Tiểu thuyết “Sống và chết ở Thượng Hải” của nhà văn Trịnh Niệm

Lưu Xuân Diễm – DH12NV

1. Mở đầu

Trong văn học thế giới, văn học Trung Quốc nổi lên như một nền văn học lớn, có lịch sử lâu dài và ngày càng phát triển với nhiều thành tựu rực rỡ. Việc tìm hiểu văn học Trung Quốc là hết sức cần thiết để hiểu thêm về nền văn học này cũng như xác định vị thế của nó. Cho đến ngày nay, những thành tựu mà văn học Trung Quốc đạt được đã có nhiều giá trị to lớn đóng góp nào nền văn học thế giới. Tìm hiểu văn học Trung Quốc là tìm hiểu về một thế giới nghệ thuật ngôn từ phong phú và sâu sắc. Cũng như diễn trình lịch sử, văn học Trung Quốc cũng trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có những biến động và thay đổi khác nhau. Đặc biệt là sau khi kết thúc “Đại Cách mạng văn hóa”, Trung Quốc bước vào thời kì Cải cách mở cửa, văn học thời kì này trong sự va đập giữa hiện đại và truyền thống, giữa Trung Quốc và thế giới, đã có được tiếng nói riêng để chào đón thế kỉ mới.

Ở thời kì này các nhà văn cũng đã đưa ra những quan điểm mới để thay đổi cách viết cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Đặng Tiểu Bình đã “cởi trói” cho văn nghệ, ông đề xướng “các hình thức phong cách khác nhau tự do phát triển”, “các quan điểm và học phái khác nhau tự do thảo luận”, cần phát huy tinh thần sáng tạo của cá nhân nhà văn. Ông còn nhấn mạnh: “Chúng ta không tiếp tục nêu ra khẩu hiệu văn nghệ tòng thuộc chính trị nữa, bởi vì khẩu hiệu này dễ trở thành căn cứ lý luận để can thiệp vào văn nghệ. Thực tiễn chứng minh, đối với sự phát triển văn nghệ thì khẩu hiệu trên hại nhiều lợi ít. Từ nay trở đi đổi thành văn nghệ phục vụ nhân dân, văn nghệ phục vụ chủ nghĩa xã hội.” Nhờ vào chính sách văn nghệ cởi mở như vậy mà văn học Trung Quốc bước sang thời kì nở rộ, đạt được những thành tích đáng ghi nhận với số lượng tác phẩm ngày một gia tăng, đội ngũ nhà văn lớn mạnh, thể tài tác phẩm ngày càng đa dạng.

Mở đầu là sự xuất hiện dòng “văn học vết thương”, “văn học phản tư”, “văn học tầm căn”, đến cuối thập niên 80 xuất hiện “tiểu thuyết tiền phong”, “tiểu thuyết tân tả thực” và đến những năm 90 thì bắt đầu xuất hiện dòng văn học “thế hệ mới sinh”, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Nhiều tác phẩm của các dòng văn học nói trên đã đạt được những giải thưởng lớn như giải thưởng văn học Lỗ Tấn, Mao Thuẫn… Những tác phẩm được giải bao gồm các thể tài như thơ ca, kịch nói, ký sự… nhưng thành tựu chủ yếu vẫn là tiểu thuyết. Những tiểu thuyết gia nổi tiếng có thể kể đến đó là Trương Hiền Lượng, Tưởng Tử Long, Phùng Kí Tài, Giả Bình Ao, Cao Hiểu Thanh, Trương Khiết, Thiết Ngưng, Trì Lợi… và đặc biệt là nữ văn sĩ Trịnh Niệm với tiểu thuyết “Sống và chết ở Thượng Hải”. Cuốn hồi ký này được viết bằng tiếng Anh do Nhà xuất bản Penguin Books ấn hành năm 1987, chỉ riêng lần in đầu lượng sách đã là 200.000 bản. Nội dung cuốn truyện kể lại cuộc đời sóng gió của bà trong những năm Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc và đây có thể gọi là một bi kịch xã hội Trung Quốc thời đó.

Nữ văn sĩ Trịnh Niệm sinh 28/01/1915, ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 1935, Trịnh Niệm du học ở trường Kinh tế London. Bút danh Trịnh Niệm hình thành từ họ của chồng và chữ đệm của tên bà. Chồng bà, ông Trịnh Thái Kỳ làm Tổng Giám đốc hãng Shell tại Thượng Hải. Sau khi ông qua đời vì bệnh ung thư, hãng Shell mời bà Trịnh Niệm làm cố vấn cho hãng. Từ năm 1966, khởi đầu thời kỳ Cách mạng văn hoá, bà Trịnh Niệm bị bắt giam và đày đọa đến năm 1973 mới được trả tự do. Bảy năm sau, tháng 9/1980 bà mới rời Trung Quốc, tổ quốc yêu thương của mình, sang sống ở Canada và ba năm sau định cư tại Washington, Hoa Kỳ. Cuốn tự truyện “Sống và chết ở Thượng Hải” của Trịnh Niệm là một trong những cuốn sách khắc họa khá rõ nét cuộc Cách mạng văn hóa thông qua số phận của một con người, mà con người ấy lại chính là tác giả. Một hành trình nếm trải những khổ đau, giành giật sự sống khi một mình phải đương đầu với thử thách, khó khăn. Đồng thời, cuốn tiểu thuyết còn phê phán “Đại Cách mạng văn hóa” đã vùi dập trí thức; tố cáo lũ Hồng vệ binh ngu xuẩn và tàn bạo; thể hiện bi kịch trong gia đình và đặc biệt là gia đình của tác giả. Sức thuyết phục của “Sống và chết ở Thượng Hải” là thái độ bình tĩnh, nhân tình, nhìn rõ được nguyên nhân, mục đích của Cách mạng văn hóa và được viết bằng giọng văn đượm một nỗi u uất không thể từ bỏ được. Bà không hề oán trách mà chỉ là thuật lại cho mọi người biết ở Trung Quốc, tổ quốc thân yêu của bà, đã có một thời như thế. Tất cả những điều ấy đã làm nên cái hay, cái hấp dẫn và sức thuyết phục kì diệu cho tác phẩm.

2. Nội dung

2.1. Những mặt trái của “Đại Cách mạng văn hóa”

Cuốn tiểu thuyết tự truyện “Sống và chết ở Thượng Hải” của Trịnh Niệm gồm 18 chương, mỗi chương được đặt tên cụ thể làm cho người đọc dễ dàng nhận thấy được nội dung của từng phần. “Sống và chết ở Thượng Hải” đã ghi lại rất chân thực những gì diễn ra trong những năm “Đại Cách mạng văn hóa” do đích thân Giang Thanh và phe nhóm chỉ đạo, bởi vì bà là người chứng kiến tất cả sự việc ấy. Gia đình Trịnh Niệm là một gia đình trí thức. Chồng bà là tổng quản lí công ty Shell tại Thượng Hải. Ông chết vì bệnh ung thư. Sau khi chồng chết, bà được chọn làm cố vấn cho công ty, bà sống với người con gái độc nhất Mai Bình là một diễn viên. Cuộc giành giật ngôi thứ phe phái ở Trung Quốc đã dẫn đến cuộc Cách mạng văn hóa… Những trí thức như bà đều bị coi là thuộc một trong những thành phần bị những Hồng vệ binh đấu tố… Họ đã hạ bệ hàng loạt những trí thức nổi tiếng, với những quan niệm giai cấp có thể gọi là ấu trĩ, với sự cuồng tín, sùng bái đến mù quáng “lãnh tụ vĩ đại”, sự lợi dụng đám Hồng vệ binh vào những mưu toan, thủ đoạn chính trị để tranh lại quyền lực mà phe phái họ đã đánh mất. Những trí thức yêu nước trở thành những nạn nhân trực tiếp như: Đào Phương, cựu trưởng Ban Kế toán của xí nghiệp Shell; là vợ chồng giáo sư Henry- Wennie, những trí thức Trung Hoa du học ở nước ngoài; là Lâm Phong Miên, một họa sĩ có tài rất nổi tiếng, đã có thời đứng đầu Viện Nghệ thuật Hàng Châu; là Hồ, một kĩ sư trưởng; là Lý Chân, chủ nhiệm khoa Dương cầm ở Nhạc viện Thượng Hải, một phụ nữ hết lòng yêu nghề và yêu Tổ Quốc. Tất cả họ đều tài hoa và hết lòng vì đất nước nhưng lại bị đàn áp và có những kết cục bi thương, những kẻ dẫn đầu trong cuộc Cách mạng văn hóa không để cho người giàu và trí thức sống yên ổn, đóng góp tài sản, trí tuệ và tài năng, họ chèn ép đến nổi Lý Chân phải tự tử chết bên cây đàn dương cầm: “trong nhà sặc sụa khí đốt với dòng chữ để lại: Tôi đã cống hiến hết sức mình cho môn đệ của tôi”. Và cuối cùng là tấn bi kịch của chính tác giả, bà đã dựng lại không khí từ buổi ban đầu cho đến khi bùng nổ cuộc Cách mạng văn hóa. Trịnh Niệm miêu tả rất sinh động những cảnh khai thác, đấu tố, hù dọa, áp đặt, những cảnh Hồng vệ binh áp đảo đến nhà, đập phá, nhân danh các tiểu tướng của Cách mạng văn hóa làm thứ công việc chẳng có văn hóa một chút nào.

Cuốn tự truyện “Sống và chết ở Thượng Hải” được xuất bản năm 1987 nhưng lấy bối cảnh mười năm trong cuộc Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc. Trong giai đoạn này người trí thức bị vùi xuống bùn đen, còn có luận điệu hoang đường cho rằng “trí thức càng nhiều càng phản động” làm cho số phận người trí thức càng thêm điêu đứng, họ cho rằng những người trí thức là gián điệp, trong khi đó tác giả bị nghi ngờ là điều hiển nhiên bởi Trịnh Niệm là người trí thức giàu có trong thời buổi đó.

Sau khi chồng bà qua đời, bà được mời làm cố vấn quản trị cho công ty Shell, bọn chúng nghi ngờ bà là gián điệp bởi vì chúng cho rằng:“Chồng bà là viên chức cao cấp của chính quyền phản động Quốc Dân Đảng và về sau làm tổng quản lí cho một xí nghiệp tư bản ngoại quốc”, bà đã biện minh cho chồng mình rằng: “Nhà tôi làm tổng quản lí cho công ty Shell ở Thượng Hải là có sự thỏa thuận của Bộ Công – Thương nghiệp của chánh quyền nhân dân”“Ông nhà tôi làm viên chức của chánh quyền Quốc Dân Đảng, thì ông thấy đấy, năm 1949 nhà tôi đã ở lại Thượng Hải chớ đâu có chạy sang Đài Loan theo Quốc Dân Đảng. Vậy không đủ chứng tỏ ông nhà tôi ủng hộ cuộc Cách mạng của cộng sản và hoan nghênh chánh quyền hay sao?”. Bà đã rất bình tĩnh dù đang bị rất nhiều viên chức Đảng thẩm vấn, bà vẫn mạnh dạn, quyết liệt đưa ra những bằng chứng cho rằng mình và chồng mình không có tội. Trịnh Niệm đã ghi lại tất cả những tranh luận, những cuộc họp trong “Cách mạng văn hóa”; sự sâu xé, tranh giành quyền lực giữa các thế lực chính trị: “Điểm tranh luận là ai sẽ lãnh đạo cuộc Cách mạng văn hóa: guồng máy của Đảng hay nhóm người đặc biệt theo Mao, được Mao chỉ định làm chủ tịch ủy ban”.

Trong cuộc họp của Ủy ban Trung ương, Mao đã “kịch liệt tố cáo guồng máy chính quyền (đứng đầu là Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nước) và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng (đứng đầu là Đặng Tiểu Bình, tổng bí thư)”, bởi vì Mao cho rằng các bộ phận này đã thực thi những chính sách bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Đó là lời tố cáo nặng nề nhưng sở dĩ Mao tố cáo như vậy là do ông đã kiểm soát được quân lực thông qua người được ông ta bảo trợ là Lâm Bưu, Bộ trưởng Quốc phòng. Sự tranh giành quyền lực ngày càng gay gắt, một bên tố cáo thì bên kia phải đưa ra bản tự phê để phần nào vớt vát lại địa vị và cứ thế hai bên xâu xé lẫn nhau.

Trong cuộc tranh giành ấy chủ tịch Mao đã chiến thắng “Năm 1953, tai họa giáng xuống khi Mao Trạch Đông mở màn chiến dịch “Tam phản ngủ phản” nhằm chống tệ tham nhũng, hối lộ và đối tượng là những nhà công nghiệp và các viên chức”, những chính sách của Mao đã khiến những người trong sạch như Tô Lôi bị cuốn vào và là mục tiêu của chiến dịch này. “Đảng chỉ thích “xài” những người chỉ biết mù quáng tuân phục và ca ngợi các đường lối, chính sách, bất kể đường lối chính sách nào của Đảng”. Những người không tuân thủ thì sẽ bị khai trừ như vợ chồng Lý Chân hay chính tác giả. Chúng ép Lý Chân đến mức phải tự tử: “Bọn vệ binh đỏ chặn một khúc cây ngang qua cổng nhạc viện và bắt chị chui qua và có ý nói chị là “con chó săn của bọn đế quốc Anh”. Chỉ vì chị đã theo học bên Anh! Chúng còn tổ chức một buổi đấu tố để bắt chị phải tự thú là “đã yêu thích nhạc phương Tây”.

Tác giả đã ghi lại toàn bộ sự kiện diễn ra trong mười năm hỗn loạn, những bất công, mưu mô, tính toán hòng nắm hết quyền lực giữa những phe phái, cuối cùng người nắm chính quyền là Mao Trạch Đông và ông đã đưa ra những chính sách, những kí kết để cho những người dưới quyền ông thực hiện những điều ông đã mưu tính từ lâu. Ông duyệt cho đạo quân Hồng vệ binh đầu tiên ở Bắc Kinh, chúc phúc cho họ và sứ mệnh của họ là thanh trừng khỏi đất nước “Bốn cái cũ”: văn hóa cũ, phong tục cũ, y phục kiểu cũ và lối tư duy cũ. Chính điều ấy đã khiến cho bọn Hồng vệ binh ngày càng lộng hành, bọn chúng đập phá, đốt những thứ son phấn, dầu thơm, quần áo may theo thời trang phương Tây, buộc phải thay tên các bảng hiệu thành “Phương Đông hồng”, “chặn xe buýt lại, phân phát truyền đơn thuyết giảng chánh trị cho những người đi xe và trừng phạt những người nào ăn mặc mà chúng không ưa”. Mọi nơi đều dán hình Mao và trên xe đạp thì ghi lời của Mao, xe nào không có thì bị chặn lại và bị cảnh cáo. Hành động của Hồng vệ binh ngày càng tăng và ngày càng hung hãn hơn. Chúng đến nhà của bà đập phá, tịch thu những thứ có giá trị làm tài sản nhà nước, “Nhiều tên vệ binh đỏ đang làm tung tóe, lộn xộn các bộ sưu tập đồ sứ”, còn “đem bộ ly uống rượu thời Khang Hi ra sàn xếp thành hàng trên sàn rồi giẫm đạp lên”, và bọn chúng còn “cầm bức tượng vung vẫy trong tay một cách hết sức vô ý vô tứ, tinh nghịch và nói: “Đây là tượng phật, mê tín dị đoan. Tao sẽ ném nó vào trong đống rác!”. Bọn chúng không chỉ đập phá nhà của bà mà còn đập phá những nhà lân cận, những kẻ không tuân thủ theo chỉ thị của Mao.

Trước hoàn cảnh như vậy Trịnh Niệm không hề khiếp sợ mà đưa ra những lí lẽ để thuyết phục bọn chúng ngưng ngay những hành động vô lí: “Tất cả những đồ cổ này đều thuộc về thời đại dĩ vãng. Dĩ vãng rất xưa. Tất nhiên nó phải nhường chỗ cho nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng ta có thể đem nó ra chỗ khác, chớ không cần phá hủy. Nên nhớ là những món đồ này không có dính dáng gì đến giai cấp tư sản. Chính những bàn tay của những người lao động đã tạo ra. Các ông không tôn trọng sức lao động, thành quả lao động của người lao động hay sao?”. Không chỉ đập phá, giam lỏng bà mà ngay cả đứa con gái thân yêu duy nhất của bà cũng bị nhốt trong “chuồng bò” và phải viết bản tự phê chỉ vì cô được sanh ra ở ngoại quốc.

Thông qua cuốn “Sống và chết ở Thượng Hải”, tác giả đã miêu tả rất cụ thể và chân thực những cuộc bạo loạn, tranh chấp quyền lực, những chính sách vô lí, những cuộc đấu tố, thẩm tra, cách đối xử với tù nhân một cách tồi tệ, dã man. Tác giả đã lên tiếng tố cáo Hồng vệ binh, những kẻ nhân danh công lý nhưng luôn đem lại bất công, những hành động đập phá vô lí, những lời cáo buộc vô căn cứ đối với mình. Những chi tiết sống động hấp dẫn, miêu tả sự bình tĩnh, thản nhiên của nữ trí thức có học vấn sâu sắc, biết những cảnh lố lăng, những biện pháp đấu tranh thô bạo, cứng nhắc của những con người cuồng tín là do những kẻ có những mưu đồ chính trị đứng phía sau giật dây.

2.2. Những năm tháng trong nhà tù

“Đại Cách mạng văn hóa” diễn ra trong mười năm mà Trịnh Niệm đã bị giam giữ hơn sáu năm trong nhà tù bẩn thỉu và vô nhân đạo, phải chịu đựng biết bao khổ cực, nhiều lần bị đấu tố, những căn bệnh hành hạ, thiếu thốn đủ mọi mặt về cái ăn, cái mặc, thuốc men… Mặc dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy, bà vẫn quyết định không thú tội ẩu và vẫn kiên quyết, kiên định với những lí lẽ của mình để chống lại Mao. Tác giả đã kể lại rất chi tiết và tỉ mỉ những năm tháng mình bị bắt và bị giam giữ trong nhà tù. Họ bắt bà chụp hình, nhớ mã số, đọc bản nội qui của nhà tù: tất cả phải học tập theo Mao, thú thật mọi tội lỗi và tố cáo những kẻ vi phạm. Đó là cuộc tiếp nhận ban đầu của bà vào nhà tù số một. Căn phòng giam được bà miêu tả rất chi tiết, mạng nhện thì giăng kín, bức tường vôi trắng nay vàng ệch, bám đầy bụi và lù mù, nền xi măng vá loang lổ và ẩm ướt, không khí nồng nặc mùi ẩm mốc, cánh cửa sổ độc nhất và nhỏ xíu với chấn song sắt han rỉ, đồ đạc trong phòng chỉ có ba chiếc giường gỗ hẹp, vạt giường là những mảnh ván nhám. Một phòng giam tồi tàn, thô sơ và dơ dáy không phải là nơi dành cho người ở, vật dụng thì chẳng có gì, chỉ được mua những thứ cần thiết, mọi thứ đều phải tuân thủ theo qui định của nhà tù. Qua đó cho thấy sự cay nghiệt, độc ác của chế độ nhà tù, của những kẻ cầm quyền đối với tầng lớp trí thức.

Bà nhiều lần bị đưa ra thẩm tra và mỗi lần như vậy bà không hề nhận tội, bởi vì bà cho rằng mình không hề có tội mà bà tập trung vào nghiên cứu cuốn “Mao Trạch Đông toàn tập” để biết rằng lời dạy của ông được sử dụng như thế nào để chống lại bà và cũng muốn xem có thể dùng những lời ấy để phản công lại, để phủ nhận lại lời cáo buộc bà được hay không. Bà “nghĩ là nên học thuộc những câu nói của Mao và sử dụng cho nhuần nhuyễn, trôi chảy để có thể đến lúc đối diện với các điều tra viên, tôi có thể đối đáp ngon lành”, và sau nhiều lần thẩm tra, đấu tố bà vẫn cương quyết không nhận mình chống lại chính quyền nhân dân, thế là bà tiếp tục bị giam trong nhà ngục.

Nhà tù thực hiện những chính sách thật dã man. Vào những ngày đông giá rét chúng bắt tù nhân tập thể dục, một tháng chỉ được tắm nước nóng một lần, thức ăn thì toàn những thứ rẻ tiền. Bà phải chịu biết bao gian nan, vất vả, cực nhọc trong hành trình tìm lại tự do và chứng minh sự vô tội của mình. Có những đêm cơn ho dữ dội hành hạ khiến bà không thể ngủ được, cảnh tượng những người bệnh co giật liên hồi, hơi thở dồn dập, hai mắt nhắm nghiền, nước da vàng bủng căng lên vì phù thủng nhan nhản trước mắt bà. Một cảnh tượng suy thoái của nhà thương Thượng Hải đến mức bà phải thốt lên “Ôi, Cách mạng văn hóa!”, lúc ấy trong bệnh viện “Bệnh nhân, đàn ông cũng như đàn bà, đều cởi hết quần áo, đứng tô hô trần truồng trước mắt mọi người”, một lối khám bệnh vô cùng thô bỉ diễn ra khắp các bệnh viện ở Thượng Hải. Bà không chỉ bị ho mà những ngày tháng sau đó bà còn bị sưng phổi, xuất huyết, chảy máu răng, những căn bệnh ấy khiến bà ngày càng kiệt sức, trông chừng không thể chống chọi nổi nhưng bằng ý chí kiên cường bà đã vượt qua tất cả. Bửa ăn thì toàn những thứ đạm bạc, ít khi mới có chút thịt mỡ. Căn bệnh chảy máu răng làm cho bà rất khó khăn trong việc ăn uống, mỗi khi ăn bà phải súc miệng trước nếu không thức ăn sẽ có mùi máu, những bữa canh hơi mặn bà phải nhúng vào nước mới có thể ăn được. Do chế độ ăn uống không đủ, những căn bệnh hoành hành nhưng không có đủ thuốc điều trị nên sức khỏe của bà ngày càng suy sụp.

Hành trình giành giật lại sự sống của bà vô cùng chông gai, hết bệnh hành hạ thì bị tra tấn, bà kiệt sức đến nổi không thể đụng cựa gì được, “hai bàn tay sưng vù, vết sưng lên đến tận cùi chỏ. Quanh cổ tay, chỗ bị chiếc còng xiết chặt máu, mủ vẫn còn rỉ ra từ chỗ bị thương. Móng tay tím bầm và tưởng như sắp rụng cả ra. Tôi lấy hai tay chạm vào nhau, chỉ cảm thấy làn da tê dại đi. Tôi cố uốn cong ngón tay nhưng không được, ngón nào ngón nấy căng phòng như củ cà rốt”. Tác giả Trịnh Niệm phải chịu đựng cảnh hành hạ, tra tấn dã man ở căn phòng ấy suốt sáu năm, nhưng bằng ý chí và sự quyết tâm bà luôn giữ vững lập trường, kiên định trước những lời cáo buộc, mãi cho đến năm 1973 bà mới được trả tự do. Những vết thương về thể xác, về tinh thần chưa kịp xoa dịu thì bà lại hay tin đứa con gái thân yêu độc nhất của mình chết vì từ chối từ bỏ mẹ mình như một kẻ thù giai cấp. Nỗi đau khi bị hành hạ trong nhà tù không bằng nổi đau của người mẹ khi hay tin con mình bị sát hại, sau những tháng ngày chịu đựng tra tấn, bệnh thập tử nhất sinh những mong được gặp lại đứa con gái nhưng cuối cùng đáp lại chỉ là nỗi tuyệt vọng và đau đớn. Trải qua tất cả những sự việc, một hành trình gian nan để tìm lấy tự do, sự sống, cuối cùng bà cũng được trả tự do với những vết thương không bao giờ xóa mờ được “Quá khứ là mãi mãi với tôi, và tôi nhớ tất cả”.

3. Những nét nghệ thuật đặc sắc trong “Sống và chết ở Thượng Hải”

Tiểu thuyết “Sống và chết ở Thượng Hải” là cuốn tự truyện của tác giả về những sóng gió trong chính cuộc đời mình vào những năm “Đại Cách mạng văn hóa”. Người kể chuyện là tác giả xưng tôi với cái nhìn chủ quan, biết hết tất cả những gì đang xảy ra và sẽ xảy ra, kể theo trình tự trước sau, từ khi cuộc Cách mạng văn hóa đang bước đầu phát triển cho đến khi bùng nổ dữ dội và những năm tháng tác giả bị cầm tù cho đến khi được trả tự do.

Tác giả với cái nhìn chủ quan nhưng kể lại câu chuyện một cách rất khách quan những gì diễn ra chứ không thể hiện thái độ phẫn nộ, căm ghét đối với những thế lực đã gây ra nỗi đau cho mình. Bằng lối văn khi cần thì phân tích, suy ngẫm, lúc thì miêu tả, lúc bộc lộ những tâm tư tình cảm rất trung thực của mình trước những diễn biến trong từng khung cảnh, từng ngày, từng giai đoạn, toàn bộ cuốn truyện đã lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Tất cả được thuật lại với một thái độ điềm tĩnh, khách quan, tác giả miêu tả cảnh phòng giam, những cuộc khảo tra dã man khiến người đọc như thấy rõ mồn một hoàn cảnh bi thảm của bà lúc bấy giờ, miêu tả chính xác, tỉ mỉ đến từng chi tiết cảnh bà bị dẫn đến phòng điều tra “căn phòng lạnh và ẩm thấp. Bên ngoài, ngọn gió bắc từ Sibêric thổi về lạnh buốt làm tê cóng cả thành phố, thổi qua khe cửa, rít lên, rú lên”. Tác giả đã kể lại tất cả những biến cố trong cuộc đời mình cũng như hoàn cảnh hỗn loạn của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ với giọng văn đượm một nỗi u uất không thể quên được. Nhưng ta thấy trong toàn bộ tác phẩm không có một lời oán trách của bà dành cho những người đã gieo tai họa cho cuộc đời bà, mà bà chỉ thuật lại tất cả để mọi người biết trên tổ quốc thân yêu của bà đã từng có một thời như vậy.

4. Kết luận

           Cuốn “Sống và chết ở Thượng Hải” của Trịnh Niệm đã ghi lại đầy đủ và chân thực hoàn cảnh xã hội Trung Quốc thời “Đại Cách mạng văn hóa”, những cuộc tranh luận, mưu toan để giành quyền lực chính trị về phía mình. Bà đã tái hiện lại khung cảnh Trung Quốc với cái nhìn khách quan nhất nhưng lại bằng chính nỗi đau của gia đình, của bản thân mình để phủ định lại “Đại Cách mạng văn hóa”, khiến cho độc giả được thưởng thức áng văn hiện thực chủ nghĩa. Cuốn tự truyện đã cho chúng ta thấy những năm tháng gian truân của một người phụ nữ trí thức đáng lẽ ra được sống hạnh phúc bên gia đình nhưng chính cuộc cách mạng đã vùi dập, đưa đẩy bà đến những đau khổ tột cùng. Sự tranh giành ấy đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề cho xã hội, sự trì trệ về kinh tế, thối nát về mặt văn hóa, đời sống của người dân ngày càng sa sút hơn. Nhân danh là Cách mạng văn hóa nhưng chưa thể hiện đúng được bản chất của nó, chỉ là những cuộc bạo hành, bạo loạn, đập phá lung tung, không có kỉ cương phép tắc. Qua tác phẩm tác giả muốn cho độc giả thấy được hiện thực xã hội, những mặt trái của Cách mạng văn hóa và nhắc nhở mọi người rằng Trung Quốc đã từng trải qua một thời kì như vậy.

Tài liệu tham khảo

  1. Trịnh Niệm, Đặng Thiền Mẫn dịch, Sống và chết ở Thượng Hải, NXB Văn nghệ TPHCM, 2001.
  2. Lê Huy Tiêu, Tiểu thuyết Trung Quốc thời kì cải cách mở cửa, NXB Giáo dục Việt Nam.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: