văn học cận đại Châu Âu từ khi phục hưng văn nghệ đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã trải qua. Giai cấp tư sản Nhật Bản cận đại về mặt chính trị dựa vào chế độ phong kiến Thiên hoàng, thể hiện tính thỏa hiệp và cấp tốc phát triển xã hội cận hiện đại Nhật Bản. Điều này khiến cho văn học cận đại Nhật Bản thể hiện rõ rệt hai hiện tượng: một là có quá nhiều lưu phái với muôn hình vạn trạng, văn học mang trong nó tính đa nguyên phức tạp; hai là văn học tiến bộ, dân chủ do lực lượng chính trị bạc nhược, trong điều kiện xã hội biến hoá và phát triển nhanh chóng, không thể hình thành lực lượng văn học lớn mạnh. Mặc dù vậy, nền văn học tiến bộ và dân chủ của Nhật Bản thời cận đại phát triển mạnh trong hoàn cảnh xã hội đấu tranh phản phong kiến và phần nào phản chủ nghĩa tư bản; mang tính tiên phong của văn học cách mạng vô sản hiện đại.

Bài viết này, thông qua nguồn tài liệu tham khảo của các học giả Trung Quốc nghiên cứu về văn học Nhật Bản, tập trung giới thiệu và bình luận về sự hình thành, phát triển và ý nghĩa của các lưu phái văn học Nhật Bản thời cận đại.

2. Các lưu phái văn học Nhật Bản thời cận đại (1868-1945)

Tương ứng với thời kỳ đầu Minh Trị là giai đoạn khởi mông của văn học cận đại Nhật Bản, bao gồm văn học hý tác, tiểu thuyết phiên dịch và tiểu thuyết chính trị. Đầu giai đoạn này, các thành tựu của văn học cuối thời Giang Hộ như văn học hý tác, thơ ca truyền thống, kịch kiểu cũ vẫn còn tồn tại. Làn sóng khai hóa văn minh làm cho người Nhật giác tỉnh, bắt đầu thay đổi tư duy, nhìn rộng bốn phương, dịch thuật và giới thiệu văn học phương Tây. Văn học dịch thuật nhờ đó thịnh hành một thời, mở rộng tầm nhìn văn học của người Nhật. Phong trào tự do dân quyền kéo theo sự nở rộ của tiểu thuyết chính trị, làm manh nha văn học mới thời cận đại, khiến cho đông đảo trí thức quan tâm đến văn học. Trên lĩnh vực tư tưởng, một mặt phải đấu tranh với truyền thống phong kiến, mặt khác tiến mạnh trên con đường khẳng định, làm sâu sắc và đầy đủ hơn vấn đề nhân tính. Xét ở góc độ phản ánh quan niệm giải phóng cái tôi của xã hội thị dân thời cận đại thì văn học cận đại Nhật Bản thật sự ra đời sau cải cách đến 20 năm. Cùng với sự dẫn dắt của quan niệm văn học phương Tây và sự phát triển của phong trào thơ mới, một số tác giả đã mạnh mẽ đề xướng chủ nghĩa tả thực, nền văn học tự lực vận hành, nền văn học cận đại Nhật Bản lấy giải phóng nhân tính làm tiếng nói chủ yếu theo đó ra đời. Sự va chạm giữa các quan điểm trên văn đàn, sự cọ xát của tư tưởng khiến cho các lưu phái văn học dần hình thành.[1]

2.1. Thời kỳ hình thành

Văn học cận đại Nhật Bản trải qua thời kỳ mở đầu. Trong thời kỳ này, các lĩnh vực chủ yếu như chính trị, học thuật, tư tưởng xã hội, văn hoá khoa học… để tiếp hợp với cuộc cải cách Minh Trị duy tân, đã phát triển mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu khai hoá. Thế nhưng bản thân văn học không có sự phát triển lớn, chỉ xuất hiện một vài tác phẩm văn học và tác phẩm dịch thuật làm công cụ cho quá trình hình thành. Đến trước và sau phong trào dân quyền tự do, văn học cận đại mới có bước tiến mạnh, tạo nên thời kỳ hình thành của văn học cận đại. Thời kỳ này xuất hiện đầu tiên tiểu thuyết chính trị làm công cụ tuyên truyền vận động cho nhân quyền. Mặc dù về mặt nghệ thuật nó vẫn chưa thoát khỏi sự trói buộc của văn học thời phong kiến; thế nhưng việc cổ xuý cho dân chủ, tuyên truyền dân quyền, bài xích tệ đoan và tư tưởng ưu dân ái quốc thể hiện trong tác phẩm chính là tiếng nói mới trong văn học cận đại Nhật Bản. Thời kỳ này có Ryukei Yano (矢野龍渓, 1850-1931) với Kinh quốc mỹ đàm (經國美談, 1883) và Tokai Sanshi (東海散士, 1853-1922) với Giai nhân kỳ ngộ (佳人奇遇, 1885) là đại diện. Đồng thời, Tsubouchi Shōyō (坪内逍遥, 1859-1935) trong cuốn Tiểu thuyết thần tuỷ (小说神髓, 1885) cũng đề xuất văn học cần phải miêu tả thế thái nhân tình, chủ trương sử dụng phương pháp thể hiện của văn học chủ nghĩa hiện thực, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của văn học cận đại Nhật Bản.

Người đặt nền móng đầu tiên cho văn học cận đại Nhật Bản là Futabatei Shimei (二葉亭四迷, 1864-1909). Ông xuất thân trong gia đình quý tộc xưa, thời đi học tiếp xúc với nhiều tác phẩm văn học Nga tiến bộ, có thái độ nghiên túc và cần mẫn trong sáng tác. Năm 1887 ông sử dụng khẩu ngữ hiện đại để sáng tác nên tiểu thuyết trường thiên Phù vân (浮雲), mở ra trang đầu tiên cho văn học cận đại Nhật Bản. Phù vân nói về vận mệnh của một thanh niên trí thức tên Utsumi Bunzo (内海文三), vì không khuất phục trước sự áp bức của chế độ quan liêu phong kiến Nhật Bản, không chấp nhận cách xử sự thoả hiệp với hiện thực, nên bị nhốt bên ngoài cánh cửa hạnh phúc. Tác phẩm phê phán sự mục nát của chế độ quan liêu Nhật Bản, các phần tử trí thức vô sỉ bán mình cầu vinh, bọn tiểu thị dân dung tục tham tiền dựa dẫm quyền thế. Từ nhân vật Utsumi Bunzo, tác giả phản ánh sự thất bại của phong trào dân quyền tự do, sự lầm lạc và khổ tâm của tầng lớp trí thức, đồng thời bày tỏ sự chán ghét và thất vọng của tác giả về xã hội Nhật Bản thời cận đại. Tác giả xây dựng hình tượng nhân vật điển hình, khắc hoạ tâm lý chân thực sắc sảo, phê phán hiện thực xã hội sâu sắc, mở ra con đường mới cho văn học chủ nghĩa hiện thực Nhật Bản cận đại, trở thành bộ tiểu thuyết đầu tiên theo chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học cận đại Nhật Bản. Sau Phù vân, Futabatei Shimei gác bút một thời gian dài, đến năm 1906 mới chấp bút viết nên tác phẩm Diện ảnh (面影), năm sau lại sáng tác Bình phàm (平凡). Hai bộ tiểu thuyết này đều phản ánh về các phần tử trí thức thuộc tầng lớp trung tiểu tư sản, nói lên sự giày vò, khổ đau và thất bại của họ dưới sự thống trị của chính phủ Thiên hoàng.

Tiếp sau đó, năm 1890, Mori Ogai (森鷗外, 1862-1922) xuất bản cuốn Vũ cơ (舞姬). Cuốn tiểu thuyết này và Phù vân chọn đề tài phản ánh giống nhau, nhưng nó miêu tả phần tử trí thức càng yếu đuối thảm hại. Kết thúc tác phẩm, chàng thanh niên du học sinh Feng Taro (太田豊太郎) vì mê hoặc bởi công danh lợi lộc đã ruồng bỏ cô tình nhân người Đức của mình là Alice (葉麗絲), từ Beclin trở về nước, thoả hiệp với thế lực phản động. Tác phẩm sử dụng chuyện tình lãng mạn để thể hiện sự bi ai trong nỗi thất bại của người truy cầu tự do cá tính. Vũ cơ mở ra con đường cho văn học chủ nghĩa lãng mạn cận đại Nhật Bản.

Phản đối thể chế xã hội nửa phong kiến và tập tục đạo đức hủ bại, kêu gọi tự do cá tính, tuyên cáo sự ra đời của văn học chủ nghĩa lãng mạn thời kỳ đầu. Năm 1900, tạp chí Minh tinh ra đời, chủ nghĩa lãng mạn thời kỳ sau đạt đến cao trào, phản ứng lại những luật tục cứng nhắc và luân lý phong kiến, dùng thái độ chủ quan và không tưởng để tô hồng hiện thực, dựa vào nghệ thuật và chủ quan để giải phóng ý thức tự ngã thoát khỏi sự kìm hãm của hiện thực. Chủ nghĩa lãng mạn thời kỳ đầu nghiêng về sự sống bên trong của con người, trọng linh hồn hơn thực thể; còn chủ nghĩa lãng mạn thời kỳ sau đồng thời xem trọng linh hồn và nhục thể, mở rộng không gian phát triển và lĩnh vực biểu hiện của thơ ca. Đặc sắc của thời kỳ này là, văn học trong cuộc đấu tranh với thể chế cũ và tập tục phong kiến, truy cầu xác lập tự ngã và giải phóng nhân tính của con người. Chủ nghĩa lãng mạn cùng với chủ nghĩa tả thực cạnh tranh phát triển, tạo nền tảng cho văn học chủ nghĩa tự nhiên hình thành.

2.2. Thời kỳ phát triển

Văn học cận đại Nhật Bản dần dần phát triển dưới sự mở đường của các tác giả Tsubouchi Shōyō, Futabatei Shimei, Mori Ōgai. Đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX, xuất hiện hai nhóm sáng tác văn học quan trọng là Kenyūsha (硯友社, Nghiên hữu xã) và Bungakukai (文學界, Văn học giới). Văn học của Kenyūsha là sự thoái hóa của văn học chủ nghĩa hiện thực sơ kỳ cận đại ở Nhật Bản, kết hợp chủ nghĩa tả thực cận đại với văn học hý tác thời Giang Hộ, chủ trương lấy nước mắt của giới độc giả làm tôn chỉ, phản ánh phong tục thời văn minh khai hóa, miêu tả về xã hội có phần cạn cợt, đáp ứng hứng thú của tầng lớp thị dân, đối lập với tiểu thuyết chính trị khá khô khan. Bungakukai là đoàn thể văn học do nhà thơ trẻ tuổi Kitamura Tōkoku (北村透谷, 1868-1894) đứng đầu. Họ lựa chọn thái độ đối lập với hiện thực, yêu cầu giải phóng cá tính, mơ ước một hạnh phúc ảo ảnh giả tạm, một sức sống thanh xuân phù phiếm. Họ khuấy động phong trào văn học chủ nghĩa lãng mạn Nhật Bản, thiết lập nền tảng cho việc sáng tác thơ cận đại Nhật Bản.

Kitamura Tōkoku là nhà thơ, nhà bình luận theo hướng chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Ông từng tham gia hoạt động trong phong trào tự do dân quyền của cánh tả. Sau khi phong trào thất bại ông tham gia hoạt động sáng tác văn học. Ông phản đối xã hội Nhật Bản đen tối thời phong kiến, đối chiếu giữa “thế giới lý tưởng” và “thế giới hiện thực”, thể hiện sự truy cầu dân chủ, tự do và giải phóng cá tính. Trong hai bộ kịch thơ chưa thành thục của ông là Sở tù chi ca (楚囚之歌, 1889) và Bồng Lai khúc (蓬莱曲, 1891), lai láng tâm sự hướng về tự do và truy cầu hạnh phúc, gặp phải thất bại chuyển sang phủ định hiện thực, thể hiện cảm xúc phẫn nộ nguyền rủa xã hội đen tối. “Thế giới vô vị này, thế giới không làm được trò trống gì này, thế giới hư ngụy này, thế giới xảo trá này, thế giới xấu xa này, thế giới dơ bẩn này, làm sao có thể khiến cho tâm tôi có được khoảng khắc an bình!” (Bồng Lai khúc). Thơ trữ tình mà ông sáng tác cuối đời, cách điệu mới mẻ, hình tượng ưu mỹ, hiển hiện một con người tỉnh thức, phản kháng một cách cô độc, lặng lẽ. Cuối cùng chìm sâu vào sự mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực mà không cách nào tự cứu mình ra khỏi, để rồi phải tự sát trong sự thống khổ và hoang mang.

Trong khoảng trước sau chiến tranh Giáp Ngọ Trung – Nhật, văn học cận đại Nhật Bản phát sinh sự chuyển biến từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực. Sự chuyển hóa này đầu tiên được phản ánh trong tản văn. Nữ tác giả trẻ Ichiyō Higuchi (樋口一葉, 1872-1896) chủ yếu sáng tác đoản thiên tiểu thuyết, tác phẩm tiêu biểu là Mai một (埋没), Trọc lưu (濁流), Thập tam dạ (十三夜), Thanh mai trúc mã (青梅竹馬)… Ichiyō Higuchi xuất thân từ tầng lớp dưới trong xã hội, nếm đủ mùi vị thống khổ của người dân nghèo khó trong xã hội cận đại Nhật Bản. Cô thương xót và đồng cảm với nỗi thống khổ của các kỹ nữ, nô bộc, tiểu thương, nghệ nhân thấp bé trong xã hội tư bản chủ nghĩa Nhật Bản, đặc biệt là vận mệnh bi thảm của người phụ nữ tầng lớp dưới bị xã hội giày xéo, chà đạp. Các cô gái sống giãy giụa trong xã hội đen tối, nếm đủ sự khinh khi xúc phạm của xã hội. Ichiyō Higuchi tình cảm chân chất, ngòi bút tinh tế thanh tú, tác phẩm nồng đượm khí vị trữ tình, là tác giả đặc sắc nhất trong văn học Nhật Bản cận đại. Kunikida Doppo (國木田獨歩, 1871-1908) trước là một nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn hướng về tự do. Trong hoàn cảnh hiện thực đen tối của chủ nghĩa tư bản, ông dần dần chuyển hướng sang sáng tác văn học chủ nghĩa hiện thực. Trong các tác phẩm đoản thiên tiểu thuyết cuối đời như Cùng tử (穷死), Trúc sách môn (竹栅門), ông miêu tả sự khốn cùng bi thảm của nhân dân lao động thấp bé.

Sau chiến tranh Giáp Ngọ Trung – Nhật, một mặt chủ nghĩa tư bản của Nhật Bản phát triển nhanh chóng, mặt khác mâu thuẫn của xã hội Nhật Bản cận đại thêm sâu sắc. Hiện tượng đầu cơ trục lợi trong xã hội thịnh hành, vật giá leo thang, công nhân không ngừng bãi công. Công nhân trong các nhà máy bắt đầu thức tỉnh, các trào lưu tư tưởng xã hội sôi nổi hẳn lên, xuất hiện tư trào xã hội chủ nghĩa thời kỳ đầu. Sự vận động này của xã hội cũng ảnh hưởng đến văn học Nhật Bản thời cận đại, hình thành văn học theo khuynh hướng tư tưởng chủ nghĩa xã hội. Về tiểu thuyết có Kenjirō Tokutomi (德富蘆花, 1868-1927) và Naoe Kinoshita (木下尚江, 1869-1937) là đại diện, về thơ ca có Kodama Hanagai (児玉花外, 1874-1943) là đại diện. Kenjirō Tokutomi là một tác giả thiên chúa giáo theo chủ nghĩa nhân đạo. Ông thể hiện thái độ bất mãn mãnh liệt đối với sự hủ bại và đen tối của Nhật Bản thời cận đại, nhiệt tình quan tâm đến các vấn đề xã hội, tích cực tìm hiểu về tư tưởng chủ nghĩa xã hội. Năm 1903, ông cho ra đời tác phẩm tiêu biểu Hắc triều (黑潮), bộ tiểu thuyết này lấy bối cảnh thời kỳ thịnh hành chủ nghĩa Âu hóa đầu thời Minh Trị, miêu tả một cách chân thực sự hủ bại của chính giới đương thời và vận mệnh bi thảm của người phụ nữ quý tộc, khắc họa một cách sâu sắc quyền thế tột bật và cuộc sống xa xỉ của bọn trọng thần trong chính phủ Minh Trị thiên hoàng. Nội dung xã hội sâu sắc của tác phẩm tạo nên sự hứng thú cho đông đảo độc giả.

2.3. Thời kỳ thành thục

Sau năm 1900, văn học cận đại Nhật Bản bắt đầu thành thục. Thắng lợi của chiến tranh Nga – Nhật thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Nhật Bản diễn ra nhanh hơn. Thế nhưng, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội ngày càng rộng, mâu thuẫn giai cấp lên cao, đào sâu sự ngăn cách giữa cá nhân và xã hội. Điều này khiến cho tác gia phản tỉnh về những vấn đề của xã hội, tìm ra con đường và địa vị của cá nhân trong cuộc sống xã hội, bình tâm để quan sát, phân tích các vấn đề xã hội. Trong bối cảnh xã hội đó, phong trào văn học theo chủ nghĩa tự nhiên cận đại Nhật Bản hưng khởi, một mặt tiếp thu những cái xấu trong văn học theo chủ nghĩa tự nhiên Tây Âu, chủ trương thể hiện bản năng của con người, bộc lộ một cách trần trụi mọi xấu ác trong nhân gian, văn học chứa đầy những nội dung dung tục hạ cấp, mang lại tác động độc hại rất lớn đối với văn học cận đại Nhật Bản. Mặt khác, do các tác giả sống trong xã hội đen tối, họ kế thừa tinh thần tự do giải phóng cá tính mà chủ nghĩa lãng mạn đề xướng, sáng tác ra những tác phẩm văn học theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực nói lên sự bất mãn đối với hiện thực xã hội đen tối.

Tōson Shimazaki (島崎藤村, 1872-1943) là tác gia quan trọng của văn học theo chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản. Thời thanh niên là một thành viên quan trọng của Bungakukai (文學界), bước vào văn đàn với tư cách một nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn. Tập thơ đầu tiên Wakanashū (若菜集 Collection of Young Herbs, 1897) là tập thơ ca tụng tình yêu và tuổi trẻ, chứa đầy tình điệu lãng mạn chủ nghĩa. Không lâu sau do cuộc sống khó khăn, tình yêu trắc trở, từ phong cách trữ tình lãng mạn ông chuyển sang miêu tả hiện thực. Đến năm 1906, ông cho ra mắt bộ tiểu thuyết đầu tiên theo khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên Phá giới (破戒, The Broken Commandment). Bộ tiểu thuyết này miêu tả về một thầy giáo trẻ xuất thân trong một gia đình nghèo khổ ở vùng nông thôn ven núi tên Ushimatsu Segawa (濑川丑松). Anh nghe theo lời răn dạy của cha là suốt đời phải che giấu sự xuất thân hạ tiện của mình, nếu một khi tiết lộ, anh sẽ bị xã hội ruồng bỏ và phỉ nhổ. Trong cuộc sống bức bách của hiện thực, đặc biệt là dưới sự ảnh hưởng và cảm hoá của một nhà tư tưởng cũng xuất thân bần tiện như anh là Inokosen Taro (猪子莲太郎), anh không còn cảm thấy xuất thân thấp hèn là điều nhục nhã, tuyên cáo với xã hội về xuất thân của mình, trở thành một con người thức tỉnh mới. Tác phẩm thông qua sự thức tỉnh của Ushimatsu Segawa để phê phán mạnh mẽ chế độ đẳng cấp phong kiến trong xã hội cận đại Nhật Bản, đề xuất nhu cầu dân chủ và giải phóng nhân quyền. Việc miêu tả về mối quan hệ giữa anh và các nhân vật khác, đã vén lên bức màn tối về việc giành phiếu tín nhiệm của giới nghị viên chính trị, sự lạc hậu và hủ bại của cơ cấu giáo dục địa phương, miêu tả về sự khốn khổ bần cùng trong cuộc sống của người nông dân khi bị bọn địa chủ bóc lột dã man. Tác phẩm đã vẽ nên bức tranh phổ quát về hoàn cảnh xã hội cuối thời Minh Trị, trở thành một bộ tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện thực phê phán kiệt xuất trong văn học cận đại Nhật Bản. Sau đó, Tōson Shimazaki cón sáng tác tác phẩm Mùa xuân (春, Spring, 1908) lấy đề tài là đời sống và sáng tác của mình thời trai trẻ, tác phẩm Gia đình (家, The Family, 1910) lấy đề tài là lịch sử suy vong của hai gia tộc phong kiến, qua đó đả kích tư tưởng tàn dư thời phong kiến và sự đen tối của xã hội Nhật Bản. Thế nhưng, sức phê phán xã hội của tác phẩm vẫn còn yếu ớt, nghiêng về việc thổ lộ những cảm nhận về cuộc sống của cá nhân tác giả, khiến cho bao trùm lên tác phẩm là tình điệu âm trầm phiền muộn, mang màu sắc tiêu cực của văn học theo khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên. Năm 1918, ông sáng tác tiểu thuyết Cuộc sống mới (新生, New Life) hoàn toàn là một cuốn sách nói về sự sám hối của đạo đức cá nhân, thiếu đi những ý nghĩa xã hội tích cực. Những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào cách mạng của giai cấp vô sản lên cao, Tōson Shimazaki cho ra đời cuốn tiểu thuyết lịch sử theo chủ nghĩa hiện thực Trước khi trời sáng (夜明之前 Yoakemae, Before the Dawn) miêu tả về hoàn cảnh biến đổi đầy nóng bỏng của xã hội Nhật Bản trước sau thời Minh Trị duy tân.

Katai Tayama (田山花袋, 1871-1930) cũng là tác giả quan trọng theo khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên của văn học Nhật Bản. Lúc đầu ông cũng là một tác giả theo chủ nghĩa lãng mạn, năm 1907 sáng tác bộ tiểu thuyết vừa Bồ đoàn (蒲団), ông trở thành một tác giả quan trọng trên văn đàn. Bồ đoàn viết về câu chuyện tình yêu của một nhà văn trung niên tên Takenaka Tokio (竹中時雄) với cô nữ học trò của mình là Yoshiko Yokoyama (横山芳子) với ngòi bút vừa tinh tế vừa táo bạo. Tokio yêu và muốn chiếm đoạt Yokoyama, từ đó dẫn đến những ghen tuông khổ não, cuối cùng thất bại bi ai. Tác phẩm là một bản sám hối tình dục một cách trần trụi. Phá giớiBồ đoàn tạo thành một loại hình tác phẩm của văn học Nhật Bản theo chủ nghĩa tự nhiên, chuyển sang miêu tả đủ thứ cảm xúc trong sự thể nghiệm cuộc sống của chính cá nhân tác giả, thoát ly khỏi phương hướng sáng tác chủ nghĩa hiện thực. Vậy mà đến năm 1910, Katai Tayama lại sáng tác một cuốn tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện thực là Thầy giáo làng quê (鄉村教師). Tác phẩm miêu tả một thanh niên trí thức sống tại một vùng nông thôn hẻo lánh lạc hậu trải qua cuộc đời đạm bạc ngắn ngủi, cuối cùng uất ức mà chết trong cảnh bệnh tật nghèo khó. Tác phẩm phản ánh hiện thực đen tối của xã hội thời Minh Trị đã làm tàn lụi cuộc sống thanh niên Nhật Bản. Ngoài ra, đoản thiên tiểu thuyết Bắn chết trong hàng ngũ (一兵卒の銃殺, 1917) miêu tả về kết cục bi thảm của binh sĩ bình thường Nhật Bản trong chiến tranh Nga – Nhật. Những tác phẩm này cùng tố cáo sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản bị trả giá bằng sự hy sinh của nhân dân. Cùng lúc này, Katai Tayama còn sáng tác một loạt tác phẩm lấy đề tài là đời sống sinh hoạt thường nhật của bản thân. Không lâu sau ông thay đổi khuynh hướng sáng tác văn học theo chủ nghĩa tự nhiên, chuyển hướng sang sáng tác những đề tài miêu tả thế giới u tưởng của tôn giáo.

Shūsei Tokuda (徳田秋聲, 1871-1943) và Hakuchō Masamune (正宗白鳥, 1879-1962) cũng là các tác gia quan trọng của văn học theo hướng chủ nghĩa tự nhiên đương thời.

Trong lúc phong trào văn học theo chủ nghĩa tự nhiên đang thịnh hành, trên văn đàn Nhật Bản bỗng nổi lên một tác giả lớn là Natsume Sōseki (夏目漱石, 1867-1916). Tác phẩm Tôi là mèo (吾輩は猫である, 1905) của ông dùng ngòi bút trào phúng cười cợt để phản ánh sự xấu xa của xã hội thời Minh Trị. Những tác phẩm có sức phê phán mạnh mẽ và dần chuyển từ chủ nghĩa tự nhiên sang chủ nghĩa hiện thực của Natsume Sōseki tập hợp thành trào lưu văn học chủ nghĩa hiện thực phê phán cận đại Nhật Bản, thúc đẩy văn học cận đại Nhật Bản phát triển.

Năm 1910, nhà thơ chuyên sáng tác đoản ca Takashi Nagatsuka (長塚節, 1879-1915) cũng cho ra mắt cuốn tiểu thuyết trường thiên miêu tả đời sống nông dân Đất (土, The Soil). Tiểu thuyết lấy bối cảnh làng Okada (岡田村), quê hương của tác giả, viết về cuộc sống lụn bài bần khốn cực độ của một gia đình nông dân, tái hiện một cách khách quan tinh tế sự giãy giụa của người nông dân nghèo khổ trong vực sâu khốn cùng, lên án sự đen tối của chế độ phong kiến ở nông thôn Nhật Bản. Đất trong văn học cận đại Nhật Bản là tác phẩm chân thực hiếm thấy phản ánh cuộc sống nông dân.

Tóm lại, văn học chủ nghĩa hiện thực cận đại Nhật Bản trong thời kỳ này phát triển mạnh mẽ. Nó phản ánh sự bi thảm của người dân thấp bé trong xã hội, đồng thời miêu tả cuộc sống ray rứt của tầng lớp trí thức thuộc giai cấp trung tiểu tư sản, ở mức độ nhất định thể hiện sự bất mãn và phản kháng của nhân dân Nhật Bản đối với thực trạng đen tối của xã hội cận đại Nhật Bản. Thế nhưng, do thiếu ý thức xã hội rõ ràng, nên đời sống nhân dân mà nó phản ánh là đen tối rốt cuộc cũng không tìm ra lối thoát, sự đối đầu được miêu tả cũng mang tính tiêu cực và tuyệt vọng.

Năm 1910 diễn ra “sự kiện đại nghịch” (大逆事件)[2] đánh dấu sự tiến bước phản động hoá của người thống trị. Sự kiện này tạo ra chấn động lớn đối với giới trí thức Nhật Bản, thúc đẩy sự phân hoá của phần tử trí thức, cũng mang lại ảnh hưởng cho nền văn học Nhật Bản. Sau “sự kiện đại nghịch”, đa số tác giả trở nên trầm mặc hoặc chạy trốn hiện thực, có xu hướng bi quan suy đồi, hoặc chỉ miêu tả những chuyện vụn vặt quanh mình, sám hối cuộc đời. Chỉ một số ít tác giả đứng dậy phản kháng, bước lên con đường tiến bộ. Sau năm 1910, văn học cận đại Nhật Bản bắt đầu xuất hiện trào lưu văn học chủ nghĩa phản tự nhiên, người đứng trên lập trường cánh tả để phê phán văn học chủ nghĩa tự nhiên đương thời là Takuboku Ishikawa (石川啄木, 1885-1912).

Takuboku Ishikawa là tác gia, nhà thơ, nhà phê bình trẻ của chủ nghĩa dân chủ cách mạng. Ông sinh tại một ngôi làng nhỏ ở đông bắc đảo Honshu (本州), lúc còn nhỏ gia đình nghèo khó phải dời đến đảo Hokkaidō (北海道) cư trú. Ông từng làm giáo viên tiểu học, phóng viên báo chí. Thời niên thiếu, ông đã sáng tác những bài thơ theo chủ nghĩa lãng mạn, sau đó sáng tác tập hoà ca Một nắm cát (一握の砂), Món đồ chơi đáng buồn (可悲的玩具) cà các tiểu thuyết theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực như Mây là thiên tài (雲是天才), Con đường (道路), Bọn chúng ta và anh ấy (我们一伙和他)… vịnh thán cảm xúc bi phẫn về cuộc sống cá nhân. Thông qua “sự kiện đại nghịch”, ông nhận thức sâu sắc hơn sự phản động của chính phủ Thiên hoàng Nhật Bản, ý thức một cách mông lung phải dùng bạo lực để xoá bỏ “chính quyền quốc gia”, quyết tâm hướng về chủ nghĩa xã hội. “Từ trước đến nay, tôi định tự gọi mình là nhà chủ nghĩa xã hội mà cứ chần chừ chưa quyết, hôm nay thì không còn gì chần chừ nữa” (Thư gửi Ushimatsu Segawa). Trong bài viết Hiện trạng bế tắc của thời đại (1910), ông phê bình sắc sảo những tác giả sáng tác theo khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên trên văn đàn đương thời: “Tiểu thuyết, thơ, hoà ca của hôm nay hầu như đều là những ghi chép về kỹ nữ, gái điếm, những chuyện ô hợp, thông gian”. Ông còn hướng về thanh niên Nhật Bản kêu gọi: “Thanh niên chúng ta từ trong trạng thái huỷ diệt mà mà dũng cảm đứng dậy, đã đến lúc cần phải nhận rõ kẻ địch rồi!” Trong sáng tác thơ ca cuối đời, ông phê bình khá sắc sảo tác phong làm cách mạng chỉ biết nói mà thiếu hành động của giới trí thức. Takuboku Ishikawa mặc dù vẫn còn mơ hồ về con đường phía trước, thế nhưng ông đã dám đứng lên đối kháng với hiện thực đen tối, truy tìm con đường bước ra ánh sáng, đây là việc hiếm gặp lúc đó. Đáng tiếc là ông mất đi trong cảnh bệnh tật nghèo khó khi tuổi đời còn rất trẻ. Thế nhưng hoạt động văn học của ông lại có ý nghĩa rất lớn, là tiên phong của văn học giai cấp vô sản hiện đại.

2.4. Thời kỳ phân hoá

Từ năm 1912, bắt đầu thời kỳ thống trị của Thiên Hoàng Taishō (大正天皇, 1879-1926), thời kỳ này văn học Nhật Bản bị phân hóa sâu sắc hơn. Những năm đầu thời Taishō, trào lưu văn học chủ nghĩa phản tự nhiên chia làm 3 lưu phái chủ yếu: (1) Phái lãng mạn mới, phản ánh khuynh hướng đi xuống, phản động, suy đồi của văn học giai cấp tư sản; tác phẩm ca ngợi tâm lý và tính dục biến thái và tư tưởng chủ nghĩa duy mỹ, tác giả tiêu biểu là Kafū Nagai (永井荷風, 1879-1959) và Jun’ichirō Tanizaki (谷崎潤一郎, 1886-1965); (2) Phái Shirakaba-ha (白樺派, Bạch hoa phái), là phái văn học chủ nghĩa lý tưởng, kêu gọi theo tư tưởng chủ nghĩa nhân đạo, ca ngợi tình thương nhân loại, chủ trương lấy sự phát triển cá tính để cải tạo xã hội, tác phẩm ít nhiều đụng chạm đến sự đen tối của xã hội cận đại Nhật Bản, đặc biệt phê phán và lên án sự đè nặng của những tàn dư phong kiến trong xã hội, tác giả tiêu biểu có Saneatsu Mushanokōji (武者小路實篤, 1885-1976), Naoya Shiga (志賀直哉, 1883-1971), Takeo Arishima (有島武郎, 1878-1923); (3) Phái tư trào mới, đề xướng dùng thái độ im lặng, lý trí để miêu tả, mổ xẻ hiện thực cuộc sống, mà hiện thực được biểu hiện không ngoài cuộc sống thường nhật biến hóa vô thường của tầng lớp tiểu thị dân; tác giả tiêu biểu là Hiroshi Kikuchi (菊池寬, 1888-1948) và Ryūnosuke Akutagawa (芥川龍之介, 1892-1927). Trong các tác gia của thời kỳ Taishō (大正), thì Naoya Shiga, Takeo Arishima, Ryūnosuke Akutagawa là những người tiêu biểu.

Naoya Shiga (志賀直哉, 1883-1971) là nhà tiểu thuyết quan trọng của thời kỳ này. Ông xuất thân trong gia đình võ sĩ kiểu cũ, từ nhỏ đã nhận được sự giáo dục tốt, từ thanh niên bắt đầu tham gia sáng tác văn học. Tác phẩm của ông chủ yếu lấy đề tài từ những chuyện vụn vặt trong cuộc sống cá nhân, thông qua việc miêu tả những hiện tượng cuộc sống nhỏ nhặt để phản ánh sự đen tối của hiện thực Nhật Bản, mang khuynh hướng chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa hiện thực rõ rệt. Đi đến Abashiri (網走まで,1910) miêu tả cuộc sống gian nan khốn khổ của người phụ nữ bình thường bị lễ giáo phong kiến cũ trói buộc, nói lên sự đồng tình sâu sắc của tác giả. Sự việc sau buổi trưa ngày 3 tháng 11 (十一月三日午後的事, 1918) giới thiệu thảm cảnh huấn luyện quân sự của binh sĩ Nhật Bản theo kiểu phát xít, miêu tả sự tàn bạo của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Tác phẩm cuối đời Ánh trăng xám (灰色の月) được viết sau chiến tranh thế giới thứ hai, dùng câu chuyện tác giả bắt gặp trên chuyến xe nhằm nói lên những thống khổ mà chiến tranh mang lại cho nhân dân Nhật Bản. Ngòi bút Naoya Shiga mới mẻ, sinh động, điêu luyện, cách miêu tả của ông giống tranh thủy mặc, chỉ dùng vài nét bút đơn sơ vẽ nên những hình tượng sống động, có tính nghệ thuật khá cao. Vì vậy, trong văn học Nhật Bản cận đại, ông là tác giả đặc sắc và có sức ảnh hưởng.

Takeo Arishima (有島武郎, 1887-1923) là tác giả nhân đạo chủ nghĩa, ông khá nhạy cảm với mâu thuẫn xã hội và mâu thuẫn giai cấp. Năm 1919 cho ra mắt tiểu thuyết trường thiên Một cô gái (或る女). Bộ tiểu thuyết này miêu tả một nữ thanh niên là Yōko Satsuki (早月葉子), do bất mãn với sự ràng buộc của gia đình phong kiến, đã dũng cảm thoát ra khỏi tù ngục gia đình, tìm ra một con đường giải phóng cá tính trong xã hội. Cô chỉ dựa vào cá tính và bản năng của mình để phản kháng đạo lý bất bình đẳng mà cô căm ghét, vậy mà cũng bị xã hội của chủ nghĩa tư bản giấu mình cấu xé, cuối cùng ôm bệnh mà chết. Tác phẩm phản ánh bi kịch của người phụ nữ trí thức Nhật Bản truy cầu giải phóng cá tính. Nó vô tình phơi bày sự hư ngụy của văn minh đạo đức tư bản chủ nghĩa Nhật Bản, nói lên nỗi bất bình của của người phụ nữ Nhật Bản gặp phải nhiều bất hạnh. Đó là một kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực cận đại Nhật Bản. Tác phẩm nổi tiếng của Takeo Arishima còn có Hậu duệ giấu mình (カインの末裔) và Nỗi khổ trên đời (生れ出づる悩み).

Ryūnosuke Akutagawa (芥川龍之介, 1892-1927) là tác giả có sự rèn luyện nghệ thuật khá cao. Sáng tác thời gian đầu, ông lấy đề tài từ những câu chuyện lịch sử, dưới bộ áo nghệ thuật chủ nghĩa mĩ miều đó, ông đã bình tĩnh mổ xẻ những biểu hiện của chủ nghĩa lợi kỷ của xã hội cận đại. Những tác phẩm cuối đời chuyển sang miêu tả hiện thực, dùng sự trầm lặng và lời lẽ phản biện để điều chỉnh biểu hiện đen tối của xã hội Nhật Bản sau “sự kiện đại nghịch”. Tiểu thuyết đồng thoại Kappa (河童, 1927) đã thể hiện tài năng trào phúng đặc sắc của Ryūnosuke Akutagawa. Tác phẩm lấy xã hội nửa yêu nửa người đầy tính hư cấu để phản ánh hiện thực xã hội đương thời.

Cuối thời Đại Chính xã hội mâu thuẫn cực độ, đấu tranh giai cấp ngày một quyết liệt. Takeo Arishima và Ryūnosuke Akutagawa đều rất nhạy cảm trước sự dị thường của xã hội hiện thực, họ đối mặt với mâu thuẫn giai cấp quyết liệt, xu hướng đấu tranh cách mạng vô sản dâng cao. Cảm thấy hoang mang và lo sợ, họ mang mâu thuẫn nội tâm sâu sắc và nỗi bất an với tương lai mà lần lượt tự sát. Cát chết của họ đánh dấu sự kết thúc của văn học cận đại.

Đồng thời với đó, một số ngòi bút trẻ tân tiến đã dấn thân tìm tòi con đường xã hội và con đường sáng tác mới, họ lấy tư tưởng cấp tiến và và tác phẩm xuất sắc của mình hướng về nhân dân, chuẩn bị cho sự ra đời của văn học cách mạng vô sản Nhật Bản hiện đại.

3. Ý nghĩa của các lưu phái văn học thời cận đại trong nền văn học Nhật Bản

Có thể thấy rằng, thời cận đại, khá nhiều lưu phái văn học có nguồn gốc phương Tây được du nhập vào Nhật Bản, cùng với sự hăm hở mở cửa hội nhập với thế giới của xã hội Nhật Bản.

Chiến tranh Nga – Nhật thúc đẩy chủ nghĩa tư bản của Nhật Bản phát triển nhanh chóng, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Trong tình thế đó, người Nhật khát vọng mở rộng tầm nhìn, khát khao nền văn hóa mới mang tính thế giới, quét sạch tàn dư của đạo đức phong kiến. Vậy là, phong trào chủ nghĩa tự nhiên hình thành ở Pháp thế kỷ XIX bắt đầu vào Nhật Bản, kết hợp chặt chẽ với tinh thần khoa học tự nhiên vào những năm Minh Trị thứ 30, làm xuất hiện chủ nghĩa tự nhiên thời kỳ đầu. Những năm thứ 40 trên văn đàn hình thành phong trào văn học chủ nghĩa tự nhiên thời kỳ sau, thanh thế ngày càng rộng lớn mang đặc sắc Nhật Bản. Lưu phái văn học này bỏ đi tính chủ quan năng động, phủ định lý tưởng, hư cấu và kỹ xảo, nhấn mạnh văn học ghi chép hiện thực khách quan, phản ánh mặt tối tăm của xã hội, giải phóng cá nhân. Chủ nghĩa tự nhiên Nhật truy cầu phản ánh sự việc chân thật, phản truyền thống, dùng nhãn quan nhạy cảm sâu sắc để quan sát tự thân thế giới bên ngoài giống như chủ nghĩa tự nhiên Pháp. Đáng tiếc là tính hạn hẹp và tính đặc thù của xã hội chủ nghĩa tư bản thời Minh Trị hạn chế phạm vi cuộc sống của tác gia, khiến cho tính xã hội và tính tư tưởng của tác phẩm khá mờ nhạt, dẫn đến việc chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản mặc dù phản ánh hiện thực xấu xa nhưng không chủ trương cải cách xã hội, nguyên liệu văn học chủ yếu là những chuyện vụn vặt diễn ra xung quanh cuộc sống riêng của tác giả, đó là nét đặc thù của chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản. Chủ nghĩa tự nhiên mở ra con đường cho “tư tiểu thuyết”, ảnh hưởng đến thi đàn, làm thịnh hành thơ tự do khẩu ngữ, tạo nền tảng cho thơ cận đại Nhật Bản. Chủ nghĩa tự nhiên do miêu tả quá trần trụi gây ra sự phản cảm của nhiều người, vì vậy khá đoản mệnh. Vào thời Taishō, văn đàn ngày càng phồn vinh, chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa phản tự nhiên cùng tồn tại đối lập nhau. Nhiều lưu phái văn học chủ nghĩa phản tự nhiên xuất hiện, sáng tác của họ giàu tính luân lý và tính lý trí, nhìn ra nội hàm tự ngã của phần tử trí thức.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất khiến cho kinh tế Nhật phồn vinh, xây dựng được nội các và các chính đảng, phong trào xã hội và phong trào lao động nổi dậy mạnh mẽ. Chủ nghĩa lý tưởng của phái Bạch Hoa dần thoát khỏi hiện thực, văn học chủ nghĩa hiện thực mới (được kết hợp bởi phái tân tư trào và phái kỳ tích) theo đó ra đời. Phái tân tư trào nhìn kĩ hiện thực, mổ xẻ mâu thuẫn cuộc sống con người; phái kỳ tích kế thừa truyền thống của chủ nghĩa tự nhiên, giàu góc độ cá tính nhưng thiếu tính lý trí.

Đầu thời Chiêu Hòa, văn học của giai cấp vô sản và phái nghệ thuật (như phái tân cảm giác, phái phục hưng nghệ thuật, chủ nghĩa tâm lý mới) phát triển đối lập nhau. Giữa thời Taishō chủ nghĩa Mác truyền vào Nhật Bản, văn học giai cấp vô sản theo đó hình thành. Lúc đầu, phong trào văn học cánh tả chỉ có tính chất riêng lẻ, ngây thơ và lãng mạn, đến thập niên 1920 với những biến cố gây bất ổn xã hội như động đất lớn ở Kanto (1923), khủng hoảng kinh tế thế giới (1929), nạn đói ở nông thôn đông bắc Nhật (1930), thì phong trào văn học vô sản bắt đầu thành hình. Văn học phái này là sự kế thừa dòng chảy của tiểu thuyết chính trị thời Minh Trị, tiểu thuyết xã hội và tiểu thuyết chủ nghĩa xã hội. Văn học giai cấp vô sản chủ trương văn học cách mạng phục vụ mục đích chính trị, tác phẩm phục vụ cho phong trào giải phóng giai cấp vô sản, phản ánh đời sống của quần chúng lao động, cạnh tranh với văn học chủ nghĩa hiện đại. Văn học vô sản đã chi phối văn đàn từ năm 1930 nhưng 4 năm sau đã dần mai một, một là do tư tưởng cách mạng kịch liệt đó thách thức quyền lực chính phủ nên bị cảnh sát đàn áp thẳng tay phải giải thể, hai là xã hội Nhật Bản quen sống tập đoàn và phục tùng, ba là nước Nhật là đảo quốc cô lập với thế giới và chỉ người Nhật mới đọc tác phẩm tiếng Nhật. Năm 1933 về sau, hiệp hội các nhà văn vô sản dần tan rã, có người trở về với chủ nghĩa lãng mạn, có người chuyển sang phản đối văn học vô sản, có người lùi vào bóng tối và chỉ xuất hiện sau thế chiến thứ hai.[3]

Phái nghệ thuật theo đuổi mục đích bảo vệ nghệ thuật, thông qua việc cách tân thủ pháp văn học để phủ định văn học truyền thống. Phái tân cảm giác dùng những thủ pháp mang tính cảm giác như cấu tứ kì dị, tỉ dụ và mô phỏng người, biểu hiện sự vật hiện tượng hiện đại chịu sự chi phối của nền văn minh công nghiệp (Cảm giác ở đây gần giống với cảm giác của con người đối với mỹ thuật và âm nhạc). Phái phục hưng nghệ thuật đứng ở lập trường phản đối chủ nghĩa Mác, phản đối lý luận “chỉ một hoa nở” của văn học giai cấp vô sản. Phái này dùng những tư tưởng kì lạ, truy cầu văn học thời thượng, không có tinh thần mới sâu rộng, mang khuynh hướng suy đồi, nhấn mạnh sự quý giá của đời người, nhìn thẳng vào tự ngã, than tiếc tuổi thanh xuân. Chủ nghĩa tâm lý mới chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tâm lý của nhiều tác gia phương Tây, xem trọng phân tích tinh thần, thể hiện đầy tính nghệ thuật chiều sâu tâm lý, tìm tòi đạo đức văn học, ảnh hưởng lớn đến văn học thời hậu chiến.[4]

Sự hình thành các lưu phái văn học cận đại ở Nhật Bản một mặt thể hiện sự hòa nhập và giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa Nhật Bản với phương Tây, mặt khác phản ánh rõ nét thực trạng xã hội Nhật Bản, đồng thời cũng là thực trạng của nền văn học Nhật Bản, trong buổi giao thời cải cách mở cửa với thế giới. Trong bối cảnh đó, nền văn học Nhật Bản có sự thay đổi mạnh mẽ mang tính đột biến, chuyển mạnh từ văn học truyền thống sang văn học hiện đại; đồng thời đi trước một bước so với các nước khu vực Đông Á trong quá trình hiện đại hóa nền văn học. Sự đặc biệt của hoàn cảnh xã hội cũng làm nên sự đặc biệt của các lưu phái văn học cận đại, chúng vừa tiếp nối nhau, vừa đan xen bổ sung cho nhau, vừa phản kháng nhau và kích thích nhau cùng phát triển. Nền văn học gắn bó mật thiết với diễn biến chính trị xã hội của đất nước và thế giới, đồng thời là tấm gương phản chiếu thái độ tư tưởng phức tạp của văn giới Nhật Bản đương thời.

4. Kết luận

Nhật Bản là đất nước duy nhất ở Đông Á thời cận đại không phải là thuộc địa hay nửa thuộc địa của thực dân phương Tây. Đó là nhờ Nhật Bản đã sớm thức tỉnh được xu hướng phát triển của thế giới, nhận thấy được con đường đúng đắn để tiến hành cải cách đất nước theo mô hình tư bản chủ nghĩa phương Tây đương thời. Với tinh thần: “Học hỏi phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt lên phương Tây”, người Nhật đã mạnh mẽ vươn lên những thách thức rất nghiệt ngã sau khi mở cửa để xây dựng vị thế quốc gia lớn mạnh. Đó là bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới.

Văn học cận đại Nhật Bản hình thành và phát triển gắn liền với diễn biến của hoàn cảnh lịch sử xã hội. Sự ra đời và phát triển của các lưu phái văn học là minh chứng sinh động cho quá trình hội nhập sâu rộng của Nhật Bản với thế giới, đặc biệt là phương Tây. Nhờ đó mà nền văn học Nhật Bản có thêm một giai đoạn văn học nhiều thành tựu và thật sự lý thú.

Tài liệu tham khảo

1. Diệp Vị Cừ, Hồi cố và suy nghĩ về nền văn học Nhật Bản thế kỷ XX, Nhật Bản học san, năm 1999 kỳ 6.

2. Ngụy Đại Hải (biên dịch), Văn học Nhật Bản cuối thế kỷ, Văn học tổng thuật, Phòng Văn học nước ngoài, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc.

3. Lưu Lập Thiện, Lịch sử các lưu phái văn học cận hiện đại Nhật Bản, Nxb Đại học Liêu Ninh, Thẩm Dương, 2007.

4. Diệp Vị Cừ và Đường Nguyệt Mai, Lịch sử văn học Nhật Bản (quyển cận đại và hiện đại), Nxb Nhật báo Kinh tế, Bắc Kinh, 1999.

5. Ngô Nguyên Mại (chủ biên), Lịch sử văn học Nhật Bản thế kỷ XX, Nxb Thanh Đảo, Thanh Đảo, 1998.

6. Bỉnh Cốc Hành Nhân (Triệu Kinh Hoa dịch), Khởi nguồn văn học hiện đại Nhật Bản, Nhà sách Liện hợp Sinh hoạt – Độc thư – Tân tri, Bắc Kinh, 2003.

7. Lý Đức Thuần, Văn học Nhật Bản thời hậu chiến, Nxb Nhân dân Liêu Ninh, Thẩm Dương, 1988.

8. Lưu Đức Trung, Bước vào vườn hoa văn học châu Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003.

9. Nguyễn Thị Thanh Xuân (chủ biên), Văn học Nhật Bản ở Việt Nam, Nxb ĐHQG TPHCM, Tp.HCM, 2008.

10. Vĩnh Sính, Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa, Nxb Văn nghệ TPHCM, Tp.HCM, 2001.

11. Đào Thị Thu Hằng, Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.

12. Nguyễn Nam Trân, Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011.

13. Nhật Chiêu, Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003.

14. Trang web Bách khoa toàn thư Wikipedia.

15. Trang web Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG TPHCM.


[1] Xem thêm tại Lưu Lập Thiện, Lịch sử các lưu phái văn học cận hiện đại Nhật Bản, Nxb Đại học Liêu Ninh, Thẩm Dương, 2007.

[2] Tháng 5.1912, nhân việc một công nhân mang lựu đạn đến xưởng gỗ nơi mình làm việc bị phát hiện, chính phủ liền nhân cơ hội này phong trào chủ nghĩa xã hội ở Nhật Bản. Đến thâng, chính quyền cho bắt những người theo chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc, bức tử tất cà các công hội, cấm in ấn mọi sách vở tạp chí mang tính tả khuynh. Sau đó, 26 người tiên phong bị đưa ra tòa, buộc tội “đại nghịch bất đạo, âm mưu ám sát thiên hoàng, gây ra bạo loạn”, sau đó tuyên án 24 người tử hình và 2 người phạt tù. Việc làm này khiến cho nhân dân Nhật và nhân dân thế giới phẫn nộ, các nơi tổ chức biểu tình và viết thư kháng nghị. Dưới áp lực dư luận trong ngoài nước, chính quyền đã giảm tội cho 12 người trong số tử hình xuống tù chung thân, 12 người còn lại giữ y án tử hình.

[3] Xem thêm tại Nguyễn Nam Trân, Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, trang 385-389.

[4] Xem thêm tại Lưu Lập Thiện, Lịch sử các lưu phái văn học cận hiện đại Nhật Bản, Nxb Đại học Liêu Ninh, Thẩm Dương, 2007.

2 phản hồi (+add yours?)

  1. giangnamlangtu
    Dec 27, 2013 @ 15:27:05

    CỐ lên, A Feng, cố lên!

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: