Quan niệm về con người trong Cao lương đỏ của nhà văn Mạc Ngôn

Áp phích giới thiệu phim Cao lương đỏ của đạo diễn Trương Nghệ Mưu

Áp phích giới thiệu phim Cao lương đỏ của đạo diễn Trương Nghệ Mưu

Nguyễn Thị Kim Khuê – DH11NV

Mạc Ngôn là một nhà văn hiện đại của Trung Quốc. Phong cách sáng tác của Mạc Ngôn mang nhiều nét sáng tạo, độc đáo và đã thể hiện thành công trong những tác phẩm của ông. Nhắc đến Mạc Ngôn là chúng ta lại liên tưởng đến ngay một nhà văn với nhiều tác phẩm gây tranh cãi trong giới phê bình và công chúng yêu thích văn chương. Các tác phẩm làm nên tên tuổi của Mạc Ngôn có thể nói đến như Báu vật cuộc đời, Cao lương đỏ, Đàn hương hình, Tửu quốc…

Mạc Ngôn đến với văn chương khi nền văn học Trung Quốc đang có những bước chuyển biến mang tính thời đại. Một nền văn học hiện đại đang hình thành, Trung Quốc đang dần mở cửa. Với những nhà văn mang trong mình một trọng trách to lớn là vừa định hướng sáng tác cho nền văn học mới, vừa khẳng định phong cách sáng tác của bản thân trên văn đàn. Cũng giống như các nhà văn khác, Mạc Ngôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thử thách trên bước đường khẳng định mình.

Cao lương đỏ là tác phẩm đầu tiên nổi tiếng của Mạc Ngôn. Chính nhà văn Mạc Ngôn đã từng phát biểu: “Cao lương đỏ là một trong chín bộ tiểu thuyết dài của tôi, song nó lại là tác phẩm có sức ảnh hưởng nhất, bởi vì cho đến nay, rất nhiều người hễ nhắc đến Mạc Ngôn là thường gắn liền với tác giả của tiểu thuyết Cao lương đỏ”. Tác phẩm đã cho chúng ta thấy được bút pháp sáng tác độc đáo cùng với cách đặt vấn đề đầy độc đáo của nhà văn Mạc Ngôn. Bên cạnh nội dung phản ánh cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Hoa thì tác phẩm còn cho ta bước đầu thấy được quan niệm về con người của nhà văn.

1./ Con người khát khao hạnh phúc; muốn giải phóng cá nhân khỏi sự kìm hãm của chế độ phong kiến:

Trong suốt một thời gian dài, nền văn học Trung Quốc chìm trong sự hỗn loạn về chính trị kéo theo nhiều biến động về tình hình xã hội trong đó có văn học. Thời kì “cách mạng văn hóa” là thời kì gây nên những khủng hoảng sâu sắc trong nền văn học Trung Quốc. Chính những sự biến động lịch sử đó mà đời sống tinh thần của nhân dân Trung Hoa bị kìm hãm trong thời gian dài. Bất cứ một nền văn hóa nào cũng thế khi quyền sống của con người bị đè nén thì văn học sẽ lên tiếng đòi quyền sống cho cá nhân. Chẳng hạn trong thời kì Trung Cổ, Thiên Chúa giáo đã lợi dụng nhà thờ, kinh thánh để củng cố quyền lực và kìm hãm quyền sống cá nhân trong suốt “1000 năm” mà lịch sử thế giới hay gọi là đêm trường trung cổ. Đến thời kì Phục hưng, văn học trỗi dậy, mạnh dạn khẳng định và phục hồi quyền sống, hạnh phúc của con người. Điều đó được minh chứng qua hàng loạt các thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật được thế giới ca ngợi. Nền văn học hiện đại của Trung Quốc cũng đạt được nhiều thành công, nó đánh dấu thời kì văn học Trung Quốc bước sang một trang mới, thời kì hội nhập văn học thế giới. Văn học lúc này phản ánh khát vọng, ước muốn cá nhân, phơi bày và phê phán sự lạc hậu tồn tại của chế độ phong kiến kìm nén sự phát triển của văn học.

Nhân vật “bà nội tôi” trong “Cao lương đỏ” là một người thiếu nữ xinh đẹp “năm nội tôi tròn 16 tuổi, cô thiếu nữ vừa xuân thì, phát tiết dung nha, thắm màu hoa nguyệt”, thiếu nữ đẹp đó ôm ấp trong mình niềm khát khao cháy bỏng “được ngả vào lòng một chàng trai vạm vỡ đàn ông, giải khuây bao nỗi trầm uất, cô tịch”. Thế nhưng người thiếu nữ này lại buộc phải lên kiệu hoa “về làm vợ thằng con trai độc tự Biển Lang […], con trai độc nhất của Đơn Đình Tú, tay bá hộ giàu lên nhờ nấu rượu cao lương” để trừ nợ. Nhân vật “bà nội tôi” trong suốt tác phẩm đã thể hiện một thái độ chống trả ngày càng quyết liệt với những quy định ràng buộc của chế độ phong kiến. Mặc dù cũng như bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa phải chịu đựng nhiều tập tục phong kiến lâu đời như tục bó chân, nhân vật này có “bàn chân nhỏ xíu tựa búp măng” cùng với cái luật lệ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Nó là một trong những hàng rào ngăn cản không để người phụ nữ có cơ hội tiếp xúc với xã hội mà chỉ loay hoay, lẩn quẩn trong buồng, trong bếp. Nhưng những điều đó không thể làm chết đi những khát khao tình yêu mãnh liệt của cô thiếu nữ 16 tuổi này. Bị ép gả để trừ nợ cho nhà giàu, trên kiệu hoa “không chịu nổi cảnh tù túng giữa bốn bức màn vải đỏ, […] bà tách mảnh rèm kiệu thành khe hở và trộm ngó ra bên ngoài, hai đòn cáng kiệu bóng loáng đè lên bốn tấm vai bạnh của những người phu kiệu, mà nơi họ bốc ra mùi mồ hôi chua loét, mùi mồ hôi đàn ông quyến rũ nội” đây là lần phản kháng đầu tiên của nhân vật “bà nội tôi”. Người thiếu nữ biết khát khao và không hề kìm nén lòng ham muốn đó đã hành động trái với quy định của lễ giáo phong kiến. Theo tập tục trong ngày hôn lễ của người Trung Hoa, cô dâu không được tự vén rèm kiệu hoa khi chưa về đến nhà chồng. Một sự táo bạo mặc dù còn yếu đuối nhưng rất chân thực điều đó “khiến từng vòng, từng vòng sóng xuân lăn tăn, lăn tăn dậy lên nơi lòng bà, rạo rực lạ thường”.

Người thiếu nữ đó cảm thấy uất ức, đau khổ và đã bộc phát ra bằng những giọt nước mắt “nội tôi khóc thút thít không phải vì bốn anh phu kiệu chơi khăm bà, mà vì nghĩ tới người chồng sẽ động phòng hoa chúc đêm nay – Đơn Biển Lang, một bệnh nhân kinh phong”. Niềm khát khao có một cuộc sống mà mình ước muốn đã mãnh liệt hơn khi “bà xé toang màn kiệu, tự do hít thở không khí, tự do ngắm tấm lưng trần lực lưỡng đàn ông của Dư Chiêm Ngao”. Thế nhưng đây là việc làm trái với lễ giáo phong kiến, trái với những phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ. Nhưng Mạc Ngôn đã từng nói rằng “Cao lương đỏ đã phô bày tinh thần giải phóng cá tính, đó là dám nói, dám nghĩ và dám làm”. Nhân vật “bà nội tôi” đã không ngừng hành động phản kháng của mình “hai đêm ở nhà chồng, nội tôi thức trắng với con dao trên tay”, việc làm này như một sự tự vệ của một cô gái yếu đuối trước kẻ mình không yêu nhưng đó cũng có thể là cách nhân vật chọn để kết liễu cuộc sống đầy tù túng, kìm nén đau khổ này. Sau đó khi gặp lại người phu kiệu Dư Chiêm Ngao trong rừng cao lương đỏ dù không biết người bắt mình đi là ai “thậm chí còn quàng tay qua cổ bóng đen để người ấy bồng bà nhẹ nhàng, thoải mái hơn”. Nhân vật “bà nội tôi” dường như cứu vớt khỏi địa ngục quên đi mọi thứ và đã sống trong nỗi hạnh phúc vì được thỏa mãn khát khao hạnh phúc bấy lâu nay “người ấy tháo tấm vải đen che mặt, hiện nguyên hình, nội thầm kêu trời và nước mắt lưng tròng vì sung sướng”. Đến đây, chúng ta thấy rằng quả thực nhân vật đã dám sống với những khát khao của mình mà không hề sợ hãi hay phân vân vì những định luật ràng buộc xung quanh mình.

Trong một số tác phẩm văn học Việt Nam, khi thể hiện khát vọng giải phóng mãnh liệt con người cá nhân, thì các nhà văn thường chọn hình ảnh người phụ nữ để bộc lộ. Cũng giống như nhân vật “bà nội tôi” trong “Cao lương đỏ” là một thiếu nữ xinh đẹp, nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài cũng là một cô gái Mường xinh đẹp, giỏi làm nương và thổi lá hay như thổi sáo. Từ một cô gái xinh đẹp, tràn đầy tuổi xuân lại trở thành một cái xác không hồn trong nhà thống lí Pá Tra, Mị bị A Sử bắt về làm vợ để gạt nợ mà cha mẹ Mị vay của nhà thống lí. Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn Mị, lòng yêu đời, khát khao hạnh phúc và tự do vẫn luôn âm ỉ và khi có dịp nó chỉ chực trào ra thúc đẩy Mị hành động phản kháng thoát khỏi cảnh “lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, cuộc sống chẳng khác nào địa ngục. Hai người phụ nữ này dù hành động phản kháng của họ khác nhau nhưng mục đích cuối cùng vẫn là khát vọng sống hạnh phúc, tự do tự tại. Dù là phản kháng nhưng nếu Mị trốn đi cùng A Phủ để thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra xây dựng một cuộc sống mới thì nhân vật “bà nội tôi” lại không trốn đi cùng người mình yêu là Dư Chiêm Ngao. Điều này cho thấy rằng con người khát khao hạnh phúc, phản kháng, đấu tranh lại những định luật hà khắc bóp nghẹt quyền ham sống của họ thì dù chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi để họ sống thật, thỏa mãn những khao khát đó thì chính tâm hồn họ đã được tự do. Người thiếu nữ này dám thách thức với những định luật phong kiến và đấn lúc này nhân vật đã chiến thắng.

Lời nói trong nội tâm của nhân vật “bà nội tôi” lúc sắp chết đã bộc lộ rõ tâm trạng của người phụ nữ này “Hỡi trời, người nào có dạy con trinh tiết là gì, chính chuyên là gì, thế nào là lương thiện, thế nào là ác tà” câu nói như một lời trách móc, than thở và có lẽ ranh giới của những điều này quá mỏng manh, tất cả mọi quy định luật lệ đều do con người tạo ra rồi ràng buộc nhau, bóp nghẹt mọi suy nghĩ tự do “trinh tiết là gì, chính chuyên là gì” đó chẳng phải là những thứ người phụ nữ trong xã hội xưa buộc phải tuân theo còn nhân vật “bà nội tôi” thì “chỉ biết hành động theo cách nghĩ của con” vì “con yêu hạnh phúc, con yêu sức mạnh, con yêu cái đẹp”. Nhân vật dám sống với những ham muốn của bàn thân mình và ý thức sâu sắc về sự tự do của chính mình “thân này là của con, con có quyền làm chủ nó”. Đó giống như lời thách thức với chính những lễ giáo phong kiến lạc hậu vây hãm người phụ nữ, một sự thách đấu đầy dũng cảm “con không sợ phạm tội, con không sợ trừng phạt, con không sợ rơi xuống mười tám tầng địa ngục của người” để giành chiến thắng cho lòng ham sống, khát khao tự do và hạnh phúc “con không muốn chết, con muốn sống, con muốn nhìn thế giới này…”.

Trong tác phẩm, rừng cao lương đỏ gắn bó mật thiết với từng chặng đời của nhân vật “bà nội tôi”. Màu đỏ của cao lương trong ngày “bà nội tôi” bước lên xe hoa, hay màu đỏ của rừng cao lương chứng kiến giây phút hạnh phúc của bà khi được sống với người mình ao ước và màu đỏ thẫm hòa với màu máu của nhân vật trước giây phút của cái chết. Cuộc đấu tranh của con người khát khao hạnh phúc, ham sống vượt lên trên những ràng buộc không phải dễ dàng và nó như tượng trưng cho sự đấu tranh không tiếc hi sinh của người Trung Quốc khi muốn khẳng định quyền tự do, quyền sống của cá nhân.

2./ Người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống quân Nhật:

Trước khi sáng tác “Cao lương đỏ”, Mạc Ngôn đang là sinh viên chuyên ngành Văn học Học viện Văn nghệ Giải phóng. Ông được tham gia một cuộc thảo luận về đề tài sáng tác văn học và để hưởng ứng cho vấn đề: “Kể từ khi thành lập, Đảng cộng sản Trung Quốc đã trải qua các cuộc chiến tranh trong suốt hai mươi tám năm. Các nhà văn lão thành đã từng trải nghiệm qua chiến tranh, có rất nhiều tư liệu, nhưng họ lại không còn đủ tinh lực để sáng tác nữa, bởi vì năm tháng sung sức nhất của tuổi trẻ đã buộc phải gác lại trong cuộc “Đại cách mạng văn hóa” rồi; nhưng các bạn trẻ có tinh lực lại không có sự từng trải trong chiến tranh, vậy thì họ làm thế nào để thông qua hình thức văn học phản ánh giai đoạn lịch sử chiến tranh một cách tốt hơn?”. Mạc Ngôn đã sáng tác tác phẩm đầu tay là “Cao lương đỏ” dựa trên tinh thần tái hiện lại lịch sử kháng Nhật cứu nước của nhân dân Trung Hoa lúc bấy giờ. Ông đã xây dựng hình ảnh một người anh hùng đó là tư lệnh Dư Chiêm Ngao người tình của nhân vật “bà nội tôi”, đã phục kích quân Nhật ở rừng cao lương đỏ.

Mười bốn năm trước Dư Chiêm Ngao là một trong bốn phu kiệu đưa tân nương về nhà họ Đơn trong ngày hôn lễ. Một chàng phu kiệu cường tráng vạm vỡ đã trở thành người tình của cô dâu và sau này trở thành một anh hùng chống Nhật. Tư lệnh Dư Chiêm Ngao lãnh đạo đoàn quân chống Nhật, ông đã thể hiện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo tài ba, gan dạ “sau này trở thành anh hùng truyền kì danh tiếng khắp trong thiên hạ, đi phục kích đoàn xe ô tô Nhật Bản trên đoạn đường Giao Bình”. Điều này thể hiện khi nhân vật “cha tôi” chạy đến chỗ tư lệnh Dư Chiêm Ngao báo tin là người tình của ông (nhân vật “bà nội tôi”) sắp chết và muốn gặp mặt ông. Dư tư lệnh đã nói “Con ngoan của ta, hãy cùng cha diệt nốt mấy thằng chó đẻ này đã”. Phẩm chất anh hùng, bản lĩnh người lãnh đạo thể hiện qua câu nói này của Dư tư lệnh. Người tình của ông đang trong cơn hấp hối thế mà ông không vì tình riêng chạy đến chỗ nhân vật “bà nội tôi”, điều này khiến chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi đọc đến đoạn ấy, mà ông luôn trong tư thế chống trả với kẻ thù và còn bảo nhân vật “cha tôi” cùng diệt giặc. Dư tư lệnh không quên đi nhiệm vụ của vị chủ tướng nên đến phút cuối cùng của người phụ nữ mình yêu, ông đã không thấy được mặt bà.

Một chi tiết làm chúng ta thấy được bản chất anh hùng tiềm ẩn trong con người Dư tư lệnh lúc còn trẻ “ông đưa bà ra đến bờ đường và thoắt một cái đã biến mất giữa muôn trùng biển máu của cao lương đỏ”. Dư tư lệnh là người “bất thần song phi đá lăn tay thổ phỉ” khi hắn muốn làm nhục cô dâu và cũng là bóng đen bất thần cướp cô dâu trên đường trở về nhà. Sau ba ngày ở cùng nhân vật “bà nội tôi” ông đã ra đi. Hành động ra đi của anh phu kiệu Dư Chiêm Ngao giống như những người anh hùng trong văn học trung đại dứt áo ra đi làm việc lớn không hề lưu luyến chuyện tình cảm thường tình của trai gái. Đó như hình ảnh anh hùng Từ Hải trong truyện Kiều để lại Thúy Kiều ra đi làm việc lớn:

“Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong”

Dư tư lệnh “biến mất giữa muôn trùng máu của cao lương đỏ” dường như đó là một dự báo về con đường đầy gian khổ nhiều lúc nhuốm màu tang thương của một anh hùng kháng Nhật.

Trong “Cao lương đỏ” nhân vật “cha tôi” con ruột của tư lệnh Dư Chiêm Ngao “kết tinh của cuộc tình cuồng nhiệt, thống khổ đó”. Nhân vật này mang trong người dòng máu của một người cha anh hùng nên mười bốn tuổi đã có mặt trong đoàn quân đánh Nhật ở đoạn đường Giao Bình “cha tôi như một liên lạc viên dẫn đoàn quân luồn giữa ruộng cao lương, tay ông luôn nắm chặt khẩu súng lục to quá cỡ đeo lủng lẳng bên hông”. Nhân vật đã cùng Dư tư lệnh tiêu diệt kẻ thù cho đến lúc “trận mạc tan khói súng” trong khi mẹ nhân vật “cha tôi” đang hấp hối nằm ở ruộng cao lương đỏ.

Một hình tượng anh hùng nữa mà Mạc Ngôn xây dựng đó là nhân vật “bà nội tôi”. Nhân vật suốt đời sống theo cách suy nghĩ của mình, âm thầm chống lại những đinh kiến ràng buộc con người, để sống và làm theo những khát khao của bản thân. Và trong cuộc kháng chiến chống quân Nhật bà trở thành hậu phương vững chắc cho đoàn nghĩa quân. Bà cống hiến sức người cho nghĩa quân đó là cho con của mình xung vào đoàn quân đánh giặc, trước khi ra trận bà đã dặn dò nhân vật “cha tôi”: “nội liền đứng nghiêm và dặn dò cha tôi: “Đậu Quan, hãy nghe lời cha nuôi nghe con”. Khi được nghe con nói “Dư tư lệnh dặn mẹ gánh bánh ra cho ông và binh lính” thì bà rất hăng hái “nội “nhận lệnh” và liền hô hào con cái nhào bột làm bánh. Đúng giờ hẹn bà vận chiếc áo màu đỏ thẫm, trên vai kĩu kịt một gánh những cái bánh còn nóng hổi, thoăn thoắt hướng về cầu đá, nơi tư lệnh đang chờ”. Bà hi sinh trên bờ ruộng cao lương đỏ vì trúng đạn của quân Nhật trong khi đang gánh bánh khao quân “gánh bánh khao quân đã hằn lên vai nội một vệt bầm khá sâu, màu tím đỏ, ấy là biểu tượng cho hành vi anh dũng kháng Nhật mà nội mang theo khi từ giã cõi đời”.

Mạc Ngôn đã dành nhiều tình cảm yêu mến và ca ngợi đối với những người anh hùng luôn vì nghĩa lớn giết giặc cứu nước. Đó là những người cha, người mẹ và người con của đất nước Trung Quốc. Họ đại diện cho những người anh hùng Trung Quốc hi sinh vì đất nước trong buổi loạn lạc. Mạc Ngôn đã từng xác nhận “Cội nguồn cuốn tiểu thuyết Cao lương đỏ là từ câu chuyện có thật, chuyện xảy ra ở một thôn ngay cạnh thôn làng tôi sinh sống. Trước hết là quân du kích đánh xong một trận phục kích đầu cầu trên sông Giao Thái, tiêu diệt một phân đội quân Nhật, đốt cháy một chiếc xe quân sự của chúng, đây là chiến thắng tuyệt vời lúc bấy giờ”. Mạc Ngôn đã thành công khi xây dựng nên hình tượng anh hùng Dư Chiêm Ngao trong trận đánh Nhật ở rừng cao lương đỏ.

3./ Người tình nhiệt thành, nồng nàn và lãng mạn:

Trong “Cao lương đỏ” Mạc Ngôn đã vẽ nên một mối tình đẹp đầy lãng mạn giữa nhân vật “bà nội tôi” và tư lệnh Dư Chiêm Ngao gắn liền với biển rừng cao lương đỏ. Đây là một mối tình trái với lễ giáo phong kiến, nhưng nó đã đem đến hương vị mới mẻ cho tác phẩm. Dư tư lệnh khi còn làm phu kiệu đưa cô dâu về nhà họ Đơn, một chàng phu kiệu cường tráng vạm vỡ đã động lòng trắc ẩn khi nghe tiếng khóc của nàng tân nương ngồi trong kiệu“mơ hồ thấy cả một vầng sáng ngày mai” để rồi họ đến với nhau, hiến dâng cho nhau với một lòng nhiệt thành, say đắm.

Nhân vật “bà nội tôi” phản kháng khi bị gả cho người chồng bị bệnh động kinh, bà có một cuộc tình đầy “cuồng nhiệt” nhưng cũng đầy “thống khổ” với Dư tư lệnh. Bà yêu Dư tư lệnh như không ngăn cản chí “tang bồng” của Dư tư lệnh để ông ra đi thực hiện hoài bão của mình. Sau khi Dư tư lệnh trở về bà đã trở thành một thiếu phủ trẻ nuôi đứa con của người tình “kết tinh của cuộc tình” của họ. Nhân vật yêu một cách mãnh liệt, nồng nàn nhưng không mù quáng, với bà cuộc tình này là niềm khát khao đã được thỏa nguyện và chấp nhận sống trong tâm tưởng với mối tình đó. Mạc Ngôn từng nói: “Nhân vật phụ nữ trong tiểu thuyết của tôi có sự khác biệt so với các chị em phụ nữ mà chúng ta thường thấy ngày nay, tuy rằng đức tính cần cù chịu thương chịu khó đều như nhau, song sự lãng mạn của họ lại rất độc đáo”. Nhân vật “bà nội tôi” trong tác phẩm không phải có một cuộc tình đầy sóng gió với người mình yêu, bà gặp và yêu Dư tư lệnh chỉ vẻn vẹn 3 ngày, cuộc tình này hạnh phúc kéo dài chỉ ba ngày trong rừng cao lương đỏ. Nhưng người phụ nữ này lại cảm thấy hạnh phúc với thứ hạnh phúc ngắn ngủi đó.

Trong tác phẩm không chỉ cho ta thấy Dư tư lệnh là một chủ tướng trận chiến với quân Nhật mà ông còn là một con người với trái tim đầy ấp yêu thương, nhiệt tình. Dư tư lệnh cướp cô dâu của nhà họ Đơn khi đang trên đường trở về nhà rồi ra đi thực hiện chí anh hùng của bản thân. Ông trở về gặp lại người tình cũ và nhận lại người con ruột của mình. Giọt nước mắt của Dư tư lệnh ở cuối tác phẩm khi nhân vật “cha tôi” đưa cho ông chiếc bánh mà trước khi chết nhân vật “bà nội tôi” muốn khao quân “Tư lệnh Dư Chiêm Ngao cắn từng miếng bánh, hòa với dòng lệ tuôn trào, lần đầu tiên người anh hùng đã không cầm được nước mắt”. Một chi tiết khiến chúng ta xúc động, giọt nước mắt thương tiếc và đau khổ của một vị anh hùng trước sự ra đi của người ma ông yêu thương.

Tác phẩm Cao lương đỏ gây dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn đọc vì hình ảnh rừng cao lương đỏ thẫm chứng kiến một chuyện tình nồng nàn, lãng mạn và cũng minh chứng hùng hồn cho chiến công của nhân dân Trung Hoa trong cuộc kháng chiến chống quân Nhật. Tác phẩm là cuộc đời của một người phụ nữ dám sống theo suy nghĩ cảu bản thân, sống với những khát khao mãnh liệt của tâm hồn để rồi cuối cùng người phụ nữ đó đã chiến thắng. Tác phẩm đã thể hiện những quan điểm về con người trong xã hội Trung Hoa của nhà văn Mạc Ngôn “bộ tiểu thuyết này đã diễn tả tâm trạng chung của người Trung Quốc lúc bấy giờ, quyền tự do của con người bị ức chế sau một thời gian dài, Cao lương đỏ đã phô bày tinh thần giải phóng cá tính, đó là dám nói, dám nghĩ và dám làm”. Một sự trỗi dậy mạnh mẽ để thách đấu với những định kiến xã hội lạc hậu kìm hãm quyền sống cá nhân.

Nguyễn Thị Kim Khuê – ĐH13NV

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: