Tín ngưỡng Quan Công trong các tôn giáo bản địa ở Nam Bộ Việt Nam

DSC08599Bức sơn mài Hán Thọ Đình Hầu của họa sĩ Hiếu Đệ

Tín ngưỡng Quan Công trong các tôn giáo bản địa ở Nam Bộ Việt Nam

Nguyễn Thanh Phong

Tóm tắt

Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ lân bang mật thiết từ rất lâu đời trong lịch sử. Chính mối quan hệ đó đã góp phần tạo nên rất nhiều điểm tương đồng giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng. Việt Nam ngay từ đầu công nguyên đã tiếp thu tư tưởng Nho gia và Đạo gia của Trung Quốc, vài thế kỷ sau tiếp tục dung nạp Phật giáo Bắc tông từ Trung Quốc truyền sang.

Vì Nho giáo được người cầm quyền Trung Quốc lẫn Việt Nam chọn làm công cụ thống trị, làm ý thức hệ chủ đạo trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến, nên tư tưởng Nho giáo lưu truyền khá rộng rãi ở Việt Nam. Cùng với quá trình giao lưu văn hóa, tín ngưỡng Quan Công của Trung Quốc truyền tới Việt Nam, được giai cấp thượng tầng trong xã hội tiếp nhận. Thời Minh Thanh, giữa Trung Quốc và Việt Nam lại diễn ra một đợt giao lưu văn hóa, kinh tế, tín ngưỡng… rất mạnh mẽ. Đông đảo nhân sĩ dưới hai triều Minh Thanh di dân đến Việt Nam, cộng cư với người Việt bản địa. Nhiều giá trị văn hóa của người Hoa theo đó một lần nữa được truyền sang vùng đất mới, tiếp tục nhận được sự hưởng ứng của cư dân bản địa. Tín ngưỡng Quan Công trong Phật giáo, Đạo giáo Trung Quốc và các tôn giáo mới theo đó truyền đến Việt Nam, được quần chúng nhân dân ủng hộ, lại được các tôn giáo bản địa dung nạp, tạo nên nhiều loại tín ngưỡng Quan Công rất đặc sắc.

Các tôn giáo bản địa thời cận hiện đại ở Nam Bộ như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Ông Trần Nhà Lớn, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, đạo Dừa… ở một mức độ nào đó đều tiếp thu tín ngưỡng Quan Công. Các tôn giáo này không chỉ xem Quan Công là thần linh để sùng bái và thờ tự, là vị thần phù hộ cho nhân dân và đất nước, mà còn ký thác trách nhiệm cứu thế to lớn lên vai ông. Bài viết này tập trung khai thác những biểu hiện và đặc điểm của tín ngưỡng Quan Công trong phạm vi đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đạo Cao Đài, bước đầu tiến hành so sánh với tín ngưỡng Quan Công của người Hoa từ Trung Quốc đưa sang thời kỳ đầu, từ đó chỉ ra những điểm đặc sắc trong tín ngưỡng Quan Công của các tôn giáo bản địa cận hiện đại ở Nam Bộ Việt Nam.

Từ khóa: Việt Nam, tôn giáo bản địa, tín ngưỡng Quan Công, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Cao Đài.

越南新宗教的關公信仰

摘要

中越兩國在漫長的歷史上有密切的來往關係。此關係造成雙方在各方面﹐尤其宗教信仰方面﹐都有眾多相同的特點。越南早期已接受中國儒、佛、道三教思想理念﹐尤其是儒教被執政者選為統治的工具﹐故儒家思想在越南境內廣為流傳。跟著文化信仰的交流﹐中國的關公信仰亦傳到越南﹐受到上層階級的信奉﹐北部各地區皆有奉祀關公的廟宇。明清時期﹐中越之間又發生一場經濟、文化、信仰的交流﹐許多明清兩朝人士遷往越南﹐與越南本地人雜居﹐華人的多種文化價值由此在新域傳播﹐受到本地居民的吸納。中國佛、道及新宗教的關公信仰由此傳至越南﹐極受當地民間的支持﹐並被本地新宗教所容納﹐造出多種特色的關公信仰。

越南南部近現代新宗教﹐如寶山奇香教、四恩孝義教、大屋陳翁教、高臺教、和好教、椰子教等在某個不同程度上皆吸收關公信仰。它們不僅將關公視為神明以仰望與祭祀﹐尊為護國護民的保祐神﹐而且還在祂身上寄託偉大的救劫重任。因此﹐新宗教對舊形態的關公信仰幾乎都加上新詮釋。本文主要聚焦於四恩孝義教與高臺教的研究範圍拓展關公信仰的表現及特點﹐將之與前期中國華人的關公信仰進行初步的比較﹐基於此指出越南近現代新宗教關公信仰的特色。

關鍵詞﹕越南、新宗教、關公信仰、四恩孝義教、高臺教。

The Guan Gong religion in the religious sects in the South of Vietnam

Abstract

China and Vietnam share the long-lasting neighboring relationship in history. This relationship has created various similarities between the two countries in a lot of fields, especially in the religious culture. Before Christ, Vietnam acquired Confucianism and Taoism from China. A few centuries later, Vietnam continued receiving Mahayana (Greater VehicleBuddhism from China. Due to the fact that Confucianism was chosen by the Chinese and Vietnamese authorities to rule the society as well as to be the major ideology throughout the feudalism history, Confucianism spread widely in Vietnam. Through the cultural exchanges, the Guan Gong religion entered Vietnam and was accepted by the upper class in the society. During the Ming, Qing Dynasties, China and Vietnam had significant exchanges in culture, economics and religion. A large number of patriotic personalities of the Ming, Qing Dynasties emigrated to Vietnam to live together with the Vietnamese native people. Thus, a lot of Chinese cultural values once again spread to the new land and were positively received by the Vietnamese native people. The Guan Gong Religion in Buddhism, Taoism and other different religions therefore came to Vietnam in this way and were widely supported. In addition, other religious sects received those religions and created various Guan Gong Religions.

The religious sects of the modern period in the South of Vietnam, such as Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Ông Trần Nhà Lớn, Cao Đài , Hòa Hảo, Dừa have all acquired Guan Gong religion to some extent. Not only do these sects consider Guan Gong a God to revere and worship, a God supporting the country and the citizens, but also a Savour. This study investigates the traits and features of the Guan Gong religion in the range of Tứ Ân Hiếu Nghĩa and Cao Đài Religions. This study preliminarily compares it with the Guan Gong religion of China at the first period when it first came to Vietnam. Thereby, it can show the typical features of the Guan Gong religion in the religious sects in the South of Vietnam.

Keywords: Vietnam, religious sects, Guan Gong Religion, Tu An Hieu Nghia, Cao Dai.

1. Đặt vấn đề

Quan Công (tức Quan Vũ, Quan Vân Trường, Quan Thánh Đế Quân) là vị thần linh có sức ảnh hưởng rộng rãi nhất trong tín ngưỡng tôn giáo của người Hoa trên thế giới. Cùng với bước chân di cư của người Hoa ra hải ngoại, tín ngưỡng Quan Công đã được truyền bá đến các nước, cùng với các tín ngưỡng tôn giáo bản địa giao thoa dung hợp tạo nên rất nhiều biến thể kỳ lạ của tín ngưỡng này. Dựa vào tính chủ thể của tín ngưỡng Quan Công, có thể chia thành tín ngưỡng Quan Công của người Hoa và tín ngưỡng Quan Công của người bản địa; dựa vào thời gian truyền bá tín ngưỡng Quan Công, có thể chia thành tín ngưỡng Quan Công tiếp thu thời kỳ đầu và tín ngưỡng Quan Công tiếp thu thời kỳ Minh Thanh, đương nhiên giữa hai thời kỳ có sự khác biệt lớn; dựa vào các tôn giáo có mang tín ngưỡng Quan Công, có thể chia thành tín ngưỡng Quan Công trong Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng Quan Công trong các tôn giáo bản địa dung hợp Nho – Phật – Đạo; nếu căn cứ vào vai trò của hình tượng Quan Công trong tín ngưỡng Quan Công, có thể chia thành Quan Công là một trong các vị thần quan trọng của hệ thống thần linh và Quan Công là vị thần quan trọng điển hình nhất trong hệ thống thần linh. Điều này cho thấy tín ngưỡng Quan Công từ xưa đến nay biểu hiện rất phức tạp, lại thêm quá trình giao lưu mật thiết với tín ngưỡng truyền thống bản địa, tất yếu tạo nên nhiều hình thức tín ngưỡng Quan Công mới. Mặc dù vậy, tín ngưỡng Quan Công ở các nơi, các thời đại và trong các tôn giáo thông thường có những quy luật hình thành và phát triển tương đồng nhau, đồng thời có tính chất thực tiễn về tín ngưỡng tôn giáo khá gần nhau. Điều này đương nhiên do bản chất của tín ngưỡng Quan Công quyết định.

Quan Công là vị thần linh không còn xa lạ gì đối với người Hoa. Ông vốn là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Quốc. Cuối triều Hán, trong bối cảnh các thế lực phong kiến cát cứ phân tranh, Quan Công đã phò tá Lưu Bị dựng nên vương quyền trên đất Thục, chấn hưng vương thất nhà Hán đã nhiều năm suy vi, cùng với Tào Ngụy và Tôn Ngô tạo nên thế cân bằng chân vạc thời Tam Quốc. Thái độ trung thành đối với vua, nghĩa khí trong tương giao với mọi người, dũng mãnh khi đối mặt với kẻ thù khiến cho Quan Công được thần dân từ trên xuống dưới thời Tam Quốc kính phục và ca ngợi, thậm chí cả các thế lực là kẻ thù của ông. Vô hình trung, ông trở thành biểu tượng tuyệt đối của lòng trung quân, tiết nghĩa, dũng cảm khi thực hiện đạo cương thường trong con mắt của quần chúng. Thành tích trừ gian diệt ác cứu nhân dân, công trạng góp tay xây dựng quốc gia, nhiệt thành xả thân khuyển mã để báo đền ơn vua của Quan Công càng khiến cho thần dân tôn kính và ngưỡng mộ ông. Vì những phẩm chất và công lao đó, hình tượng siêu quần của Quan Công dễ dàng được các bậc đế vương đời sau lợi dụng và ca ngợi như là một khuôn mẫu của bề tôi phụng sự nhà vua, càng dễ dàng được các tín ngưỡng tôn giáo dung nạp và tôn xưng như một mẫu mực làm người.

Quan Công theo đó được thần cách hóa. Trong các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ông chiếm giữ vai trò đặc sắc khác nhau. Mặc dù tam giáo Nho – Phật – Đạo và nhiều tôn giáo bản địa có sự tín ngưỡng khác nhau đối với Quan Công, thế nhưng ông hầu như lúc nào cũng chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống thần linh. Tín ngưỡng Quan Công ra đời từ nhu cầu chấn hưng tư tưởng Nho gia, vì vậy nghiên cứu sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng Quan Công trước tiên cần tìm hiểu về Nho gia trong từng bối cảnh xã hội cụ thể. Từ khi vương triều Tây Hán tiến hành “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” trở đi, tư tưởng Nho gia đã trở thành ý thức hệ chủ đạo cho các vương triều phong kiến Trung Quốc qua các đời. Phẩm chất trung nghĩa của Quan Công phù hợp với nhu cầu củng cố quyền lực của các bậc đế vương, lại phù hợp với mục đích khôi phục luân lý đạo đức vua tôi, nên Quan Công được các bậc đế vương đề cao và tiến phong tước vị. Cuối thời Hán, Tào Tháo cảm phục khí phách nghĩa dũng của Quan Công nên cho xây dựng miếu thờ ông ngay tại quê hương mình. Trước thời Tùy Đường, Quan Công chỉ được thờ phụng trong phạm vi nhỏ là thành Kinh Châu, ông được xem là vị mãnh tướng anh hùng tử nạn trong chiến tranh, được dân chúng xếp ngang hàng với cô hồn dã quỷ. Từ thời Tùy Đường trở về sau, tín ngưỡng Quan Công càng được truyền bá rộng rãi hơn, dân chúng tự giác hương hỏa cúng tế, xem ông là vị võ thần luôn phò hộ diệt trừ ma quỷ quấy nhiễu. Đến hoàng đế nhà Tống, với mục đích tăng cường sức mạnh của chế độ phong kiến tập quyền trung ương, họ đã cải tạo nền Nho học bị thần học hóa thời kỳ đầu thành nền Nho học mới, ra sức đẩy mạnh việc chấn hưng luân lý cương thường Nho giáo. Phẩm chất trung nghĩa của Quan Công được người nắm giữ quyền lực chọn lọc để ca ngợi, triều đình ban chiếu sắc phong ông là thánh thần, lại còn ra lệnh cho các nơi dựng miếu thờ tự. Vì vậy, vị trí của Quan Công trong đời sống tinh thần của quần chúng không ngừng được nâng cao, danh xưng “Quan Thánh Đế Quân” mà triều đình sắc phong đã đưa Quan Công lên vị trí ngang hàng với bậc đế vương của thế gian, ngang hàng với cả hai vị thánh tiên sư trước đây là Khổng Tử và Mạnh Tử của Nho giáo. Hơn nữa, do phong khí học thuật đậm màu sắc dung hợp của tam giáo đương thời rất thịnh hành, cho nên Phật giáo và Đạo giáo cũng tiếp thu sâu sắc tín ngưỡng Quan Công của Nho giáo. Quan Công từ đó được nhắc đến và ca ngợi trong các kinh điển của Phật giáo và Đạo giáo để khuyến thiện trừng ác. Vai trò thần linh của Quan Công từ lãnh địa của Nho giáo bước sang lãnh địa của Phật giáo và Đạo giáo, được giới tín đồ hoan nghênh nhiệt liệt. Thời kỳ Minh Thanh, các giáo phái dân gian liên tiếp nổi lên như nấm sau mưa, phong khí dung hợp “tam giáo cửu lưu” đưa Quan Công lên vị trí thần linh cao quý, đồng thời thực hiện chức năng quan trọng là bảo vệ đất nước, phò trợ ngôi vua và vỗ an muôn dân.[1]

Việt Nam từ thế kỷ I trước công nguyên bắt đầu trở thành nước phiên thuộc bị Trung Quốc thống trị. Sự giao lưu qua lại giữa hai bên tạo điều kiện cho nền chính trị, văn hóa và hệ thống triết học tư tưởng dần ảnh hưởng đến Việt Nam. Về mặt văn hóa và triết học, hệ thống tư tưởng tam giáo Nho – Phật – Đạo của Trung Quốc thời kỳ này xâm nhập vào Việt Nam. Đương nhiên để thích ứng với hoàn cảnh xã hội Việt Nam, những tư tưởng văn hóa ngoại lai này tất yếu phải trải qua sự thử thách khắc nghiệt, đây là nguyên tắc cố hữu của việc giao lưu văn hóa. Các tôn giáo bản địa cận hiện đại của Việt Nam vì hình thành trong hoàn cảnh thế cuộc đầy biến động, lại vận dụng các nghi thức hành đạo mang màu sắc dân gian truyền thống như cầu cơ, sấm vĩ, tiên tri, bái sám, thần thông, mật luyện…; tiếp thu và dung hòa giáo lý tư tưởng, hệ thống thần linh phong phú của Tam giáo (Nho – Phật – Đạo); kết hợp sử dụng bùa chú để trị bệnh, chiêm bói dự đoán cát hung, thuật tướng số… để vỗ an lòng dân; cho nên các tôn giáo này khi được hình thành, đã thu hút được sự quan tâm và gia nhập của nhiều tầng lớp dân chúng trong xã hội. Các tôn giáo bản địa Nam Bộ như: Bửu Sơn Kì Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Ông Trần Nhà Lớn, Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Đạo Dừa…, đã xây dựng lý thuyết mạt thế luận như “Long Hoa tam hội”, “tam kỳ mạt kiếp”, đề cao những chuẩn mực hành đạo như giáo hóa đạo đức, ăn chay mến vật, tu luyện thân tâm…; nên trong khoảng thời gian ngắn đã thu phục lòng người, rất được người bình dân hoan nghênh đón nhận. Trong các tôn giáo bản địa kể trên, tín ngưỡng Quan Công biểu hiện khá rõ rệt, nó phản ánh khá toàn diện sự tôn sùng ngưỡng vọng của cư dân Nam Bộ đối với Quan Công. So với các thời kỳ trước, hình ảnh Quan Công trong tín ngưỡng tôn giáo thời kỳ này cũng có nhiều đặc điểm khác biệt.

2. Tín ngưỡng Quan Công trong đời sống văn hóa, tôn giáo Việt Nam

2.1. Quá trình truyền bá tín ngưỡng Quan Công vào Việt Nam

Hai nước Việt Trung núi sông liền kề, bất kì mọi biến động chính trị của hai bên thường dẫn đến việc nạn nhân di dân tị nạn. Từ khi nhà Tần bành trướng lãnh thổ về phương nam thì hiện tượng này cũng không còn lạ lẫm. Đương nhiên Việt Nam không phải là nơi duy nhất để tị nạn, người dân Trung Quốc cũng không phải chỉ duy lý do tị nạn mới sang Việt Nam. Trải qua các đời Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, di dân Trung Quốc theo hai đường thủy lục vào Việt Nam[2]. Đến vùng đất mới, đại bộ phận di dân bao gồm cư dân tị nạn, phạm nhân lưu đày, thương nhân, đều có thể điều hòa mọi thử thách phát sinh để dung hợp vào hoàn cảnh xã hội bản địa. Ngoài việc gặp phải những trở ngại khó tránh khỏi về mặt ngôn ngữ và chủng tộc, những nét văn hóa tín ngưỡng và kĩ thuật sản xuất của di dân Trung Quốc, ở một mức độ nào đó mà nói, nhận được sự tiếp thu và hoan nghênh của dân bản địa[3]. Tín ngưỡng Quan Công trong tín ngưỡng tôn giáo Trung Quốc theo chân lực lượng di dân truyền đến Việt Nam. Quan Công theo đó dần chiếm lĩnh một địa vị nhất định trong đời sống tâm linh của quần chúng Việt Nam. Thế nhưng, không giống với tín ngưỡng Ma Tổ và tín ngưỡng thần tài, tín ngưỡng Quan Công từ trước thời Minh Thanh đã tồn tại ở Việt Nam.[4] Do đó, nếu lấy triều Minh làm mốc thời gian, hình ảnh Quan Công thời kỳ trước và sau đó trong lòng quần chúng Việt Nam có sự khác biệt rất lớn, bao gồm sự khác biệt về phạm vi lưu truyền, đối tượng thờ phụng, vai trò của Quan Công và phương thức tín ngưỡng…

Trước thời Minh Thanh, lãnh thổ Việt Nam chỉ bao gồm vùng Bắc bộ và Bắc Trung bộ ngày nay, tín ngưỡng Quan Công được truyền sang vì vậy cũng giới hạn trong phạm vi này, hai vương quốc Chăm Pa và Phù Nam ở Nam Trung bộ và Nam bộ chủ yếu tiếp thu ảnh hưởng của tín ngưỡng Bà La Môn giáo và Phật giáo Nam truyền. Thời kỳ này tín ngưỡng Quan Công ở Việt Nam về đại thể tương đồng với tín ngưỡng Quan Công trước thời Minh Thanh Trung Quốc. Vì tiếp nhận kinh điển Phật giáo bằng chữ Hán từ Trung Quốc truyền sang, nên Phật giáo đại thừa của Việt Nam cũng đều tôn xưng Quan Công là Hộ pháp Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát. Chùa chiền các nơi đa phần đều đặt tượng thờ Quan Công, xem ông như thần hộ pháp, có vai trò giống như các vị thần hộ pháp vốn có trong Phật giáo như: Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên, Long Thần Hộ Pháp, Hộ Pháp Tạng Bồ Tát… Từ thời Tống về sau, Đạo giáo Trung Quốc cũng dung nạp thêm Quan Công và tôn xưng là Hộ pháp thiên thần, bắt đầu dung nạp vào hệ thống thần linh, thậm chí còn phong thần hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế. Quan Công lại thi triển đủ thứ phép thuật theo nghi thức thần bí của Đạo giáo như bùa chú, bói toán, cầu đảo nên càng lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Ngoài ra, Đạo giáo còn còn mượn danh Quan Công để tuyên truyền một loạt kinh sách khuyến thiện như Quan Công giác thế chân kinh, Văn đế hiếu kinh, Quan Thánh Đế Quân giới dâm kinh, Quan Thánh Đế minh thánh kinh, Giới sĩ tử văn, Tam giới phục ma Quan Thánh Đế Quân trung hiếu tiết nghĩa chân kinh… Đa số các sách này đều mượn danh thần đạo thiết giáo, lấy việc giáo hóa luân lý phong kiến làm tông chỉ, khuyến dụ mọi người hành thiện trừ ác. Có thể nói, tín ngưỡng Quan Công trong tam giáo Nho – Phật – Đạo ở Trung Quốc đều truyền đến miền Bắc Việt Nam, dân chúng các nơi theo đó lập miếu thờ phụng ông.

Sau thời Minh Thanh, trải qua thời gian hơn 300 năm liên tục di cư, đoàn thể người Hoa ở Việt Nam định cư sinh sống ở nhiều địa bàn khác nhau. Nhưng nơi quần tụ nhiều người Hoa nhất vẫn là khu vực Nam Bộ, bao gồm các nơi như Biên Hòa, Gia Định, Mĩ Tho ở miền Đông Nam Bộ do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch dẫn đầu, và vùng đất Hà Tiên do gia tộc họ Mạc chuyển sang. Hiện tượng này có thể quy về mấy nguyên nhân sau: (1) Vị trí của Nam Bộ Việt Nam cách Trung Quốc khá xa, đủ để tránh được sự truy kích của triều đình nhà Thanh, quá trình tị nạn nhờ đó được an toàn, (2) Lực lượng chấp chính ở Việt Nam đương thời là các chúa Nguyễn chủ trương sử dụng đội ngũ di dân làm một trong những lực lượng tiên phong để mở mang vùng đất mới, đương nhiên sự nghiệp đó có cả sự góp sức của cư dân Việt bản địa, (3) Khu vực này hoàn cảnh sống yên ổn, sản vật phong phú, đồng bằng phì nhiêu, cửa biển nối tiếp, thuận lợi cho trồng trọt cày cấy và thông thương với nước ngoài. Lúc mới sang vùng đất mới, di dân Trung Quốc đã mang những thiết chế xã hội và văn hóa tín ngưỡng quen thuộc trước đây của mình để xây dựng cuộc sống, đặc biệt là tín ngưỡng sùng bái tổ tiên và thần linh truyền thống như: Ma Tổ, Ngọc Hoàng, Quan Đế, Bảo Sinh, Tề Thiên Đại Thánh, Phúc Đức Chính Thần, Bắc Đế, Thiên Hậu, Quảng Trạch Tôn Vương, Thần Tài, Thổ Địa, Táo Quân… Người Hoa tiếp tục phát huy những công năng xã hội như cứu tế người nghèo, giúp đỡ người già cả neo đơn… vốn có truyền thống trong các tôn giáo tín ngưỡng trước đây.

Sự truyền bá tín ngưỡng Quan Công ở Việt Nam có liên quan mật thiết đến vai trò các hội kín có mưu đồ “phản Thanh phục Minh” bị triều đình nhà Thanh truy kích phải chạy sang Nam Bộ Việt Nam tị nạn. Các hội kín Trung Quốc như Thiên Địa Hội, Quân Cờ Đỏ, Thái Bình Thiên Quốc… đều phụng thờ Quan Công, nguyên nhân của nó không ngoài các điểm sau đây: (1) Quan Công có nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà các nhóm người này ngưỡng mộ: trung, dũng, lễ, nghĩa, tín, trực, liêm, chính; (2) Ba tôn giáo lớn ở Châu Á là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đều xem Quan Công là vị thần linh đáng sùng kính, Nho giáo tôn xưng ông làm Văn Hoành Thánh Đế, Đạo giáo tôn xưng ông là Hiệp Thiên Đại Đế, còn Phật giáo thì tôn xưng ông là Hộ Pháp Già Lam Phật, nên việc dùng hình ảnh Quan Công sẽ giúp quy tụ được nhiều anh hùng nghĩa sĩ hơn; (3) Quan Công còn có chức năng phò hộ cho giới kinh doanh làm ăn, vì thuở hàn vi ông từng buôn bán đậu phụ và vải vóc mưu sinh, hơn nữa ở ông có những phẩm chất tín nghĩa mà giới thương nghiệp cần có, luôn hộ mạng cho các thương thuyền làm ăn xa rày đây mai đó; (4) Quan Công vinh dự được hoàng đế các đời ở Trung Quốc gia phong nhiều tước vị như: Trung Huệ Công, Nghĩa Dũng, Tráng Mâu Nghĩa Dũng Võ An Vương, Anh Tế Vương, Trung Nghĩa Chi Thần, Hiển Linh Anh Dũng Võ An Anh Tề Vương, Hán Tiền Tướng Quân Thọ Đình Hầu, Tam Giới Phục Ma Đại Đế, Thần Uy Chấn Viễn Thiên Tôn, Quan Thánh Đế Quân, Trung Nghĩa Thần Võ Quan Thánh Đại Đế, Hiệp Thiên Phục Ma Đại Đế…

Mô phỏng tôn chỉ hành sự của các hội kín Trung Quốc, các nhân sĩ yêu nước bản địa cũng đã thành lập nhiều hội kín để hưởng ứng lời hiệu triệu của phong trào Cần Vương, đấu tranh đánh đuổi thực dân Pháp. Ở thời điểm đó, ý thức hệ mà họ lựa chọn đương nhiên không ngoài ý thức hệ phong kiến, cụ thể là tư tưởng tam giáo. Trong đó, phẩm chất nghĩa dũng của Quan Công có thể nói phù hợp nhất đối với nhu cầu tinh thần của nghĩa quân. Nên tín ngưỡng Quan Công được đề cao sẽ dễ dàng quần tụ, cố kết được tất cả các nhân sĩ yêu nước có chung lý tưởng.

Trong quá trình truyền bá tín ngưỡng Quan Công, các sáng tác văn học và biểu diễn nghệ thuật giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Các nhân sĩ Trung Quốc đã mang đến Việt Nam rất nhiều tác phẩm văn học thời Minh Thanh, trong đó bộ tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã góp phần rất lớn trong việc mở rộng sự ảnh hưởng của tín ngưỡng Quan Công. Trong hoàn cảnh đời sống cực khổ, những câu chuyện kể trong tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa là một hình thức giải trí hiếm hoi của người Nam Bộ, hình tượng Quan Công theo đó thâm nhập vào thế giới tâm tưởng cua người dân, cộng với sự phổ biến của tín ngưỡng Quan Công của người Hoa, khiến cho người dân bản địa từ chỗ có thiện cảm với Quan Công tiến tới việc ngưỡng mộ, sùng bái. Ngoài ra, nghệ thuật hát bội của di dân Trung Quốc cũng được người bản địa tiếp thu, nhiều cốt truyện ca ngợi tài đức Quan Công được phổ biến, điều đó khiến cho mức độ lan truyền hình tượng Quan Công càng thêm mạnh mẽ.

2.2. Biểu hiện của tín ngưỡng Quan Công trong đời sống văn hóa tôn giáo Việt Nam

Di cư đến Nam Bộ Việt Nam, người Hoa xây dựng nhiều miếu Quan Công một mặt để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của di dân, một mặt thể hiện nỗi lòng hoài niệm quê hương và ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của tổ tiên. Nhà riêng của người Hoa thường thờ chung Quan Công với các vị thần linh khác như Phật Thích Ca, Bồ Tát Quán Thế Âm, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thiên Hậu… Trong chùa của người Hoa, Quan Công được thờ phụng với vai trò là Tam Bảo Hộ Pháp Già Lam Thánh Chúng. Phật giáo Hoa Tông ở Nam Bộ theo đó cũng tôn thờ ông là thần hộ pháp.

Đương nhiên, tín ngưỡng Quan Công thời kỳ trước hay sau đều không thể tồn tại độc lập, mà luôn kết hợp chặt chẽ với tư tưởng tam giáo Nho – Phật – Đạo, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, vật linh và tổ tiên của người bản địa. Về mặt giáo lý tư tưởng, tín ngưỡng Quan Công đương nhiên cũng không thoát ly khỏi quan niệm linh hồn bất tử, nhân quả báo ứng, phò thiện trừ ác, luân hồi chuyển thế… của tín ngưỡng tôn giáo truyền thống. Tín ngưỡng Quan Công đã dựa vào nền tảng tư tưởng vững chắc trên để phát huy hết tác dụng, khiến cho hầu hết mọi tín đồ đều tin tưởng sâu sắc rằng Quan Công là vị thần linh cố hữu trong tôn giáo họ, chứ không phải là vị thần mới được dung nạp.

Rất nhiều tín chúng ở Việt Nam tin rằng Quan Công là vị thần bảo mạng của đàn ông, cũng giống như Cửu Thiên Huyền Nữ là vị thần bảo mạng của người phụ nữ. Trong dân gian lưu truyền khá nhiều câu chuyện kỳ lạ liên quan đến việc Quan Công bảo mạng cho đàn ông. Chẳng hạn như chuyện một người đàn ông nào đó vào quán uống rượu ăn thịt chó, sau khi uống say đi về bị thần bảo mạng Quan Công thờ trong nhà trừng phạt, làm cho toàn bộ thức ăn bị ói ra, phát bệnh nhiều ngày không dậy nổi; hay chuyện một người kia đi ăn trộm tài sản nhà người khác, về đến nơi thì nhà đã bị hỏa hoạn cháy thành tro, chỉ còn sót lại hình ảnh Quan Công được thờ trong nhà… Những câu chuyện này rõ ràng mang mục đích khuyến thiện, tuyên dương cho chức năng phò thiện trừng ác của Quan Công, đồng thời chứng minh hình tượng Quan Công đã phổ biến rộng rãi trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân. Về sau, có người còn cho rằng hình ảnh Quan Công cầm Thanh Long đao, qua năm ải chém sáu tướng, là một ẩn dụ trong việc hàng phục tâm phàm trong tu hành theo Thiền tông. Thanh Long đao tượng trưng cho cây dao trí tuệ của người tu Thiền, năm cửa ải tượng trưng cho năm giác quan của cơ thể, sáu tướng tượng trưng cho lục tặc. Theo cách giải thích đó, người tu thiền phải biết lấy sức mạnh của trí tuệ làm vũ khí sắc bén để cắt đứt mọi chướng ngại do năm giác quan vật chất của cơ thể con người mang lại, nhờ đó tiêu trừ lục dục (tiền tài, danh vọng, lợi lộc, sắc tình, ăn uống, ngủ nghỉ) của bản thân.[5]

Các hội kín mưu đồ “phản Thanh phục Minh” dưới đời Thanh và dư ba của chúng truyền đến các nước lân cận, trong đó có Việt Nam. Đa phần họ đều ngưỡng mộ và thờ phụng Quan Công, xem đó là nghi thức tín ngưỡng thường nhật của cộng đồng mình. Chẳng hạn, tổ chức Thiên Địa Hội tiếp nhận sâu sắc tinh thần thượng võ và đề cao thái độ xem trọng tình nghĩa huynh đệ của Quan Công. Nghi thức nhập hội này gồm 2 hồi lễ bái, hồi đầu 4 lạy, hồi sau cũng 4 lạy. Lạy thứ 3 trong hồi đầu có nghĩa là “lạy kết nghĩa huynh đệ đào viên”, lạy thứ 3 trong hồi sau có ý nghĩa là “lạy tôn thờ Quan Công”.[6] Trong giới hảo hán ở Nam Bộ thời kỳ đầu, đức hạnh của Quan Công được xem là chuẩn mực giá trị đạo đức đối với họ. Trong các hội kín, tinh thần Quan Công chính là khuôn mẫu để đánh giá quan hệ đối đãi giữa anh em kết nghĩa với nhau. Từ trước đến nay nhiều gia đình đã thờ cúng Quan Công, đến giai đoạn này, ông càng được ca ngợi rộng rãi, thần vị được sắp đặt ở vị trí cao, thậm chí còn uy nghiêm thần bí hơn cả bàn thờ tổ tiên ông bà và chư phật, bồ tát.[7]

Hình tượng Quan Công ở các đền miếu Nam Bộ thường được điêu khắc bằng thạch cao, hoặc đúc bằng bê tông cốt thép mà thành, ngoài ra còn dùng chất liệu gốm sứ hay hình vẽ trên giấy, hình lồng kiếng. Tuy sử dụng nhiều chất liệu khác nhau, nhưng bên cạnh ngai thờ Quan Công thường luôn có hai hàng binh khí trang trí, nên càng tôn thêm khí thế trang nghiêm, uy nghi của hình tượng. Quan Công có khuôn mặt đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm kiên nghị, râu dài năm chòm tượng trưng cho sự uy nghiêm kiêu hùng và giữ trọn đạo ngũ thường, thân mặc triều phục tượng trưng cho thân phận cao quý hiển hách. Đứng hầu hai bên tượng Quan Công có nghĩa tử Quan Bình tay cầm ấn Thọ Đình hầu và tùy tướng Châu Thương tay cầm Thanh Long đao.

Quan Công trở thành một trong những biểu tượng tinh thần gửi gắm nguyện vọng của một bộ phận cư dân Nam Bộ. Sùng bái Quan Công cũng có nghĩa là sùng bái những phẩm chất làm người vô cùng cần thiết như nhân nghĩa, trung tín, hoạn nạn có nhau, chí kiên định bất biến, không thay lòng đổi dạ… Những phẩm chất này không những đáp ứng nhu cầu cuộc sống của di dân Bắc Trung bộ, mà còn rất phù hợp với khí phách anh hùng tráng chí, ôm ấp mộng diệt giặc trừ gian, cứu lấy giang sơn xã tắc trong cảnh đời loạn lạc. Vì vậy, các nhân sĩ yêu nước đương thời muốn quần tụ anh hùng nghĩa sĩ các nơi đấu tranh chống Pháp hầu như đều dựa vào các thần tượng tôn giáo để thực hiện mục đích của mình. Thế nhưng, hình tượng các vị thần khác trong Phật giáo và Đạo giáo không phù hợp với mục đích đấu tranh đuổi giặc cứu nước, chỉ có người mang tinh thần nhập thế mạnh mẽ như Quan Công mới thật sự phù hợp. Hơn nữa, đối với tầng lớp bình dân học vấn tương đối thấp, những triết lý yêu nước trừu tượng khó thể nào đáp ứng thỏa đáng những ngờ vực tâm lý trong họ, hình ảnh thần linh quen thuộc cụ thể như Quan Công dễ dàng thuyết phục mọi người ở tất cả mọi điều.

Liên quan đến ngày tế lễ Quan Công, đền miếu các nơi thường chọn ngày sinh của ông để tổ chức tế lễ. Phần lớn đình thờ thành hoàng ở Nam Bộ đều chọn ngày 13/1 âm lịch để tổ chức tế lễ, một số ít đền miếu khác lại chọn ngày 29/3, 30/5, 20/6, 10/7 âm lịch; một vài đền miếu Quan Công khác lại chọn ngày tuẫn tiết của ông 24/6 âm lịch để cử hành lễ tế. Vì mọi người còn tin tưởng rằng gà có ơn cứu mạng đối với Quan Công, nên một số đình miếu ở Nam Bộ còn cấm tín đồ lấy thịt gà để làm tế phẩm.

2.3. Một vài đặc điểm của tín ngưỡng Quan Công ở Việt Nam

Dựa vào kết quả tìm hiểu phía trên, có thể đưa ra kết luận về một số đặc điểm của tín ngưỡng Quan Công ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, tín ngưỡng Quan Công rõ ràng là tín ngưỡng ngoại lai, không phải là tín ngưỡng bản địa của cư dân Việt Nam. Tín ngưỡng Quan Công vào khoảng thời Tùy Đường truyền đến Việt Nam, được người Việt hoan nghênh đón nhận. Trước thời Minh Thanh, tín ngưỡng Quan Công chủ yếu ảnh hưởng đến miền Bắc Việt Nam. Từ khi chúa Nguyễn thực hiện công cuộc “Nam tiến”, tín ngưỡng Quan Công mang đặc trưng miền Bắc cũng theo chân các di dân khẩn hoang truyền đến miền Nam. Thời cuối Minh đầu Thanh, liên tiếp các nhân sĩ cựu triều di cư đến Việt Nam tị nạn, đồng thời mang theo tín ngưỡng Quan Công kiểu mới của các tôn giáo dân gian thời Minh Thanh truyền đến Nam Bộ, lại được người bản địa tiếp thu, dung hợp với các tín ngưỡng tôn giáo bản địa tạo nên một kiểu tín ngưỡng Quan Công mang nét đặc sắc bản địa.

Thứ hai, Quan Công không chỉ là thần linh trong phạm vi gia đình, mà còn là vị thần linh mang đặc trưng tín ngưỡng cộng đồng của người Việt. Vì vậy, hình ảnh Quan Công được thờ chung với hình ảnh các vị thần linh bản địa khác như thành hoàng bổn cảnh, anh hùng có công với nước, các vị thần tự nhiên… Trong một số chùa cổ ở Nam Bộ, hình ảnh Quan Công trên chánh điện giữ vai trò là Bồ tát Già Lam hộ trì tam bảo. Người Việt tiếp nhận tín ngưỡng Quan Công của người Hoa, tiến hành thờ tự trang nghiêm, thể hiện sự kính phục và ngưỡng vọng đối với phẩm cách của Quan Công, đồng thời tin tưởng Quan Công sẽ phò hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí là thần bảo mạng cho người nam trong gia đình.

Thứ ba, hình ảnh Quan Công trong bối cảnh xã hội Việt Nam, đương nhiên không còn là vị tướng quân thời nhà Hán của mười mấy thế kỷ về trước, mà là biểu tượng cho phẩm chất trung nghĩa trong cảnh nước mất nhà tan. Ông là điểm tựa tinh thần và là nơi gửi gắm nguyện vọng trong sự nghiệp chống thực dân xâm lược của người Việt Nam thời kỳ đầu. Vì vậy có thể nói, tín ngưỡng Quan Công đã được Việt Nam hóa, chuyển tải được đặc trưng tính cách và bản sắc văn hóa của người Việt Nam.

3. Tín ngưỡng Quan Công trong một số tôn giáo bản địa cận hiện đại ở Nam Bộ Việt Nam

Các tôn giáo bản địa cận hiện đại ở Nam Bộ có thể kể là Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Ông Trần Nhà Lớn, Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Đạo Dừa… Ngoài những tôn giáo đó ra, vẫn còn rất nhiều các giáo phái có tên hay không tên liên tục ra đời, do nhiều nhân sĩ tu hành khác nhau rao giảng, có sự lĩnh ngộ khác nhau đối với kinh điển và phương thức tu hành của các tôn giáo. Thời kì này, tôn giáo bản địa ra đời như nấm sau mưa, tạo nên phong khí tín ngưỡng hưng thịnh một thời. Bài viết này tập trung tìm hiểu biểu hiện của tín ngưỡng Quan Công trong hai tôn giáo bản địa điển hình là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đạo Cao Đài.

3.1. Tín ngưỡng Quan Công trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được thành lập năm 1867 tại huyện An Phú, tỉnh An Giang, người khai đạo là Ngô Lợi (còn gọi là Ngô Viện, Ngô Tự Lợi, Cao Văn Do, Đức Bổn Sư, 1831~1890). Ông sinh tại tỉnh Bến Tre, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi rồi tham gia phong trào chống Pháp. Sau đó Ngô Lợi bị truy kích phải bỏ chạy về vùng Thất Sơn tỉnh An Giang. Ở đây, ông vừa vẽ bùa trị bệnh cho dân, vừa truyền giáo và thu nạp tín đồ, ngoài ra còn tập hợp nhân sĩ các nơi cùng khai hoang lập ấp, xây dựng chùa miếu, thành lập căn cứ cách mạng chống Pháp. Thời gian không lâu sau, nhân sĩ các nơi về đây tụ nghĩa, vừa tu hành theo giáo thuyết mới, vừa tranh thủ giành độc lập tự chủ. Quân Pháp nhiều lần công kích vào đây, bắt nhiều người đối kháng, Ngô Lợi thất thế chạy sang Campuchia lánh nạn. Sau khi ông trở về đây và viên tịch, vì không có người trực tiếp kế thừa phong trào, một số cao đồ rời khỏi Thất Sơn đi các nơi truyền giáo, một bộ phận khác định cư lại đây để giữ gìn sự nghiệp tôn giáo.

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được các tín đồ gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa, phạm vi phổ biến của nó chủ yếu là dải đồng bằng sông Cửu Long ở Nam Bộ, khu vực tập hợp nhiều tín đồ nhất là thị trấn Ba Chúc vùng Bảy Núi An Giang. Từ tên gọi Tứ Ân Hiếu Nghĩa có thể thấy tôn chỉ hành đạo của tôn giáo này là thực hành tứ đại trọng ân (ân tổ tiên cha mẹ, ân quốc vương thủy thổ, ân tam bảo, ân đồng bào nhân loại) và hoàn thành đạo “hiếu nghĩa”. Đạo “hiếu” biểu hiện ở các phương diện: (1) Giữ gìn truyền thống tốt đẹp của tổ tiên cha mẹ để lại; (2) Phải lập công danh sự nghiệp để xây dựng cuộc sống cho bản thân, gia đình và thế hệ mai sau; (3) Phải phụng dưỡng cha mẹ, nhất là khi cha mẹ già yếu ốm đau; (4) Phải làm cho cha mẹ vui lòng. Đạo “nghĩa” là một loại đạo lý quan trọng trong ứng xử với mọi người, mọi hoạt động giao tế của con người đều phải lấy nghĩa làm trọng. Các tín đồ không được xem thường việc “thủ nghĩa”, bao gồm tinh thần nghĩa nhân và cả nghĩa dũng.[8] Vì đề cao luân lý Nho gia, giáo phái này đã lựa chọn nhân vật điển hình nhất cho tinh thần này của Nho gia là Quan Công để làm thần linh chủ đạo. Còn một nguyên nhân quan trọng khác, để quần tụ anh hùng nghĩa sĩ các nơi về đây đầu quân cứu nước, đức Bổn Sư Ngô Lợi đã lựa chọn tấm gương tiết tháo nhân nghĩa trung dũng của Quan Công để thu phục lòng người, mà không chọn bất kỳ thánh hiền nào khác của Nho giáo.[9] Đặc điểm này gần giống như trong các tôn giáo dân gian “phản Thanh phục Minh” của Trung Quốc.

Vì nhấn mạnh tinh thần nhập thế, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa yêu cầu các tín đồ trong cuộc sống hằng ngày phải tuân theo “thập nhị lệ sự”: nhất kính thiên địa, nhị lễ thần minh, tam phụng tổ tiên, tứ hiếu song thân, ngũ thủ vương pháp, lục trọng sư trưởng, thất ái huynh đệ, bát tín bằng hữu, cửu mục tông tộc, thập hòa hương lân, thập nhất biệt phu phụ, thập nhị giáo tử tôn[10]. Những điều giáo huấn này có tác dụng điều chỉnh hành vi làm người của tín đồ, thực chất là sự cụ thể hóa và bổ sung vào luân thường đạo đức Nho giáo, cũng chính là nền tảng để “học Phật tu nhân” của tín đồ. Về mặt giáo lý, giáo phái này dung hợp tư tưởng tam giáo, trong đó quan niệm “tu nhân” chủ yếu dựa theo tư tưởng Nho gia, quan niệm “học Phật” lại dựa trên sự kết hợp tư tưởng Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông của Phật giáo, ngoài ra còn sử dụng phép tu luyện nội đơn và các loại bùa chú pháp thuật thần bí của Đạo giáo. Hiện tượng này khiến cho tư tưởng giáo lý của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cực kỳ phức tạp, phản ánh rõ rệt sự dung hợp giữa hai khuynh hướng nhập thế và xuất thế, đồng thời cũng phản ánh một đặc điểm quan trọng của các tôn giáo bản địa đương thời tinh thần dung hợp rộng rãi các thành tựu tín ngưỡng trước đó.

Kinh điển của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tổng cộng có 36 quyển, tạm chia làm 2 bộ là Pháp bửu trường sanh (24 quyển) và Kinh siêu độ (12 quyển), cùng với 5 quyển Giáo luậtGiáo lễ. Bộ kinh Pháp bửu trường sanh do đức Bổn sư Ngô Lợi và đức Phật Lò viết 19 quyển, ngoài ra lấy từ kinh Phật giáo 5 quyển. Nội dung thể hiện trong kinh rất phong phú, các bộ kinh quan trọng là: Bà La Ni kinh, Linh Sơn hội thượng kinh, Phổ độ kinh, Siêu thăng kinh, Thiên địa kim cang kinh, Âm chất kinh, Hoàn sanh kinh, Hoàn hồn kinh, Phổ độ Bàn Đào kinh, Siêu thăng Bàn Đào kinh, Thiên địa kinh, Phật thuyết tiêu tai kinh, Ngũ Hồ bát nhã kinh, Ngũ Nhạc bát nhã kinh, Ngũ Công bát nhã kinh, Tam giáo hợp luận kinh… Trong số đó, liên quan đến tín ngưỡng Quan Công là Đào viên kinh, bộ kinh này được tiếp thu từ kinh văn Trung Quốc, chủ yếu được sử dụng ở chùa miếu hay nhà riêng của tín đồ trong nghi thức cầu siêu hay cầu an.[11]

Chùa miếu của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa phụng thờ rất nhiều thần linh, bao gồm các vị thần vốn có sẵn trong tam giáo, cùng với khá nhiều thần linh mới lạ của tôn giáo này. Thông thường, các chùa miếu đều thờ phụng một vị chủ thần nào đó, thế nhưng vị thần phổ biến nhất và quen thuộc nhất vẫn là Quan Công. Việc thờ cúng thần linh tại nhà riêng của tín đồ thường dựa theo những quy định của giáo luật. Ngoài sân có hai bàn thờ của Chánh Đức Thiên La thần và Thiên Đế, trước cửa nhà có bàn thờ Thổ trạch long thần, trong nhà có bàn thờ Hội đồng thượng Phật, Đức Bổn Sư, Tam giáo hỏa lầu, Cửu phẩm liên hoa, Cửu huyền thất tổ hai bên nội ngoại… Trong đó, bàn thờ Hội đồng thượng Phật được đặt chính giữa gian nhà, lấy hình ảnh Quan Công làm đại diện, sau lưng ông có Quan Bình và Châu Thương đứng hầu, phía trên có hai chữ lớn “Chính khí”. Hình thức thờ cúng này một mặt góp phần hun đúc tinh thần xả thân vì nghĩa của tín đồ, mặt khác để đánh lừa bọn mật thám tay sai của thực dân Pháp.

Tóm lại, Quan Công là vị thần quan trọng nhất trong hệ thống thần linh của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Khí khái trung dũng của ông phù hợp với nhu cầu kháng Pháp thời kỳ đầu của người khai sáng đạo, thần lực uy dũng của ông đã phò hộ và giúp sức cho nghĩa quân khi đối mặt với gian nan nguy hiểm, ít nhất là về mặt tinh thần. Ngoài ra, Quan Công trong giáo phái này còn được xem là vị thần cứu độ trong tương lai “Long Hoa tam hội”, là nơi kí thác nguyện vọng cứu đời của các tín đồ.

3.2. Tín ngưỡng Quan Công trong đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài (hay “Đại đạo tam kỳ phổ độ”) là một giáo phái bản địa Việt Nam, do một vài phần tử trí thức Nam Bộ sáng lập năm 1926. Người sáng lập là công chức trong chính quyền thực dân Pháp, hấp thu tín ngưỡng dân gian bản địa, tôn giáo và tri thức khoa học tiên tiến của phương Tây, kết hợp các yếu tố đó lại tạo thành một giáo phái đặc thù Việt Nam. Đạo Cao Đài nhận được sự phê chuẩn của chính quyền thực dân, trở thành tôn giáo có số lượng tín đồ nhiều thứ ba ở Việt Nam. Đạo Cao Đài do Cao Đài Thượng Đế nắm giữ ngôi giáo chủ, đệ tử đầu tiên là Ngô Minh Chiêu (hoặc Ngô Văn Chiêu, 1878~1932), thông qua nghi thức cầu cơ mà cảm ứng với thần linh, bèn sáng lập tổ chức đạo Cao Đài, sau đó đem giáo lý tư tưởng truyền bá ra bên ngoài. Các chi phái khác của đạo Cao Đài lần lượt ra đời, các giáo đồ quan trọng khác có thể kể là Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung…

Đạo Cao Đài lấy “tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục nhất” làm tông chỉ. Mệnh đề “tam giáo quy nguyên” nghĩa là tam giáo Nho – Phật – Đạo trở về với nền tôn giáo chân truyền lúc đầu, mệnh đề “ngũ chi phục nhất” có nghĩa 5 loại quả vị là nhân đạo, thần đạo, thánh đạo, tiên đạo, phật đạo sẽ được hợp nhất dưới sự quy thống của Thượng Đế. Đạo Cao Đài chủ trương vạn vật vạn linh đều cần phải tiến hóa lên những quả vị cao hơn trong quá trình tiến hóa chung của vũ trụ. Vì dung nạp rộng rãi tư tưởng giáo lý của các tôn giáo, nên đạo Cao Đài trên hầu hết các phương diện đều thể hiện tính chất dung hợp. Đạo này cho rằng Quan Công là một trong ba vị thánh “Tam trấn uy nghiêm”, cùng với Thái Bạch Kim Tinh và bồ tát Quán Thế Âm đại diện cho các vị đạo tổ của tam giáo là Phật Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử hộ trì cho nền đạo trong thời kỳ phổ độ lần thứ ba. Điều này phản ánh tinh thần dung hợp văn hóa của đạo Cao Đài, không chỉ dung hợp yếu tố của các tôn giáo lớn, mà còn dung nạp cả tín ngưỡng dân gian bên trong nó. Đạo Cao Đài tôn xưng Quan Công là Tam Trấn Uy Nghiêm Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân, tên gọi này về mặt hữu vi chỉ người chủ quản chấn hưng Nho gia trong kỳ phổ độ thứ ba, về mặt vô vi chỉ công năng kết hợp với Thượng Đế để cứu độ chúng sinh, dẫn dắt vạn linh hướng về thánh đạo. Theo trình bày của Phạm Công Tắc, một giáo phẩm cao trong đạo Cao Đài mà tín đồ thường gọi là đức Phạm Hộ Pháp, thánh vị của Quan Công không phải do Thượng Đế phong, mà là do muôn loài tôn xưng và phong tặng.

Tín đồ đạo Cao Đài tin tưởng rằng Quan Công sẽ tái sinh để xây dựng thánh đạo, dựng nên thời kỳ “Nho tông chuyển thế” như trong giáo lý của đạo Cao Đài. Theo đó, Nho giáo sẽ được tái lập trước, sau đó đến Đạo giáo và Phật giáo, cuối cùng chỉ còn sót lại “một đạo duy nhất mà thôi”. Vì vậy, hình ảnh Quan Công trong đạo Cao Đài thường xuất hiện khi đang cầm quyển kinh Xuân Thu, tượng trưng cho việc thực hiện ý nguyện “Xuân thu” của Nho gia, tảo trừ tà mị nhiễu loạn chánh đạo, cũng giống như Khổng Tử dùng kinh Xuân Thu để khu trừ loạn thần tặc tử.

Năm 1938 tại thánh thất Tây Ninh thuyết pháp, ông Phạm Công Tắc đã giải thích lý do vì sao đạo Cao Đài lại thờ cúng Tam Trấn Uy Nghiêm. Nội dung thuyết pháp có đoạn: “Bởi Hạ nguơn cận mãn, nhơn vật đổi dời, đạo đức nhơn nghĩa luân lý cang thường đều bị lượn sóng văn minh vật chất làm hư hoại. Tam giáo đã thất chơn truyền do nơi tay phàm canh cải thành ra dị đoan bất chánh, nên Đức Chí Tôn khai Đại Đạo là cơ quan chuyển thế, phục lại Thượng nguơn cho thuận theo lẽ tuần hoàn qui cổ. Ba vị Tam Trấn hiện nay đức hạnh hoàn toàn, đủ tư cách độ đời, rọi gương cho đoàn hậu tấn…”. Ngoài ra, Phạm Công Tắc còn thuyết về nguyên linh của Quan Công như sau: “Nguơn linh của Ngài là Xích Long Tinh. Buổi nọ dân Bắc Hớn phạm Thiên điều, bị Ngọc Hư Cung phạt, hạn không cho mưa, đặng cho dân ấy phải đói. Dân làng biết mà cầu nguyện nơi Ngài cứu nạn. Ngài cũng thừa biết dân ấy bị Thiên điều hành pháp, nhưng vì lòng ái tuất thương sanh, không nỡ để dân chết đói, nên Ngài làm mưa. Ngọc Hư Cung bắt tội, sai Ngũ Lôi tru diệt. Ngài chạy trốn vào một cái chùa, nhờ ông thầy chùa lấy chuông úp lại. Vị sư căn dặn bổn đạo trong chùa đừng ai giở chuông cho đến ngày nào Ngài hết nạn. Chư Đạo trong chùa tọc mạch dở chuông ra xem coi vật gì. Thành thử Ngài phải chịu đầu kiếp, kiếp ấy là Hạng Võ. Kiếp cuối cùng là Quan Công, sau khi chết đến khổ tu dưới cửa chùa của sư Phổ Tịnh, về sau hiển thánh trừ ma diệt quỷ phổ độ sanh linh, không bị luân hồi chuyển kiếp nữa, từ đó đem quyền uy thần linh ra hành đạo, được vạn linh tôn làm Phật, hiệu là Cái Thiên Cổ Phật”.[12]

Từ các nội dung trình bày phía trên, có thể thấy đạo Cao Đài đã tiếp thu hình ảnh Quan Công trong thời kỳ Tam Quốc của lịch sử Trung Quốc, đồng thời cũng tiếp thu quan điểm của các giáo phái dân gian thời Minh Thanh đối với Quan Công. Thời kỳ đầu, khi các thánh thất Cao Đài cử hành lễ cúng, thường thông qua nghi thức cầu cơ của Đạo giáo để kết nối với các đấng thần linh. Quan Công nhiều lần giáng cơ bút thuyết pháp giảng đạo, trong đó nhiều lần đề cập đến thân thế của chính mình. Nghiên cứu tín ngưỡng Quan Công trong các giáo phái dân gian, thiết nghĩ không thể xem nhẹ những đoạn kinh văn ghi chép liên quan đến phương diện này.

Theo Tam ngươn giác thế chân kinh của đạo Cao Đài, Quan Công từng giáng bút giảng thuyết như sau: “Ta chẳng phải kẻ tham sống sợ chết, chẳng tham phú quý vinh hoa mà xem nhẹ đạo vua tôi, mất đi lời hứa hẹn, cho nên khi ta quy vị, thiên đình đã ban ơn cho ta thoát khỏi luân hồi chuyển thế[13]. Ngoài ra, Quan Công còn ban tặng tín đồ thơ văn: “Cái thế công danh thế quý oai, Thiên tào kim phụng lệnh Cao Đài, Cổ kim độ chúng lao hà nại, Phật thánh đạo tông tạo thế lai[14], và “Quang minh huệ nhẫn chiếu càn khôn, Thánh đức lưu tâm bảo quốc tồn, Đế việt sơn hà chung hạnh đạt, Quân tranh thế giới đạo khai môn[15], cùng với “Quan thành tái hiệp Hớn triều phong, Thánh đức mạc vong hám thế trần, Đế thất nhất tâm trung khí dõng, Quân y xích diện hảo vinh phong[16]. Chữ đầu tiên của mỗi câu kết hợp lại chính là thánh hiệu của Quan Công. Nội dung của nó thuyết giảng cho lòng trung nghĩa của Quan Công, cùng với trọng trách chấn hưng thế đạo theo mệnh lệnh Thượng Đế. Các giáo chức Cao Đài còn cho rằng đạo Cao Đài thờ phụng Quan Thánh Đế Quân không phải là thờ một danh tướng nhà Hán, mà là thờ phụng một vị tinh quân trên trời có trách nhiệm tái thiết đạo thánh cho loài người, thi hành trọng trách mà Thượng Đế kí thác.

Theo quan niệm của đạo Cao Đài, Quan Công với tư cách thừa lãnh mệnh lệnh gánh vác trọng trách của Thượng Đế đến với thế gian. Về phương diện hữu vi, thời phổ độ kỳ ba, ông sẽ đầu thai chuyển kiếp làm người phàm, đem hết sức mình diệt trừ tà ma quỷ quái, bảo vệ đạo chân truyền của đức Chí tôn, đồng thời dìu dắt chúng sanh hướng theo tinh thần “Xuân Thu” mà cải ác tùng thiện, tái thiết đạo thánh thời “Nho tông chuyển thế”. Về vai trò ở phương diện vô vi, Quan Công đắc thành Phật đạo ở cõi trời Hư Vô, cũng là vị Đế quân của thiên giới, đảm nhiệm dẫn dắt chân linh mọi người trở về với Thượng Đế, tức đắc thành quả vị, giữ vai trò của một Hiệp Thiên Đại Đế.[17] Quan niện này vô hình trung đề cao vai trò cứu thế của Quan Công, hoàn toàn khác biệt với tinh thần nhập thế cải tạo xã hội của Quan Công trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

4. Kết luận

Tóm lại, tín ngưỡng Quan Công ở Việt Nam được tiếp thu và cải biên từ tín ngưỡng Quan Công của Trung Quốc qua các đời truyền sang. Tín ngưỡng Quan Công thời kỳ đầu chủ yếu ảnh hưởng đến Bắc Bộ, tín ngưỡng Quan Công từ thời Minh Thanh trở về sau chủ yếu ảnh hưởng đến Nam Bộ. Vai trò của Quan Công thời kỳ đầu là bảo vệ đất nước, phò trợ nhà vua và bảo vệ nhân dân; vai trò của Quan Công thời kỳ sau ngoài những trách nhiệm đó ra còn thêm nhiệm vụ chấn hưng Nho tông và cứu thế. Tinh thần Quan Công đã trợ lực rất lớn cho các nhân sĩ mang ý thức hệ phong kiến Việt Nam tiến hành sự nghiệp chống Pháp cứu nước, đồng thời trong niềm tin dân gian ông là vị thần bổn mạng độ trì trong cơn hoạn nạn. Tín ngưỡng Quan Công vì thế không còn chỉ là tín ngưỡng cố hữu của người Hoa, mà còn được dung nạp sâu rộng vào tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, và hầu như không còn thấy nhiều dấu vết của tín ngưỡng ngoại lai nữa.

Sự xuất hiện của tôn giáo dân gian thời Minh Thanh làm cho lịch sử tôn giáo dân gian Trung Quốc lật sang một trang sử mới. Các tôn giáo bản địa ở Nam Bộ Việt Nam cũng mang lại một phong khí mới cho lịch sử tôn giáo Việt Nam. Trong phong khí này, tôn giáo được đại chúng hóa, giản dị hóa, cụ thể hóa và thực dụng hóa. Sự ra đời của các tôn giáo bản địa, là một sản phẩm quan trọng của sự kết tinh văn hóa thời cận hiện đại ở Việt Nam. Đối với nhu cầu dung hợp và quân bình các giá trị văn hóa cũ mới hiện nay, tôn giáo bản địa đã mang lại nhiều cống hiến to lớn.

Tư liệu tham khảo

  1. [Việt Nam] Lê Anh Dũng, Quan Thánh xưa nay, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995.
  2. [Việt Nam] Lê Anh Dũng, Giải mã truyện Tây du ký, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995.
  3. [Việt Nam] Đặng Văn Tuấn, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Tp.HCM, 2011.
  4. [Trung Quốc] Trương Hiểu Phấn, Tìm hiểu nguyên nhân hình thành của tín ngưỡng Quan Công, Tạp chí Nghiên cứu Đạo giáo, kỳ 4 năm 2006, trang 30 – 36.
  5. [Trung Quốc] Đàm Dực, Nghiên cứu xã hội người Hoa Việt Nam đương đại, Tạp chí Dân tộc Thế giới, kỳ 2 năm 2009.
  6. [Trung Quốc] Trần Tu Hòa, Quan hệ hữu hảo và giao lưu văn hóa của nhân dân hai nước Trung Việt, Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc, Bắc Kinh, 1957.
  7. [Việt Nam] Nguyễn Ngọc Thơ, Tín ngưỡng Thiên Hậu ở Nam Bộ Việt Nam, trang web khoa Văn hóa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, địa chỉ: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3901%3Atin-ngng-thien-hu-ti-nam-b-vit-nam&catid=100%3Avn-hoa-lch-s-trit-hc&Itemid=161&lang=vi, ngày truy cập: 15/3/2014.
  8. [Việt Nam] Sơn Nam, Cá tính người miền Nam, Nhà xuất bản Văn hóa, Tp.HCM, 1992.
  9. [Việt Nam] Sơn Nam, Người Sài Gòn, Nhà xuất bản Trẻ, Tp.HCM, 1992.
  10. [Việt Nam] Trần Hồng Liên, Đạ o Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.
  11. [Việt Nam] Nguyễn Thùy Vân, Khái quát tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, kỳ 4 năm 2009, Hà Nội, trang 59 – 70.
  12. [Đài Loan] Chung Vân Oanh, Luận bàn về sách lược chú giải kinh điển ‘Tam giáo dung hợp’ trong các giáo phái dân gian cuối Thanh đầu Trung Hoa Dân Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo Đài Loan, quyển 9 kỳ 2, tháng 12 năm 2010, trang 107~128.
  13. [Đài Loan] Chung Vân Oanh, Nguyễn Thanh Phong, Góc nhìn bên ngoài về ‘Tam giáo dung hợp’ và ‘Tam kỳ phổ độ’ – Tư tưởng giáo lý của Đạo Cao Đài Việt Nam, Thế giới tôn giáo học san, kỳ 16, tháng 12 năm 2010, trang 125~158.
  14. [Đài Loan] Hứa Văn Đường, Đạo Cao Đài của Việt Nam: Bàn về một tôn giáo hỗn dung, Hội thảo về khu vực Đông Nam Á của Đài Loan năm 2005, Nam Đầu, 2005.
  15. [Đài Loan] Hứa Văn Đường, Vấn đề tham dự chính trị của các tôn giáo Việt Nam cận đại – Lấy đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo làm trung tâm, Đài Loan Đông Nam Á học san, quyển 5 kỳ 1, 2008, trang 3~30.
  16. [Pháp] Thánh thất Cao Đài nước Pháp, địa chỉ﹕http://caodaifrance.free.fr/Trangdaidao/Html/Tulieu_vanhoc/Texte/Quanthanh.htm, ngày truy cập 20/3/2014.

[1] Xem thêm tại Trương Hiểu Phấn, Nghiên cứu nguyên nhân hình thành của tín ngưỡng Quan Công, Tạp chí Nghiên cứu Đạo giáo, kỳ 4 năm 2006, Trung Quốc, trang 30 – 36.

[2] Học giả Trung Quốc Đàm Dực trong bài viết “Nghiên cứu xã hội người Hoa ở Việt Nam đương đại” có nói: “Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng diệt 6 nước, thống nhất Trung Nguyên, Ngoài vùng Lĩnh Nam vẫn là nơi cư trú của các bộ tộc Bách Việt. Sau khi xây dựng quốc gia phong kiến tập quyền trung ương, Tần Thủy Hoàng tiếp tục tiến hành thống nhất phương nam, năm 214 trước Công nguyên, quân Tần đánh bại người Việt, bình định Lĩnh Nam, ra sức mở mang khu vực này. Nhà Tần cho 50 vạn quân Nam tiến, ngoài những người chết bệnh và chết trận, còn lại là bị lưu đày. Lúc này, có càng nhiều người Trung Nguyên di cư sang Lĩnh Nam cùng người Việt cộng cư. Thời kỳ Tần, Hán, Tùy, Đường đều có di dân đến bán đảo Hoa Nam. Đời Tống về sau, cùng với sự phát triển của kĩ thuật hàng hải và giao thương quốc tế, di dân ngày một tăng nhiều. Năm thứ 10 đời Tống Hàm Thuần (1274), một lượng lớn người Tống di cư sang Việt Nam, được an trí ở Thăng Long”. Đàm Dực, Nghiên cứu xã hội người Hoa Việt Nam đương đại, Tạp chí Thế giới Dân tộc, kỳ 2 năm 2009, trang 57.

[3] Xem thêm tại Trần Tu Hòa, Quan hệ hữu hảo và giao lưu văn hóa giữa nhân dân hai nước Việt Trung, Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc, Bắc Kinh, 1957. Trong sách tại trang 14~15 có viết: “Điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất ưu việt, khí hậu ấm áp, đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú. Người Trung Quốc sau khi di cư sang Việt Nam đã mang theo những công cụ và kĩ thuật sản xuất tiên tiến. Dưới sự nỗ lực chung của nhân dân lao động Trung Việt, kinh tế và văn hóa Việt Nam đều có những tiến bộ vượt bậc. Cuối thời Tây Hán do mâu thuẫn giai cấp ngày càng khắc nghiệt, khởi nghĩa nông dân bạo phát, một dải Trung Nguyên hình thành thế cuộc loạn động. Thời này người đi về phương Nam rất nhiều, giai tầng sĩ đại phu không thể đứng vững ở Trung Nguyên đều xem Việt Nam là lạc thổ để tị nạn. Đầu thế kỉ I, quan nhà Hán là Hồ Cương phản đối Vương Mãng đoạt lấy chính quyền của họ Lưu, nên đã cởi bỏ áo mũ treo ngoài cửa thành, sau đó chạy sang Giao Chỉ. Tổ tiên của Sĩ Nhiếp thời Tam Quốc cũng vì tránh loạn Vương Mãng mà chạy sang Việt Nam. Biểu Trung thời Hậu Hán cũng từ quan theo đường biển vào Giao Chỉ. Hoàn Hoa tị nạn ở Giao Chỉ, nghe nói người Việt trong làng được ông cảm hóa, mọi người đều sống hài hòa, không có người đánh quan ti (?). Thời Tam Quốc, Hứa Tịnh và Lưu Ba, trước tị nạn Giao Chỉ, sau theo đường Giao Chỉ đến Tây Thục. Tiết Tông và Trình Bỉnh thời Đông Ngô cũng là những người nổi tiếng từng tị nạn ở Giao Chỉ. Câu chuyện về những người này đều thấy ghi chép trong sách vở Trung Việt. Những trường hợp không ghi chép, đương nhiên còn không ít. Cuối thời Hậu Hán, hoàng tộc Lưu Yên thấy sức quân khởi nghĩa quá mạnh, cũng định lánh nạn sang Giao Chỉ. Những nạn nhân từ Trung Quốc sang Việt Nam, đều nhận được sự tiếp đón hữu hảo của người Việt”.

[4] Nguyễn Ngọc Thơ, Tín ngưỡng Thiên hậu ở Nam Bộ Việt Nam, Trang web của khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ truy cập﹕http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3901%3Atin-ngng-thien-hu-ti-nam-b-vit-nam&catid=100%3Avn-hoa-lch-s-trit-hc&Itemid=161&lang=vi, ngày truy cập: 15/3/2014.

[5] Lê Anh Dũng, Giải mã truyện Tây du ký, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1995, trang 121 – 134.

[6] Xem thêm tại Sơn Nam, Cá tính người miền Nam, Nhà xuất bản Văn hóa, Tp.HCM, 1992, trang 109.

[7] Xem thêm tại Sơn Nam, Người Sài Gòn, Nhà xuất bản Trẻ, Tp.HCM, 1992, trang 100.

[8] Xem thêm tại Đặng Văn Tuấn, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Tp.HCM, 2011, trang 25 – 28.

[9] Theo nghiên cứu của Trần Hồng Liên, phong trào đấu tranh chống Pháp của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do đức Bổn Sư Ngô Lợi lãnh đạo, có thể quy tụ đông đảo cư dân Nam Bộ tập hợp dưới ngọn cờ tín ngưỡng tôn giáo để khởi nghĩa giành lấy độc lập. Tín đồ giáo phái này mặc dù tu hành theo đạo vô vi, chủ trương không thờ cúng hình tượng thần linh, cũng không xem trọng hình thức; thế nhưng chùa miếu của họ lại tôn thờ hình tượng Quan Công. Phẩm chất cương nghị dũng cảm, sẵn sàng xả thân vì chính nghĩa của ông, đã trở thành ngọn cờ tiên phong tập hợp quần chúng đấu tranh chống quân xâm lược. Xem thêm tại Trần Hồng Liên, Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.

[10] Nghĩa là: Một kính trời đất, hai lễ thần linh, ba thờ tổ tiên, bốn hiếu cha mẹ, năm theo phép vua, sáu trọng sư trưởng, bảy thương anh em, tám tin bạn bè, chín thuận dòng họ, mười hòa xóm giềng, mười một trọn nghĩa vợ chồng, mười hai dạy dỗ con cháu. Xem thêm tại Đặng Văn Tuấn, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Tp.HCM, 2011, trang 31 – 34.

[11] Xem thêm tại Đặng Văn Tuấn, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Tp.HCM, 2011, trang 36 – 38.

[12] Thánh thất Cao Đài nước Pháp, địa chỉ: http://caodaifrance.free.fr/Trangdaidao/Html/Tulieu_vanhoc/Texte/Quanthanh.htm, ngày truy cập 20/3/2014. Cách gọi “Cái Thiên Cổ Phật” thể hiện quan niệm của tôn giáo bản địa về quả vị tương lai của Quan Công.

[13] Tam ngươn giác thế chân kinh, năm xuất bản 1953, trang 37.

[14] Giáng cơ bút tại đàn Minh Thiện tỉnh Mỹ Tho năm 1931.

[15] Giáng cơ bút tại đàn Minh Thiện tỉnh Mỹ Tho năm 1928.

[16] Giáng cơ bút tại đàn Minh Thiện tỉnh Mỹ Tho năm 1926.

[17] Thánh thất Cao Đài nước Pháp, địa chỉ: http://caodaifrance.free.fr/Trangdaidao/Html/Tulieu_vanhoc/Texte/Quanthanh.htm, ngày truy cập 20/3/2014.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: