Ngựa trong thành ngữ Trung Quốc

Chúc mừng năm mới! Nguồn: webbi.vn

Chúc mừng năm mới! Nguồn: webbi.vn

 Ngựa là loài gia súc ăn cỏ được nuôi dưỡng hầu khắp các nơi trên thế giới, tập trung nhiều ở khu vực thảo nguyên Trung Á. Ngay từ thiên niên kỉ thứ 2 trước Công nguyên, con người đã biết thuần dưỡng ngựa, biến ngựa thành một loài vật hữu ích, gắn bó mật thiết và có giá trị đối với đời sống thường nhật của mình. Ngựa được dùng phổ biến trong lao động sản xuất, giao thông vận chuyển và trong chiến tranh.

Ở Trung Quốc, từ thời Chiến Quốc mới bắt đầu có kỵ binh, giống như cổ Hi Lạp và La Mã cũng đều có kỵ binh trong biên chế quân đội. Nếu con hổ hung tợn tượng trưng cho quyền lực và uy vọng; con rồng, kỳ lân, phượng hoàng tượng trưng cho điều cát tường; con trâu hiền lành tượng trưng cho sự cần cù chịu khó; con cáo tượng trưng cho sự gian xảo quỷ quyệt… thì con ngựa tượng trưng cho tài năng và sức mạnh chính nghĩa. Ngựa là loài vật uy lực dũng mãnh, lại chịu được gian khổ nên được dùng làm vật cưỡi khi xuất chinh; ngựa cũng có vẻ đẹp thanh cao quý phái nên trở thành đối tượng chủ yếu của trường phái tranh vẽ ngựa. Các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho đến thời hiện đại đều có các hoạ sĩ vẽ ngựa nổi tiếng. Họ Mã là một họ phổ biến ở Trung Quốc, thể hiện vị trí thượng lưu của người mang họ đó trong xã hội.

Trong hệ thống ngôn ngữ Trung Quốc, từ vựng chỉ vật là ngựa hoặc liên quan đến ngựa cực kỳ phong phú. Chẳng hạn, ngựa con hai tuổi gọi là câu (駒), ngựa có màu đen gọi là ly (驪), ngựa đen nhưng có móng trắng gọi là chuy (騅), ngựa đực bị triệt sản gọi là phiến (騸), ngựa có màu vàng gọi là phiếu (驃), ngựa có lông đỏ tía, bờm và đuôi màu đen gọi là lưu (騮), ngựa lông đỏ tía như quả táo gọi là hoa (驊), ngựa lông vàng có miệng đen gọi là qua (騧), ngựa lông có màu xanh đen gọi là kỳ (騏), ngựa có lông vừa trắng vừa xanh gọi là thông (驄), ngựa hèn nhát gọi là nô (駑), ngựa chạy nhanh mà cất đầu cao gọi là tương (驤), ngựa lông đỏ gọi là tuynh (騂), ngựa cao tám thước trở lên gọi là long (龍)… Từ vựng liên quan đến ngựa, như phản ánh tính khí của ngựa, tư thái đi đứng chạy nhảy của ngựa, chức năng giúp đỡ con người của ngựa… cũng chiếm một số lượng khá lớn.

Có lẽ, không có dân tộc nào trên thế giới sở hữu số lượng thành ngữ liên quan đến ngựa nhiều như người Trung Quốc. Theo thống kê sơ bộ, hiện có khoảng 218 thành ngữ liên quan đến ngựa trong kho tàng thành ngữ Trung Quốc. Chúng tôi nghĩ việc này do các nguyên nhân sau: (1) Đối với người Hán chuyên sống bằng du mục và sản xuất nông nghiệp ở phía bắc lưu vực sông Hoàng Hà, ngựa được thuần dưỡng từ rất sớm và là vật nuôi chính trong nhà, cung cấp thịt, sức kéo và là phương tiện vận chuyển thuận lợi nhất trên những thảo nguyên mênh mông rộng lớn; (2) Ngựa được sử dụng phổ biến trong cuộc sống thường nhật, từ đối tượng vua chúa quan lại quý tộc đến dân thường đều cần đến ngựa, từ trẻ nhỏ đến người già đều biết ngựa, từ đô thị đến nông thôn Trung Quốc xưa đều có sự hiện diện của ngựa; (3) Đặc biệt, Trung Quốc là nước xảy ra nhiều cuộc nội chiến nhất trong lịch sử, ngay từ thời Ân Thương trải qua mấy ngàn năm cho đến thời cận đại, những cuộc chiến tranh xâu xé, tranh giành lãnh thổ, xưng hùng xưng bá, soán ngôi đoạt vị diễn ra không ngớt, trong bối cảnh đó ngựa được sử dụng phục vụ cho các cuộc chiến tranh liên miên bất tận. Đó cũng là lý do vì sao thành ngữ về ngựa gắn liền với đề tài chiến tranh chiếm tỉ lệ lớn trong toàn bộ thành ngữ liên quan đến ngựa.

Chính sự gắn liền mật thiết với mọi mặt cuộc sống của con người, nên địa vị của ngựa trong văn hoá Trung Hoa là rất cao, mang rất nhiều ý nghĩa tượng trưng, ngụ ý và ám chỉ thú vị. Dưới đây, chúng tôi tạm chia các thành ngữ liên quan đến ngựa xuất hiện với tần số nhiều nhất thành 4 nhóm để trình bày, đó là nhóm thành ngữ chỉ kinh nghiệm lao động sản xuất và cuộc sống thường nhật, nhóm thành ngữ liên quan hoạt động quân sự, nhóm thành ngữ chỉ phẩm chất con người và nhóm thành ngữ liên quan nhân vật lịch sử.

Nhóm thành ngữ chỉ kinh nghiệm lao động sản xuất và cuộc sống thường nhật chiếm số lượng nhiều nhất. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi lẽ ngựa là loài vật gắn bó mật thiết với mọi hoạt động đời sống của con người, ở mọi lúc mọi nơi, mọi gia đình. Nên muốn phản ánh một cái gì đó hay đúc kết một kinh nghiệm thực tiễn, người ta liền nghĩ ngay đến ngựa. Thế cho nên, những thành ngữ như vậy dễ nhớ, dễ hiểu, dễ liên tưởng, dễ lan truyền đến những người khác trong cộng đồng.

Đầu tiên là những thành ngữ phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua sự quan sát thực tiễn. Chẳng hạn ra đường gặp ngựa xe tấp nập, phố xá náo nhiệt, người ta nói xa thủy mã long (xe như nước chảy, ngựa tựa rồng bay); về đến nhà thấy khách khứa đến đông vui thì bảo rằng xa mã doanh môn (ngựa xe chật cửa); xe và ngựa cân xứng phù hợp với nhau thì nói bảo mã hương xa (ngựa quý xe tốt); cảm nhận thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó đã mấy năm, cứ tưởng như song gian quá mã (ngựa qua cửa sổ); công việc mới bắt đầu đã thu được thành công thì đúng là mã đáo thành công (ngựa đến thành công); nhắc đến những hình phạt tàn khốc, không gì đáng sợ hơn ngũ mã phân thi (năm ngựa phanh thây)…

Đối với những thứ quá trừu tượng khó nắm bắt được, cách tốt nhất là người nói dùng những hình ảnh hiện hữu trực quan để tỷ dụ. Việc đó khiến cho người nghe dễ nắm bắt mà không mắc công giải thích dài dòng. Chẳng hạn, thấy hành động xấu của một người ảnh hưởng không tốt đến cả tập thể, người ta bảo đó là hại quần chi mã (ngựa yếu gây nguy hại cho cả đàn ngựa); xem lời nói người khác như gió thoảng bên tai, chẳng khác nào đông phong xuy mã nhĩ (gió xuân thổi qua tai ngựa); lộ chân tướng sự thật bị che đậy cũng giống như là lộ xuất mã cước (chân ngựa lộ ra); khuyên chuyện không nên làm thì đừng làm có bất thực mã can (không ăn gan ngựa, vì gan ngựa có độc); nhìn di vật nhớ về người đã khuất, cũng giống như kiến yên tư mã (thấy yên nhớ ngựa); muốn khuyên ai không nên tuyệt vọng mã hãy cố gắng tiến về phía trước thì bảo mã bất đình đề (ngựa không dừng bước); những thứ hoang đường trái với lẽ thường tình cuộc sống thì đúng là xa tại mã tiền (xe đi trước ngựa), mã giác ô bạch (ngựa có sừng, quạ màu trắng); sự việc phát sinh vượt khỏi tầm khống chế chẳng khác nào thoát cương chi mã (ngựa thoát khỏi dây cương); cảnh báo một ai đó làm việc mù quáng sẽ dẫn đến hậu quả khó lường thì có manh nhân kỵ hạt mã (người đui cưỡi ngựa mù); lâm vào cảnh nguy hiểm kịp quay đầu chuyển hướng cũng giống như huyền nhai lặc mã (đến vực thẳm kịp kéo cương ngựa); đi tìm những thứ đã có sẵn trong tay là kẻ kỵ mã tầm mã (cưỡi ngựa tìm ngựa); ngày tháng nào đó của tương lai không biết trước được là viên niên mã nguyệt (năm vượn tháng ngựa); cái gì cũng có dấu vết manh mối sơ hở của nó hết, cũng giống như mã tích chu ti (ngựa có dấu chân, nhện có tơ)…

Phức tạp hơn, hình ảnh ngựa được vận dụng để đúc kết một kinh nghiệm quý giá về cuộc sống. Kinh nghiệm đó không phải phút chốc có được mà phải hình thành qua sự chiêm nghiệm lâu dài. Để chỉ việc họa phúc liền kề, chuyển hóa cho nhau, không có cái họa phúc nào vĩnh cửu, người ta nói tái ông thất mã (ông già nơi biên ải mất ngựa) hay mã khứ mã quy (ngựa đi thì ngựa về); để đúc kết kinh nghiệm phán đoán phẩm chất một ai đó có cách nói lộ dao tri mã lực, nhật cửu kiến nhân tâm (đường xa mới biết sức ngựa, ngày dài mới biết lòng người); phản ánh cách làm giàu bất chính của một ai đó thì nói mã vô dạ thảo bất phì (ngựa không ăn cỏ đêm không mập), người không dùng thủ đoạn xấu kiếm thêm thì không giàu được…

Nhóm thành ngữ chỉ hoạt động quân sự, liên quan đến đề tài chiến tranh chiếm số lượng khá lớn. Ngựa trở thành phương tiện vận chuyển, lực lượng tham chiến không kém phần quan trọng so với con người, nên muốn ca ngợi quân đội hùng tráng, thanh thế mạnh mẽ, giàu sức chiến đấu, người ta không thể nào không nhắc đến ngựa: thiên binh vạn mã (ngựa binh đông ngàn vạn), binh cường mã tráng (binh mạnh ngựa khỏe); khí thế hùng tráng, hành động nhanh nhẹn cũng giống như phong tường trận mã (cột buồm trong gió, ngựa trên chiến trường); dĩ nhiên để xây dựng và mở rộng lực lượng tham chiến đó, các tướng lĩnh phải ra sức chiêu binh mãi mã (tập hợp binh lính, mua ngựa)…

Chiến tranh lúc nào cũng khốc liệt, bên nào cũng cố hết sức để giành phần thắng về mình, ai có nhiều kinh nghiệm tác chiến thì giành được nhiều ưu thế hơn. Trước khi xuất binh phải chuẩn bị đầy đủ lương thực phục vụ cho quân đội binh mã vị động, lương thảo tiên hành (binh ngựa chưa đi, lương thảo phải sẵn sàng), nghĩa là trước khi làm việc gì phải có sự chuẩn bị chu đáo; trong lúc tham chiến thì mọi lúc mọi nơi phải cảnh giác cao độ, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu yên bất ly mã, giáp bất ly thân (yên không rời ngựa, giáp không rời thân); lúc tham chiến phải xạ nhân tiên xạ mã (bắn người trước bắn ngựa), nghĩa là phải đánh vào kẻ thù chủ yếu chứ không tập trung vào cái thứ yếu; chiến tranh sợ nhất là diễn ra lâu dài, vì chinh chiến đường xa, quân lính mệt mỏi, tinh thần chiến đấu sẽ giảm sút: yên mã lao khốn, yên mã chi lao, yên mã lao quyện

Còn tướng sĩ xung trận khí thế phải uy phong lẫm liệt, tư thái phải anh dũng kiên cường để thị uy với kẻ địch và làm gương cho quân sĩ, kiểu hoành qua dược mã (cầm ngang ngọn giáo nhảy lên ngựa) hay đại mã kim đao (cưỡi ngựa lớn, cầm đao vàng); lúc thất thế phải xung trận một mình không người giúp sức là đơn thương độc mã (một giáo một ngựa); chinh chiến gian khổ lập được nhiều chiến công là hãn mã công lao (công lao đổ mồ hôi trên lưng ngựa); kẻ chiến thắng thì lên làm vua dựng nước mã thượng đắc thiên hạ (trên lưng ngựa giành được thiên hạ), còn người chiến bại thì mã cách khoả thi (da ngựa bọc thây) để giữ tròn khí khái anh dũng của tướng sĩ chết nơi chiến trận. Cảnh hỗn loạn bất an trong thời chiến tranh thì binh hoang mã loạn (binh tàn ngựa loạn), chiến tranh kết thúc thì phóng ngưu quy mã (thả trâu ngựa về nhà) hoặc binh tàng võ khố, mã nhập Hoa Sơn (binh khí cất trong kho, ngựa thả vào Hoa Sơn), đó là lúc thiên hạ thái bình, không còn chiến loạn.

Ngựa là loài vật có nhiều phẩm chất tốt đẹp, thế nên người Trung Quốc hay dùng ngựa để sáng tạo ra những câu thành ngữ phản ánh phẩm chất của con người. Nhóm thành ngữ này mặc dù không nhiều bằng hai loại trên nhưng cũng có số lượng đáng kể. Người bình dân nghèo khó mà có tư chất thanh cao, tốt đẹp là người đoản y thất mã (áo ngắn cưỡi ngựa tốt); người quân tử luôn giữ chữ tín, không thất hứa với ai thì nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy (một lời đã nói ra, cổ xe 4 ngựa cũng không đuổi theo kéo lại được); người có tinh thần sáng suốt, đầu óc thăng hoa là đang có long mã tinh thần (tinh thần rồng ngựa); văn nhân có khí chất văn thơ hào phóng bay bổng giống như thiên mã hành không (ngựa trời đi trên không); biết bỏ ngoài tai những lời khen chê của mọi người thì ai hô ngưu hô mã (gọi trâu cũng được, gọi ngựa cũng được) cũng không đáng bận tâm; vợ chồng sống chung thủy với nhau đến trọn đời cũng giống như nhất mã nhất yên (một ngựa một yên); quan hệ thời niên thiếu thân thiết, trong sáng, hồn nhiên của nam nữ là quan hệ thanh mai trúc mã (mai xanh ngựa trúc)…

Không chỉ phản ánh những phẩm chất tốt đẹp của con người, nhiều thành ngữ liên quan đến ngựa cũng phán ảnh phẩm chất xấu của nhiều hạng người trong xã hội. Người bất luân bất loại không ra gì là thứ người phi lư phi mã (không phải lừa cũng không phải ngựa); những kẻ xấu xa độc ác thì chẳng khác nào hai tên ngưu đầu mã diện (đầu trâu mặt ngựa) giữ ngục dưới âm phủ; những kẻ hữu danh vô thực cũng giống như thổ ngưu mộc mã (trâu đất ngựa gỗ); kẻ hành động tự tung tự tác, thiếu giáo dục là dã mã vô cương (ngựa hoang không có dây cương); bọn thống trị quen lối sống xa hoa, dâm dật, phè phỡn kiểu khuyển mã thanh sắc (nuôi chó, cưỡi ngựa, nghe nhạc, hiếu sắc)…

Ngựa là loài vật thường hay hành cước giang hồ nên trong lòng lúc nào cũng muốn quay trở về chuồng cũ. Người phiêu bạc tha phương cũng giống như ngựa, khi đi thì quyến luyến không muốn rời như mã hành thập bộ cửu hồi đầu (ngựa đi 10 bước quay đầu lại 9 lần), lúc đi rồi thì nỗi nhớ đất xưa canh cánh trong lòng như Đại mã vọng bắc (ngựa đất Đại trông về phương bắc); họ không muốn già chết nơi xứ người, nhưng ngộ nhỡ có vùi thây nơi viễn xứ cũng chỉ muốn được quay đầu về quê cũ như mã thủ dục đông (ngựa chết quay đầu về đông). Ngựa cũng là loài vật biết hàm ơn, tận tụy phục vụ cho người đã cưu mang giúp đỡ mình như khuyển mã chi báo (chó ngựa ra sức báo đáp ân tình cho chủ nhân).

Trong số thành ngữ Trung Quốc liên quan đến ngựa có một số thành ngữ khá thú vị, đó là nhóm thành ngữ gắn liền với các nhân vật trong lịch sử. Nhóm này chiếm số lượng không nhiều, thường là những điển cố điển tích có giá trị phản ánh lịch sử. Chẳng hạn, Bá Nhạc tướng mã (Bá Nhạc xem tướng ngựa) đề cập đến nhân vật Bá Nhạc người thời Xuân Thu, ông giỏi xem tướng ngựa và chọn ngựa tốt cho vua, thành ngữ này chỉ việc phát hiện, giới thiệu, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài; tam Mã đồng tào (ba ngựa ăn cùng một máng) ám chỉ việc 3 cha con Tư Mã Ý soán đoạt ngôi vị của nhà Nguỵ, về sau thành ngữ này ám chỉ âm mưu soán quyền; lão mã thức đồ (ngựa già biết đường) gắn liền với nhân vật Quản Trọng, chính trị gia và nhà tư tưởng lớn thời Xuân Thu, khẳng định người giàu kinh nghiệm sẽ thông thạo cách làm việc; mã lộc dị hình (ngựa hươu hình dáng khác nhau) gắn liền với kế sách của Triệu Cao, thái giám của Tần Thủy Hoàng, ông chỉ hươu bảo là ngựa xem ý kiến triều thần thế nào để định liệu, về sau thành ngữ này ngụ ý không phân biệt được thị phi trắng đen; Ban Mã văn chương (văn chương Ban Cố và Tư Mã Thiên) dùng để chỉ những áng văn chương hay có thể sánh với sáng tác của Ban Cố và Tư Mã Thiên…

Người Trung Quốc trong giao tiếp hằng ngày rất thích dùng thành ngữ, việc sử dụng thành thạo thành ngữ trong lời nói chứng tỏ người đó có vốn hiểu biết rộng và khả năng ngôn ngữ tốt. Quá trình sử dụng diễn ra trong thời gian dài, nên một số thành ngữ ngoài ý nghĩa tự thân ban đầu, còn mang thêm những ý nghĩa mới phát sinh trong thời đại mới. Chẳng hạn, tẩu mã khán hoa (cưỡi ngựa xem hoa) ban đầu chỉ tâm trạng thư thái, thong dong dạo chơi sau khi bận rộn, sau dùng để chỉ sự quan sát tìm hiểu sơ sài, qua loa; vạn mã tề âm (tất cả ngựa đều im lặng) ban đầu dùng để phản ánh nhân dân sợ sệt không dám phát biểu ý kiến của mình với người cầm quyền, sau được dùng để chỉ cục diện chính trị lặng lẽ trầm lắng. Nhiều thành ngữ được kéo ra khỏi lĩnh địa vốn có của nó để phản ánh một lĩnh vực khác có hoàn cảnh tương tự, như trường hợp chiêu binh mãi mã trước đây chỉ dùng trong hoạt động quân sự thì nay chỉ việc xây dựng nhân lực nói chung, đơn thương độc mã chỉ người ra trận một mình thì nay chỉ người làm việc một mình không ai giúp đỡ…

Hệ thống thành ngữ của một dân tộc phản ánh sự phong phú về mặt ngôn ngữ, đồng thời cũng phản ánh bản sắc văn hóa, trình độ tư duy của dân tộc đó. Việc sử dụng thành ngữ trong lời nói hằng ngày một cách thường xuyên cần được khuyến khích vì việc đó sẽ góp phần giữ gìn tiếng nói và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Nguyễn Thanh Phong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: