Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Mạc Ngôn

39_Bau-vat-cua-doiBáu vật của đời – Mạc Ngôn

Trương Thị Thu Trang – 11NV

Trong nền văn học Trung Hoa thời kì hiện đại, Mạc Ngôn như một cái tên thật sự gây ấn tượng đối với bạn đọc. Ông đã mang đến cho văn học một làn gió mới, một cái nhìn mới đầy tính nhân văn. Ông là người có biệt tài trong việc nắm bắt cảm giác và hơn hết thế giới cảm giác trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mang sắc thái chủ quan mãnh liệt. Nhờ tính chủ quan mà Mạc Ngôn đã tạo nên những hiện trạng khác lạ đáng ghi nhận cho nền văn học. Nhà văn Gorki đã từng nhận định: “Văn học là nhân học” – con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Một nhà văn không thể miêu tả hiện thực nếu không thông qua hình tượng nghệ thuật và không có quan niệm nghệ thuật của mình về con người. Vì thế con người cũng là vấn đề quan tâm hàng đầu của tác giả Mạc Ngôn. Trong mỗi nhân vật, nhà văn đã gửi gắm quan niệm nghệ thuật của mình về con người, thông qua đó là việc gửi gắm những thông điệp, triết lí mang đậm tính nhân văn.

“Báu vật của đời” là một trong số những tác phẩm thể hiện rõ nhất quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả. Vậy con người trong tác phẩm thuộc dạng con người gì? Tìm hiểu và lí giải nhân vật trung tâm ta sẽ trả lời được câu hỏi vừa nêu.

Trước hết, ta cần nhắc lại khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người. Theo giáo sư Trần Đình Sử trong “dẫn luận thi pháp học” thì “Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ và miêu tả con người trong nghệ thuật”. Nghĩa là việc cắt nghĩa, lí giải con người trên cơ sở hấp thu thế giới quan nhất định của thời đại, tạo ra quan niệm của mình về thế giới và con người. Vậy câu hỏi đặt ra ở đây đó chính là, thời đại, giai đoạn mà tác giả sống và sáng tác nên hai tác phẩm này là thời đại như thế nào?         Trung Quốc là một đất nước rộng lớn và có bề dày lịch sử hàng nghìn năm. Người ta biết đến đất nước này không chỉ qua những công trình vĩ đại mà còn qua những tập tục lạc hậu, lỗi thời của chế độ phong kiến. Cũng như Việt Nam, vấn đề trọng nam khinh nữ như một ám ảnh của thời đại về lịch sử. Người phụ nữ luôn là nạn nhân của một chế độ hà khắc. Đã có biết bao số phận con người mà điển hình ở đây là phụ nữ bị chôn vùi bởi máu và nước mắt, bởi sự chà đạp, bất công. Đó như một bi kịch “tất yếu” vốn đã được đặt ra và an bày dành riêng cho người phụ nữ. Như vậy, nhắc đến người phụ nữ và nhắc đến những nhân vật là phụ nữ, chính là nói đến con người bi kịch. Và con người được thể hiện đậm nét nhất trong tác phẩm “Báu vật của đời” cốt lõi nhất chính là con người bi kịch. Vậy thế nào là bi kịch? Bi kịch có thể hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là những nỗi khổ đau thuộc phạm trù tinh thần không sao thoát ra được của con người. Bi kịch có nhiều yếu tố tạo thành, có thể do chính bản thân con người tạo nên hoặc do sự chi phối của môi trường, xã hội và thời đại…

Trong tác phẩm này có rất nhiều nhân vật và hầu hết mỗi nhân vật đều có những bi kịch riêng, ở đây chỉ xét đến nhân vật trung tâm là Lỗ Toàn Nhi – người phụ nữ mang số phận đau thương.

Trong “Báu vật của đời”, lần đầu tiên nhân vật Lỗ Toàn Nhi (Lỗ thị) xuất hiện với cái nền của một xã hội bất ổn về chính trị. Cũng chính sự bất ổn như thế tạo nên một bi kịch lớn và mang tính dự báo cho những bi kịch sau này của Lỗ Toàn Nhi. Gia đình là một nhân tố quan trọng và chiếm phần quyết định không nhỏ đến sự tồn tại hay vận mệnh của một con người. Nhân vật Lỗ thị xuất hiện trong bối cảnh gia đình hay rộng hơn là bối cảnh xã hội không mấy gì thuận lợi. Đó là sự kiện quân Đức với sự tiếp ứng của triều đình Mãn Thanh đã gây ra vụ thảm sát hàng trăm người trong số đó có cha mẹ của cô bé Lỗ Toàn Nhi. Đó thực chất là một bi kịch lớn – bi kịch mồ côi của một cô bé chưa đầy năm tuổi.

Cuộc sống con người luôn nằm một cái vòng lẩn quẩn của hai yếu tố: may – rủi. Tưởng rằng Lỗ Toàn Nhi sau khi được cô chú Vu Bàn Vả đem về nuôi dưỡng sẽ nhận được sự bù đắp cho một tâm hồn đang thiếu thốn tình cảm gia đình, nhưng ở đây Lỗ Toàn Nhi lại bước qua một bi kịch thứ hai – bi kịch làm thân con gái. Nghe qua tưởng chừng như vô lý, nhưng với một đất nước “sặc mùi” phong kiến thì bi kịch đó tồn tại với lẽ “đương nhiên”. Cần phải hiểu bi kịch này không chỉ riêng Lỗ Toàn Nhi mà là bi kịch chung cho những “kiếp người” mang thân là phụ nữ. Khi lên năm tuổi, Toàn Nhi phải chịu đựng nỗi đau đớn về thể xác với tục bó chân của người Trung Quốc. Họ quan niệm rằng “phụ nữ nếu không bó chân sẽ thành chân cuốc, không ai thèm lấy”. Chính vì cái quan niệm sai lầm đó đã dẫn đến biết bao hậu quả bi thương nếu không là dị tật thì cũng là đau đớn khôn cùng: “Bà dùng nẹp tre cố định chân mẹ lại, khiến mẹ gào lên như lợn bị chọc tiết, phải kẹp chặt vì tạo hình cho bàn chân nhỏ là rất quan trọng. Sau đó quấn thật chặt hết lớp này đến lớp khác những đoạn vải đã tẩm nước muối phơi khô, rồi lấy dùi gỗ vỗ một lượt. Mẹ kể rằng, buốt đến tận óc…”.

Tổn thương về tâm hồn, đau đớn về thể xác, bi kịch cô bé Lỗ Toàn Nhi chưa là dừng lại mà còn trượt dài đến khi cô trở thành một thiếu nữ mười bảy tuổi. Toàn Nhi được gả vào nhà Thượng Quan và đây là lúc bắt đầu một giai đoạn mới – giai đoạn đau khổ, tủi nhục trong thân phận làm dâu, làm vợ. Chồng của Lỗ Toàn Nhi là Thượng Quan Thọ Hỷ – một người đàn ông bất tài, vũ phu và “bất lực” trong khả năng truyền giống. Sống trong một thời đại khắc khe của chế độ phong kiến, việc có con để nối dõi tông đường như là một đòi hỏi “cấp bách” mà bất cứ một người vợ, một nàng dâu nào cũng phải thực hiện. Việc trông chờ có cháu của người mẹ chồng cũng giống như trời hạn trông mưa, nhưng mưa thì chẳng thấy chỉ thấy hạn càng thêm hạn. Và thế là mọi sự hành hạ, oán trách đều bị đổ dồn lên người Toàn Nhi: “Chỉ biết ăn mà không biết đẻ, nuôi cái đồ vô tích sự ấy làm gì!”, “Nhà Thượng Quan tiền oan nghiệp chướng làm sao cưới phải quả mít đựt, tuyệt tự đến nơi rồi”.

Khi con người ta bị dồn tới bước đường cùng thì họ tất yếu sẽ có những quyết định, và quyết định của Toàn Nhi lúc này là hi sinh bản thân mình, xin “giống dạo” của những người đàn ông xa lạ để thực hiện nhiệm vụ làm vợ, làm dâu. Cuối cùng, kết quả của việc hi sinh đó tưởng chừng là tốt đẹp, tưởng chừng sẽ giải thoát được những định kiến của gia đình, xã hội nhưng thực chất lại đưa người phụ nữ Toàn Nhi vào một trạng thái áp lực nặng nề hơn. Bởi lẽ, như một sự không may mắn, trong bảy lần xin giống dạo thì đúng bảy lần những đứa trẻ chào đời đều là gái. “Từ khi sinh đứa con gái thứ tư, bầu trời nhà Thượng Quan lúc nào cũng mây đen vần vũ, mặt bà nội như lưỡi hái vừa lấy ra khỏi nước tôi, sẵn sàng đâm chém ai đó bất cứ lúc nào”. Thậm chí, giá trị con người lúc này con thua cả một con vật. Khi con lừa đau đẻ còn “có giá” để được mọi người trong gia đình chồng Toàn Nhi quan tâm, chăm sóc. Ngược lại, vừa mới sinh con xong, Toàn Nhi phải phơi mình giữa cái nắng trưa để lật rơm trong khi “bụng vẫn đau quặn, dạ con vừa trút được gánh nặng co bóp dữ và dội, mồ hôi lạnh chảy cùng mình, từng dòng âm ấm từ cửa mình chảy ra ướt đẫm hai đùi”.

Qua sự những khổ đau mà Lỗ Toàn Nhi đã chịu, ta thấy rõ ràng xã hội phong kiến là một xã hội tàn bạo, đầy bất công, khinh rẻ đối với người phụ nữ. Đã là con người thì ai cũng có ước mơ, nhưng chỉ với ước mơ có một gia đình hạnh phúc, người phụ nữ phải trả một cái giá quá đắt, thậm chí phải đem tiết hạnh, đem tấm thân của mình đánh đổi sự bình yên trong cuộc sống. Và điều không khó để bạn đọc có thể nhận ra rằng đây chính là bi kịch lớn nhất của người phụ nữ trong thời đại lúc bấy giờ – bi kịch làm dâu, làm vợ của xã hội phong kiến. Bi kịch này đưa ra một chân lí vô cùng nghiệt ngã: “Là đàn bà, không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được. Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khoát phải sinh con trai”. Nhưng ai có thể quyết định được đứa con mà họ mang trong người là trai hoặc gái ngoài số phận?

Chính vì không thể quyết định được những đứa con mình là trai hay gái và chính vì sự khinh khi, tàn nhẫn ngày càng tăng cấp đã dẫn đến bi kịch tiếp theo của người phụ nữ bất hạnh Lỗ Toàn Nhi – đó chính là bi kịch biến chất về tâm hồn của một người phụ nữ vốn hiền lành, nhẫn nhục. Nếu trước đó việc xin giống dạo là cách để người phụ nữ này hi vọng về một sự bình yên trong gia đình, thì giờ đây động cơ xin giống dạo của Lỗ Toàn Nhi chính là để trả thù. Lỗ Toàn Nhi bắt đầu xem việc ăn nằm với những người đàn ông khác là cách trả thù tốt nhất: “Toàn Nhi này có đẻ thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải là giống nhà Thượng Quan”. Và kết quả của việc ăn nằm bằng động cơ trả thù đó là sinh ra một cặp song sinh một trai, một gái – Kim Đồng và Ngọc Nữ.

Mang trong mình niềm tin vào cuộc sống, đi tìm sự công bằng cho thân phận người phụ nữ, mặc dù đâu đó sâu tận trong tâm hồn vẫn ẩn chứa những vết thương do xã hội gây ra, nhưng ở người phụ nữ Lỗ Toàn Nhi hơn hết vẫn là một con người đầy nghị lực. Có thể nói, Lỗ Toàn Nhi là một người mẹ vĩ đại. Bởi lẽ, từ khi được tạo hóa ban cho bà thiên chức làm mẹ, người phụ nữ này đã sống hết mình với thiên chức này bằng tất cả tình yêu và sự hi sinh. Chính sự hi sinh vô bờ bến đó, là “điều kiện tốt” dẫn Lỗ Toàn Nhi đến với một bi kịch tiếp theo – bi kịch về sự hi sinh của một người mẹ. Vì yêu thương con, trong bất cứ hoàn cảnh nào bà cũng dang tay che chở, bao bọc cho đàn con nhỏ của mình – đó như chỗ dựa tinh thần duy nhất để bà có thể tiếp tục sống, vun đắp tương lai cho các con mình. Thậm chí, phải đứt ruột đưa đàn con đi bán, nhưng bán con không phải mục đích mang về lợi ích cho bản thân, mà chỉ cần “xin đối xử tốt với cháu”, bỡi lẽ bà không lấy tiền. Thêm nữa, vì cái no của con cháu mình, bà đã trộm đậu trong hợp tác xã, rồi nuốt vào bụng, đến nhà thì nôn ra, lấy đó làm lương thực nuôi con cháu: “lần đầu tiên muốn nôn thì phải lấy đũa ngoáy cổ họng, cảnh đó thì … bây giờ quen rồi, cúi xuống là nôn ra. Bụng mẹ bây giờ chẳng khác cái bao lương thực”. Có thể nói, hành động như thế chỉ có người mẹ mới có thể thực hiện được, bởi trên thế gian này, lòng mẹ là bao la nhất. Mọi người có thể bỏ mặc chúng ta, nhưng mẹ thì không. Mẹ luôn là chốn bình yên tốt nhất và là một bờ vai vững chắc nhất để những ai là con có thể tựa vào. Mẹ luôn cho chúng ta cảm giác an toàn mà bất cứ người nào cũng không thể thay thế hay thực hiện chức năng đó được.

Qua nhân vật Lỗ Toàn Nhi và qua những bi kịch trong cuộc đời của nhân vật này nhiều bạn đọc thắc mắc rằng phải chăng nhà văn Mạc Ngôn đã quá “tuyệt tình” với chính nhân vật của mình. Bởi lẽ từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, số phận của Lỗ thị luôn nhuốm màu bi kịch, phải chịu đựng từ những khổ đau này đến những sự khinh rẻ khác. Một con người bất hạnh như thế đáng lẽ ra đến cuối đời phải được bù đắp, hưởng hạnh phúc. Thế nhưng cái kết của nhân vật này là một cái chết ở cuối đời không thấy gì là “mãn nguyện”, cũng không thể gọi là “ngậm cười nơi chín suối”.

Thật ra nếu nhìn nhận theo một chiều hướng khác, ta thấy việc khắc họa nên nhân vật Lỗ Toàn Nhi và việc gắn nhân vật này với hàng loạt những bi kịch là một ý đồ nghệ thuật của tác giả. Bởi lẽ, Lỗ thị là một nhân chứng và cũng là một bản cáo trạng chính xác nhất, tố cáo sự cay nghiệt của xã hội phong kiến đương thời một cách đầy đủ nhất. Xã hội mà đã bóp nghẹt mọi ước mơ của con người mà điển hình hàng đầu chính là người phụ nữ. Đã đến lúc mọi sự thật về quá khứ tối tăm phải được phô bày và chính mỗi con người cần phải nhìn nhận lại cách sống của bản thân mình.

Đưa ra những bi kịch của Lỗ Toàn Nhi – từ bi kịch đau đớn trong tục bó chân, bi kịch của một người phụ nữ “sống kiếp” làm dâu làm vợ, với sự hi sinh xác thân đi tìm giống dạo, cùng những lời mắng nhiếc, khinh khi từ phía mẹ chồng, đồng nghĩa với việc Mạc Ngôn đang lên tiếng bênh vực cho người phụ nữ. Nếu xã hội không có chế độ phong kiến, không có những người chồng vũ phu và những bà mẹ chồng “to mồm lớn miệng”, cưới con dâu về chỉ mong sinh con trai nói dõi tông đường thì liệu đã có bi kịch Lỗ Toàn Nhi? Hình ảnh này giúp ta liên tưởng đến nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du. Dù bi kịch Kiều không hoàn toàn giống với bi kịch Lỗ thị, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do chế độ phong kiến, đẩy Kiều đến mười lâm năm lưu lạc, chịu nhiều tủi nhục trong chốn trần đời.

Mặt khác, nếu xem xét kĩ hơn, ta thấy nhà văn Mạc Ngôn đã không quá tuyệt tình với Lỗ thị. Bởi lẽ trong tác phẩm, nhân vật này chưa hẳn gọi là “cam chịu”. Bằng chứng là chi tiết Lỗ thị muốn trả thù nhà Thượng Quan và xem việc ăn nằm với những người đàn ông khác là cách tốt nhất. Có thể suy nghĩ và hành động đó chưa hẳn là đúng đối với một người phụ nữ, nhưng đứng trên phương diện phản kháng lại chế độ phong kiến thì hoàn toàn hợp lí. Đó như một nhát búa đầu tiên đập vào nền móng vốn khập khiễng của những tập tục lạc hậu, là sự đối kháng lại chế độ phong kiến hà khắc. Qua sự phản kháng vừa nêu của Lỗ thị, ta còn thấy thêm con người này không hẳn chỉ là con người bi kịch, mà còn là con người biết ước mơ, khao khát sống và hành động. Đây cũng là một thông điệp, một lời nhắn nhủ của tác giả đối với mọi phụ nữ không chỉ riêng Trung Quốc mà còn là cả thế giới – phải mạnh mẽ đấu tranh cho quyền lợi vốn có của mình.

Ngay từ khi tác phẩm mới ra mắt bạn đọc, nó đã trải qua không ít những sống gió. Thậm chí bản thân tác giả cũng bị yêu cầu chỉnh sửa lại nguyên tác, có lúc cấm không cho xuất bản, lưu hành tác phẩm. Bởi lẽ tác phẩm vạch trần “quá thật” những hạn chế của một số vấn đề liên quan về chính trị, mà lúc bấy giờ việc thừa nhận những hạn chế đó là chuyện “khó tưởng”. Hơn nữa, đứng trước một làn gió lạ trong văn học, người ta không khỏi ngập ngừng và tất yếu cần phải có thời gian để khẳng định giá trị to lớn của một tác phẩm.

Tóm lại, bằng quan niệm nghệ thuật về con người mà điển hình ở đây là con người bi kịch, Lỗ Toàn Nhi là một sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn Mạc Ngôn. Thông qua số phận bi ai của nhân vật này, tác giả đã tái hiện lại bộ mặt tàn bạo của xã hội phong kiến Trung Quốc đương thời. Đồng thời lên án, tố cáo những chế độ hà khắc đối với người phụ nữ, mở ra cho bạn đọc một chân trời mới, một cái nhìn mới về vấn đề nữ quyền trong xã hội ngày nay. Với những giá trị to lớn ấy, “Báu vật của đời” xứng đáng nhận được giải Nobel về văn học năm 2012.

Trương Thị Thu Trang – 11NV

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: