Vị trí của Nguyễn Chánh Sắt trong nền văn học quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX

indexNguyễn Chánh Sắt

Ths. Nguyễn Thanh Phong

ABSTRACT

Nguyễn Chánh Sắt is one of translators, writers, journalists belonging to the first generation of the literature using national language in the south of Vietnam in general, and An Giang province in particular. Thanks to actively acquiring knowledge of Han Studies and Western Studies, he has great contributions to the translation of Chinese novels, the newspapers using national language and the novels using national language in the south of Vietnam in the early years of the 20th century. These contributions has been highly appreciated by literary circles and later literary studies. This paper focused on making clearly Nguyễn Chánh Sắt’s contributions to the literature using national language in the south of Vietnam in three aspects above.

Keywords: Nguyễn Chánh Sắt, the literature using national language in the south of Vietnam, translator of Chinese novels, writer, journalist

Title: The position of Nguyễn Chánh Sắt in the literature using national language of the south of Vietnam in the early years of the 20th century

 TÓM TẮT

 Nguyễn Chánh Sắt là một trong những dịch giả, nhà văn, nhà báo thuộc thế hệ đầu tiên của nền văn học quốc ngữ ở Nam bộ nói chung và ở An Giang nói riêng. Nhờ tích cực tiếp thu tri thức Hán học và Tây học, ông đã có nhiều đóng góp cho hoạt động dịch thuật truyện Tàu, báo chí quốc ngữ và tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỉ XX. Những đóng góp đó được văn đàn đương thời và giới nghiên cứu văn học sau này đánh giá cao. Bài viết này tập trung làm rõ những đóng góp của Nguyễn Chánh Sắt cho nền văn học quốc ngữ Nam Bộ ở ba phương diện nói trên.

 Từ khóa: Nguyễn Chánh Sắt, Văn học quốc ngữ Nam Bộ, dịch giả truyện Tàu, nhà văn, nhà báo.

 1. Dẫn nhập

 Nam Bộ là vùng đất được mở mang sau cùng so với các vùng miền khác trên lãnh thổ Việt Nam. Sau nhiều thế kỉ dũng cảm kiên cường đối đầu với gian nan hiểm họa trong công cuộc khai phá, các nhóm lưu dân người Kinh, Hoa, Chăm, Khmer đã sống cộng cư và cùng sẻ chia cho nhau nhiều giá trị văn hóa tinh thần. Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đoàn quân xâm thực Pháp đã mang nhiều giá trị văn hóa phương Tây sang gieo rải lên mảnh đất vốn còn đang nằm dưới sự thống trị của hệ tư tưởng Nho giáo vừa mang màu sắc Việt, vừa mang màu sắc dung hòa của các cộng đồng người khác nhau, trong đó có người Hoa từ Trung Quốc di cư sang.

Với những thế mạnh của mình, văn hóa phương Tây ngày càng chiếm ưu thế, trong khi vai trò của Nho học ngày càng nhạt nhòa trong mặt bằng văn hóa chung của xã hội. Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận trình độ Hán học vốn rất uyên thâm của một số trí thức bản địa thời bấy giờ. Nói cách khác, bên cạnh kiến thức Nho học vốn được dư luận xã hội xưa nay trọng vọng, giới trí thức còn quan tâm học hỏi tiếng Pháp và tiếp nhận những yếu tố của nền văn hóa Pháp được đưa sang. Sản xuất công nghiệp ngày càng tăng, đô thị dần dần mọc lên, xã hội hình thành thêm các giai cấp, quyền lực và tiền bạc càng giữ vai trò quan trọng, nhiều giá trị tư tưởng, đạo đức, vì thế bị thay đổi… Bối cảnh xã hội đó làm cho đời sống văn hóa tinh thần biến đổi to lớn, vừa phong phú cũng vừa phức tạp. Nhiều nhân vật thông tuệ cổ kim đông tây, nhờ đứng vững trên nền tảng văn hóa dân tộc để tiếp thu nhiều giá trị văn hóa Pháp – Trung, trở thành người có nhiều đóng góp cho đời sống văn hóa – tinh thần, văn học – thẩm mĩ của người Nam Bộ đầu thế kỉ XX. Một trong những cánh chim đầu đàn mà đa số người An Giang đều biết tới là Nguyễn Chánh Sắt.

Đa phần các tài liệu đều thống nhất rằng, Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947) tự là Bá Nghiêm, hiệu là Tân Châu, bút hiệu là Du Nhiên Tử, Vĩnh An Hà, quê làng Long Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang). Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, thuở nhỏ làm con nuôi ông Nguyễn Văn Bửu, một gia đình khá giả, nên được học chữ Hán với Tú tài Trần Hữu Thường, sau học trường tiểu học Pháp – Việt ở Châu Đốc. Không chỉ là một nhà báo kỳ cựu, một dịch giả nổi tiếng, ông còn là một nhà tiểu thuyết của Nam Bộ đầu thế kỉ XX.[1] Trong suốt cuộc đời mình, Nguyễn Chánh Sắt đã trải qua nhiều nghề khác nhau như nhà văn, nhà báo, dịch giả, thông ngôn, làm ruộng, quản lý công ty, vận động cải cách… Ở vị trí nào ông cũng có những thành tựu nhất định, đáng chú ý nhất là những nghề gắn liền với việc cầm bút.

Nguyễn Chánh Sắt sinh ra và lớn lên trong thời kì nền văn học quốc ngữ Việt Nam nói chung, nền văn học quốc ngữ Nam Bộ nói riêng đặt những bước chân khởi đầu. Để có được sự phát triển ồ ạt của nền văn học quốc ngữ suốt hàng mấy chục năm, sự đóng góp của báo chí ở Nam Bộ là rất lớn và đáng để chúng ta quan tâm. Bên cạnh đó, hoạt động dịch thuật truyện Tàu, truyện Tây để đăng trên nhật trình cũng được các nhà báo chú trọng, xem đó là món ăn tinh thần không thể thiếu của cư dân đô thị và một phần nông thôn ở Nam Bộ.

Đánh giá về các nhân vật lịch sử đầu thế kỉ XX, một thời gian dài chúng ta chưa nhìn nhận xứng đáng công lao của những người vì mưu sinh phải phục vụ dưới chính quyền thực dân Pháp. Dĩ nhiên, không thể “quơ đũa cả nắm” rằng ai phục vụ cho quan thầy Tây đều không yêu nước, đều quay lưng lại với các phong trào yêu nước tiến bộ. Mà chúng ta cần phải thấy được những đóng góp tích cực và những nỗ lực cải cách của họ cho đời sống xã hội đương thời mà những người khác không làm được. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn tập trung làm rõ những đóng góp của Nguyễn Chánh Sắt cho nền văn học quốc ngữ Nam Bộ với vai trò là dịch giả, nhà báo, nhà văn mà ở vị trí nào, ông cũng đáng để chúng ta ca ngợi.

 2. Nguyễn Chánh Sắt – Một trong những dịch giả truyện Tàu kì cựu ở Nam Bộ

 Nền văn học Việt Nam có mối quan hệ truyền thống mật thiết với nền văn học Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử. Trong thời phong kiến, sự giao lưu văn hóa, văn học giữa hai nước, mặc dù vẫn có lúc bị gián đoạn bởi nhiều nguyên nhân này hay khác, nhưng nhìn chung, đó vẫn là sự giao lưu xuyên suốt, mật thiết và đa diện. Trong thời gian dài hàng mấy ngàn năm như vậy, cửa ngỏ mở ra thế giới của Việt Nam hầu như chỉ là con đường lưu thông sang Trung Quốc.

Truyện Tàu được nhắc đến ở đây chính là hệ thống các tác phẩm được sáng tác dưới hình thức tiểu thuyết ra đời ồ ạt vào thời kì Minh Thanh, bên cạnh đó còn có những truyền thuyết dân gian, những truyện dã sử đặc sắc vốn lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời. Đây là những thành tựu văn học vĩ đại, là kết tinh của truyền thống văn học mấy ngàn năm trước đó. Vốn có truyền thống giao lưu văn học lâu đời, lại thêm sự thuận lợi khi sử dụng phương tiện truyền tải là báo chí quốc ngữ mới ra đời trong thời kì này, cộng với tâm lý hoài cổ của quần chúng nhân dân khi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, các dịch phẩm truyện Tàu vì vậy lần lượt ra đời, được độc giả nhiệt liệt đón nhận.

Việc dịch truyện Tàu đã trở thành một phong trào ở Nam Bộ đầu thế kỉ XX. Ban đầu, những người làm báo đăng truyện Tàu chỉ với mục đích lắp đầy những khoảng trống trên tờ báo. Bản thân họ cũng không ngờ độc giả lại yêu thích và ủng hộ truyện Tàu đến như vậy. Báo bán chạy hơn nhờ truyện Tàu, các tờ báo dành chuyên trang cho truyện Tàu, nhiều cây bút tinh thông chữ Hán chuyển sang dịch truyện Tàu. Sau khi được đăng tải nhiều kì trên báo, truyện Tàu còn được xuất bản thành sách để đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày tăng của độc giả. Những bộ truyện nổi tiếng như Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Đông Chu liệt quốc, Tái sanh duyên… được quần chúng say mê theo dõi.

Các cây bút tham gia dịch truyện Tàu như Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư, Trần Hữu Quang, Lê Duy Thiện, Huỳnh Hữu Trí, Trương Minh Chánh… được nhiều độc giả biết đến. Họ đã dịch khoảng 70 bộ truyện Tàu tiêu biểu nhất trong tổng số trên 200 bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc thời Minh Thanh, các bộ truyện được dịch đều là những bộ đặc sắc nhất. Nguyễn Chánh Sắt là một trong những dịch giả thành công nhất của phong trào. Dịch phẩm đầu tiên của ông là truyện Tây Hớn (1901) do nhà xuất bản J. Nguyễn Văn Viết ấn hành. Sách bán rất chạy nên ông tiếp tục dịch truyện Đông Hớn và tự xuất bản. Tính đến năm 1910, Nguyễn Chánh Sắt đã dịch riêng và dịch chung được hơn chục truyện như Nhạc Phi diễn nghĩa (1905), Ngũ hổ bình Tây (1906), Tam quốc chíHậu anh hùng (1908), Thuyết Đường diễn nghĩa (1908), Chung Vô Diệm (1909), Kim cổ kỳ quan (1910), Càn Long du Giang Nam, Anh hùng náo tam môn giai (1936), Mạnh Lệ Quân (Tái sanh duyên), Thập nhị quả phụ chinh Tây, Vạn Huê lầu (1929)Ngoài ra, Nguyễn Chánh Sắt còn dịch một số sách vở giáo huấn đạo đức như Tam tự kinh (1929), Huấn tử cách ngôn (1906)

Xem danh mục truyện dịch liệt kê phía trên, có thể thấy rằng truyện được Nguyễn Chánh Sắt chọn dịch đa phần là các truyện anh hùng liệt nữ, vua sáng tôi hiền, những truyện triết lý đạo đức giàu tính đấu tranh vì chính nghĩa. Dường như ông ít quan tâm những mảng tiểu thuyết thần kì chí quái và tiểu thuyết sinh hoạt diễm tình. Phải chăng lòng yêu nước thương nòi của ông được gửi gắm kín đáo đằng sau những tấm gương anh hùng trung liệt, những con người giàu tinh thần đấu tranh chống cường quyền để đổi thay số phận.

Những dịch phẩm truyện Tàu của Nguyễn Chánh Sắt góp phần làm cho bức tranh phiên dịch truyện Tàu ở Nam Bộ thêm giàu màu sắc. Dịch phẩm của ông và nhiều dịch giả khác đã kịp thời đáp ứng nhu cầu giải trí của người lao động, đồng thời góp phần truyền bá chữ quốc ngữ rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Nhà nhà cho con em mình đi học chữ để về đọc truyện Tàu cho ông bà cha mẹ nghe khi mùa màng rảnh rỗi. Ngoài ra, những dịch phẩm này còn trở thành tiền đề quan trọng cho hoạt động sáng tác của các nhà văn quốc ngữ Nam Bộ được nở rộ và phát triển.

 3. Nguyễn Chánh Sắt – Một trong những cây bút chủ lực của làng báo quốc ngữ Nam Bộ

 Báo chí quốc ngữ là con đẻ của quá trình giao lưu văn hóa Việt – Pháp. Trong bối cảnh nếp sống đô thị ngày một phát triển, đời sống kinh tế – xã hội ngày một sôi động, nhu cầu truyền bá và cập nhật tin tức ngày một nâng cao, báo chí quốc ngữ ra đời đã đáp ứng cho nhu cầu đó. Báo chí quốc ngữ đầu thế kỉ XX được xem là thứ hàng ngoại nhập bởi các mặt hình thức trình bày, nội dung chuyển tải và phương thức phân phối đều khá lạ lẫm. Ra đời đầu tiên là tờ Gia Định báo (1865 tại Sài Gòn), tiếp theo đó là các tờ báo Thông loại khóa trình (1888, của Trương Vĩnh Ký), Nông cổ mín đàm (1901, của Canawaggio), Lục tỉnh tân văn (1907, Trần Chánh Chiếu), Công luận báo (1916), Phụ nữ tân văn (1929)… Trong đó, Nông cổ mín đàm được xem là “cái nôi của tiểu thuyết Nam Bộ”, là “mảnh đất ươm mầm cho thể loại tiểu thuyết non trẻ của văn học hiện đại” (cách nói của nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn).

Là trí thức sinh ra và lớn lên ở vùng Châu Đốc – Tân Châu, Nguyễn Chánh Sắt đã có nhiều dịp tiếp xúc với báo chí. Quá trình học tập ở trường Tây, làm thông ngôn ở nhà tù Côn Lôn và hoạt động kinh doanh ở Mỹ Tho là khoảng thời gian đầu hun đúc ở ông kỹ năng làm báo. Nguyễn Chánh Sắt ở Mỹ Tho được vài năm thì phong trào Minh Tân bị đổ bể, ông trở về Sài Gòn làm chủ bút tờ Nông cổ mín đàm (trong chén trà bàn chuyện nông thương) của Canawaggio và do hội đồng Lê Văn Trung giúp vốn. Thời gian làm báo, ông dùng ba bút hiệu là Bá Nghiêm, Du Nhiên Tử và Vĩnh An Hà. Những bút danh này hầu như có liên quan đến tính cách của ông và các địa danh nơi ông sinh sống.

Là một trí thức được học hành đàng hoàng, hiểu biết nhiều chuyện cổ kim đông tây, một người nghệ sĩ giàu tình cảm và có khả năng tư duy nhạy bén, sâu sắc về thời cuộc, Nguyễn Chánh Sắt đã trở thành một cây bút chủ lực trên nhiều tờ báo quốc ngữ xuất bản ở Sài Gòn thời bấy giờ, như Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Nhật trình tỉnh… Ông tỏ ra có sở trường khi viết những bài chính luận bàn về tình hình sản xuất nông nghiệp, công thương nghiệp, kêu gọi thực học thực nghiệp, đặc biệt là những bài viết cổ vũ nữ quyền, kêu gọi cải cách theo phong trào Minh Tân ở miền Nam. Nhận thấy rõ thế mạnh của vùng đất Nam Bộ là sản xuất nông nghiệp, ông đã viết nhiều bài bàn luận nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này như Thời nông tiểu thuyết, Nông nghiệp cải lương, Nông nghiệp tệ nguyên, Nam kì nông nghiệp hưng vượng chi giai triệu, Nông nghiệp tương tế hội, Thuyết nông, Nghề làm ruộng xứ ta, Ta nên chấn chỉnh nghề nông… Để khởi xướng hoạt động tranh thương của người Việt với các thương nhân nước ngoài, ông đã viết một loạt bài đăng trên Nông cổ mín đàm như Nam kì công nghệ, Dục tranh quyền lợi, Lúc nầy mà An Nam chẳng lo buôn bán còn đợi lúc nào, An Nam tẩy chay Khách trú, Muốn tranh quyền lợi phải năng đúc nhân tài, Phải làm cách nào cho Nam kì ta có được một hãng tàu… Hưởng ứng phong trào Minh Tân kêu gọi thực học và thực nghiệp, ông viết các bài Cách dùng đồng hồ, Cách nuôi tằm, Cách nuôi heo, Thiệt nghiệp yếu luận, Nông thương yếu luận, Nông thương thiệt luận… Ngoài ra, ông còn tiên phong đề xuất vấn đề nữ quyền trong xã hội và thúc giục phát triển giáo dục như các bài Nữ giới chung, Nam quý nữ tiện, Nữ tử phục quyền, Dục anh yếu luận, Giáo dục xác luận, Bàn về hiện tình giáo dục trong xứ ta… Những bài viết của ông đa phần thể hiện được một tư duy khoa học sắc sảo, một tinh thần nhạy bén đón nhận cái mới, một tư tưởng cách tân theo hướng tự chủ và hiện đại.[2]Có thể thấy, mảnh đất báo chí là nơi ươm mầm cho các cây bút văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ, trong đó có Nguyễn Chánh Sắt.

 4. Nguyễn Chánh Sắt – nhà văn có công phát triển tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ

 Song song với việc dịch truyện Tàu và viết báo, Nguyễn Chánh Sắt cũng đã thử sức mình trên lĩnh vực sáng tác tiểu thuyết. Lúc này, nhiều nhà văn tiên phong của phong trào sáng tác tiểu thuyết quốc ngữ ở Nam Bộ như Nguyễn Trọng Quảng, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Lê Hoằng Mưu, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thế Phương… đã lần lượt cho ra đời những đứa con tinh thần của mình. Trong bối cảnh truyện Tàu được độc giả ủng hộ nhiệt liệt, tiểu thuyết phương Tây cũng dần dần mở rộng phạm vi ảnh hưởng trong tầng lớp trí thức Tây học, thì sự ra đời và phát triển nhanh chóng của văn học quốc ngữ, mà thành tựu quan trọng nhất thời kỳ đầu là tiểu thuyết quốc ngữ, đã giải quyết nhu cầu chuyển mình của văn học Việt Nam vượt qua thời kì trung cận đại sang hiện đại. Nguyễn Chánh Sắt đã hòa mình vào dòng chảy văn học quốc ngữ và góp phần thúc đẩy nó phát triển ngày càng hoàn thiện.

Tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Chánh Sắt là cuốn Trinh hiệp lưỡng nữ (tiểu thuyết gia đình, 1915), được đông đảo độc giả miền Nam yêu thích. Từ đó ông nổi danh như một cây bút tiểu thuyết sung sức và đa dạng trong những năm 1915- 1930 với gần chục tác phẩm thuộc nhiều thể tài khác nhau: Nghĩa hiệp kỳ duyên (tiểu thuyết xã hội,1919); Gái trả thù cha (tiểu thuyết trinh thám, 1920-1925); Một đôi hiệp khách (tiểu thuyết nghĩa hiệp, 1920); Tình đời ấm lạnh (tiểu thuyết tâm lý, 1922); Lòng người nham hiểm (tiểu thuyết xã hội, 1925); Man hoang (tiểu thuyết võ hiệp, 1925); Tài mạng tương đố (tiểu thuyết tâm lý, 1926); Giang hồ nữ hiệp (tiểu thuyết võ hiệp, 1928); Việt Nam Lê Thái Tổ (tiểu thuyết dã sử, 1929);Tiểu hồng bào hải thoại (truyện, 1930), Màn hoang kiếm hiệp (tiểu thuyết võ hiệp, 1938), Phi kiếm kì hiệp (tiểu thuyết võ hiệp, 1940)… Ngoài ra, Nguyễn Chánh Sắt còn là tác giả của nhiều tuồng hát bộ như tuồng Đinh Lưu Tú (1919)… Cuối đời, ông về sống an nhàn ở Tân Châu, vừa tiếp tục viết báo vừa hoạt động xã hội, ông có làm thơ và viết văn tế cho bạn bè như các bài Cụ Nguyễn khóc con (thập thủ liên hoàn), Văn tế ông Dương Minh Chí… Nhiều tác phẩm khác của ông đến nay bị thất lạc, chưa tập hợp đủ.[3]

Có thể thấy rằng, bên cạnh những thể tài tiểu thuyết vốn tiếp thu từ truyện Tàu như tiểu thuyết võ hiệp, tiểu thuyết dã sử, thì Nguyễn Chánh Sắt cũng đã chú trọng khai thác các thể tài tiểu thuyết vốn có nguồn gốc từ phương Tây như tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết trinh thám. Điều này cho thấy rõ tính dung hợp đa dạng trong sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt, đồng thời cho thấy vai trò cầu nối của tiểu thuyết ông trong bước chuyển sang khuynh hướng sáng tác hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam.

Tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt đa phần dung lượng vừa phải, không quá dài cũng không quá ngắn. Đó là những câu chuyện mang màu sắc đời thường, tập trung điểm nhìn vào các vấn đề xã hội hiện đại, sự thay đổi về cách ứng xử của con người trong hoàn cảnh xã hội mới. Vốn là người có trình độ Hán học sâu rộng, lại nhiều năm quen dịch truyện Tàu, nên Nguyễn Chánh Sắt chịu ảnh hưởng khá rõ đặc trưng thể loại của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Sự ảnh hưởng đó thể hiện ở kết cấu theo hình thức chương hồi, câu văn còn nặng tính biền ngẫu, hay xen lẫn câu văn xuôi với thơ bình, tính “tải đạo” (thuyết giảng luân thường đạo lý) còn thể hiện khá đậm nét, nhất là ở đề tài nghĩa hiệp, trung hiếu. Nói như vậy không có nghĩa tiểu thuyết Nguyễn Chánh Sắt xa rời thực tại trước mắt; mà ngược lại, chúng ta thấy rõ những nỗ lực của ông trong việc phản ánh hơi thở của cuộc sống.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hà trong bài viết Nguyễn Chánh Sắt trong hành trình văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX cũng đã chỉ ra một số đặc trưng khác của tiểu thuyết ông là khuynh hướng hiện thực, khuynh hướng luân lý và mang đậm phong vị Nam Bộ. Nguyễn Chánh Sắt sáng tác nhiều tiểu thuyết võ hiệp, dã sử, thế nhưng thế giới nghệ thuật trong các truyện dã sử, kiếm hiệp của ông chỉ là hồi quang của lịch sử, được khơi gợi từ thực tế xã hội giông bão phũ phàng với xúc cảm mang màu sắc lãng mạn”.[4] Đọc tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt, ta thấy bóng dáng của những anh hùng trung hiếu nhân nghĩa, những quả phụ tiết hạnh khả phong, những tiểu thơ đài các đoan trang hiền thục xa xưa trong truyện Tàu, đó là những Trọng Nghĩa, Trọng Luân, Hữu Chí, Chấn Quốc, Ngươn Kiệt, Hạo Nhiên… Đối lập với họ là những tên lòng dạ nham hiểm, phụ khó tham sang, mưu mô xảo quyệt, chuyên rình rập chớp lấy thời cơ để hại người, như bọn Hữu Chanh, Tám Chĩnh, Câu Bảy, Thị Bườn, Phi Đáng; con gái đẹp nết, đẹp người được gọi Xuân Lan, Thu Cúc, Mộ Trinh, Lệ Dung… Xây dựng các tuyến nhân vật như vậy, Nguyễn Chánh Sắt muốn đả kích phê phán bọn giàu có bất lương ỷ quyền cậy thế, bênh vực cho người nghèo hèn đức hạnh, thể hiện khát vọng vươn lên giành lấy hạnh phúc cho bản thân và ước mơ một cuộc sống công bằng tốt đẹp. Đối với một trí thức Tây học có tiếp thu nền tảng văn hóa phương Đông như Nguyễn Chánh Sắt, thì trong buổi giao thời đó, sự dung hòa giữa yếu tố cũ và mới, kết hợp tư tưởng tự do tiến bộ của phương Tây với các giá trị Nho giáo trung hiếu tiết nghĩa truyền thống, là xu hướng tất yếu, phù hợp với bối cảnh sáng tác văn học đang trong giai đoạn chuyển giao.

Tiểu thuyết Nghĩa hiệp kỳ duyên được xem là bộ tiểu thuyết tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt. Tác phẩm này còn được gọi với cái tên quen thuộc hơn là Chăng Cà Mum, được in lần đầu tiên năm 1919 (có sách ghi 1920) trong sách Vệ sinh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Đường ở Chợ Lớn. Tác phẩm cho thấy khả năng kể chuyện mạch lạc, trôi chảy; khả năng xây dựng cốt truyện chặt chẽ, linh hoạt, cuốn hút người xem. Theo nhà nghiên cứu Hoài Anh, trong tác phẩm này, Nguyễn Chánh Sắt đã chịu ảnh hưởng lối viết của các nhà văn Pháp như Alexandre Dumas và Maurice Leblanc…[5] Với Nghĩa hiệp kỳ duyên, Nguyễn Chánh Sắt không chỉ xác lập được chỗ đứng riêng cho mình trong lòng độc giả mà còn góp công rất lớn vào việc thúc đẩy thể loại tiểu thuyết ở thời kỳ phôi thai tiến lên một bước”.[6]

Sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt vẫn còn mốt số điểm hạn chế như văn viết còn gồ ghề mộc mạc như lời nói (nói sao viết vậy); cách miêu tả con người còn mang tính ước lệ của văn chương cổ, lai lịch nhân vật được giới thiệu toàn bộ ngay từ đầu; một vài chỗ miêu tả nhân vật còn gượng ép, thiếu tự nhiên; ngôn ngữ nhân vật còn khuôn sáo, cổ lỗ… Có thể thấy rằng, đây là hạn chế chung của nhiều nhà văn tiên phong thời bấy giờ, hơn nữa những hạn chế này đặt trong bối cảnh chuyển giao văn học từ Đông sang Tây là điều khó tránh khỏi. Nhìn một cách tổng quát, ta thấy những hạn chế đó không đáng kể so với những đóng góp to lớn của ông cho nền văn học quốc ngữ Nam Bộ.

 5. Kết luận

 Về vị trí của Nguyễn Chánh Sắt trong nền văn học quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận, khẳng định những đóng góp to lớn của ông. Những nhận định về vai trò, vị trí của Nguyễn Chánh Sắt trong nền văn học quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX đã khá đầy đủ, chính xác. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn khẳng định thêm một điều rằng, mặc dù sáng tác của Nguyễn Chánh Sắc kém hấp dẫn hơn nhiều cây bút sắc sảo về sau này, tiểu thuyết của ông chưa đạt đến sự chín muồi về nghệ thuật, nhưng nhìn dưới quan điểm lịch sử cụ thể, chúng ta phải thừa nhận những đóng góp to lớn của ông, cần khẳng định công lao thúc đẩy thể loại tiểu thuyết ở thời kì phôi thai tiến lên một bước của ông. Với những đóng góp to lớn của mình cho nền văn học quốc ngữ Nam Bộ, Nguyễn Chánh Sắt đáng để quê hương An Giang vinh danh và ca ngợi. Việc vinh danh đó, nếu được thể hiện bằng cách lấy tên ông đặt tên cho một con đường hay ngôi trường nào đó trên quê hương ông, thì đó là việc hoàn toàn xứng đáng.

N.T.P

Tài liệu tham khảo

 1. Cao Xuân Mỹ, Mai Quốc Liên. (2000). Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX (tập 2). Tp HCM: Nxb Văn nghệ Tp.HCM và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.

2. Hoài Anh. (2001). Chân dung văn học. Hà Nội: Nxb Hội nhà văn.

3. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên). (2004). Từ điển Văn học (Bộ mới), Hà Nội: Nxb Thế giới.

4. Nhiều tác giả. (2007).Địa chí An Giang (tập 2).Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang.

5. Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Chánh Sắt trong hành trình văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX, trang web Nam kỳ lục tỉnh, địa chỉ: http://namkyluctinh.org.

7. Trịnh Bửu Hoài, Những gương mặt tiên phong của nền văn học Tân Châu, trang web Tân Châu xứ lụa, địa chỉ: http://tanchauxulua.com.

8. Lưu Hồng Sơn, Tư tưởng Minh tân của Nguyễn Chánh Sắt, trang web Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH&NV TP.HCM, địa chỉ: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn.

9. Võ Văn Nhơn. Báo chí quốc ngữ Latinh với sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ, tập 9, số 3, năm 2006.

[1] Cao Xuân Mỹ, Mai Quốc Liên. (2000). Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX (tập 2). Tp HCM: Nxb Văn nghệ Tp.HCM và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Trang 7.

[2] Xem thêm tại Lưu Hồng Sơn, Tư tưởng Minh tân của Nguyễn Chánh Sắt, trang web Khoa Văn học và Ngôn ngữ, ĐH KHXH&NV TP.HCM, địa chỉ: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, ngày truy cập: 08.06.2013.

[3] Đối chiếu nhiều tài liệu khác nhau, chúng tôi nhận thấy rằng năm xuất bản các tác phẩm và truyện dịch của Nguyễn Chánh Sắt không trùng khớp. Đối với nhiều tác phẩm, mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một mốc thời gian khác nhau. Có một thực tế là nhiều tiểu thuyết và truyện dịch của Nguyễn Chánh Sắt được xuất bản nhiều lần, thậm chí có quyển tái bản đến 10 lần, thì việc xác định năm xuất bản khác nhau cũng là điều dễ hiểu.

[4] Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Chánh Sắt trong hành trình văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX, trang web Nam kỳ lục tỉnh, địa chỉ: http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/nvha-nchanhsat.htm, ngày truy cập: 08.06.2013.

[5] Hoài Anh. (2001). Chân dung văn học. Hà Nội: Nxb Hội nhà văn. Trang 117.

[6] Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Chánh Sắt trong hành trình văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX, trang web Nam kỳ lục tỉnh, địa chỉ: http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/nvha-nchanhsat.htm, ngày lên mạng 08.06.2013.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: