Về sói và Tô tem sói qua tiểu thuyết “Tô tem sói” của Khương Nhung

toi-ten-soi

Đặng Thị Cẩm Lụa – DH12NV

1. Dẫn nhập

Chắc chắn mọi người đã không ít lần nghe đến từ “vật tổ” hay từ “Tô tem”, tuy nhiên không phải ai cũng biết rõ về nó. Mỗi dân tộc chí ít đều có thờ cúng và sùng bái một loài vật, người Việt sùng bái chim lạc, người Hán thờ rồng, người Anh là sư tử, hay người Mông Cổ thờ sói… Với mỗi dân tộc, những con vật mà họ xem là vật tổ để thờ cúng đều mang một giá trị, một ý nghĩa tâm linh vô cùng sâu sắc.

Vật tổ được xem là con vật linh thiêng cao quý được trời sai xuống làm thần hộ mệnh cho con người, giúp đỡ con người. Mà thần hộ mệnh thì tất nhiên phải được tôn sùng, được thờ cúng và được xem là đấng bậc thiêng liêng cao quý. Không một ai được xúc phạm đến nếu không sẽ phải gánh lấy hậu quả, đó là sự trừng phạt của trời.

Như đã nói trên, mỗi dân tộc sẽ có một vật tổ khác nhau và tất nhiên sẽ có cách thờ cúng khác nhau. Người Việt và người Hán xem vật tổ là thần thánh, không dám xúc phạm dù là tinh thần hay thể xác “người Hán hễ gặp Tô tem rồng là vái lạy không thôi”. Thế nhưng người Mông Cổ thì lại khác, họ tô tem sói đấy nhưng họ vẫn đuổi sói, bắt sói thậm chí là giết sói và lấy da sói. Cách tô tem của họ nghe có vẻ lạ lẫm, có chút mâu thuẫn. Và chắc chắn mọi người sẽ đặt ra trong đầu một câu hỏi rằng: tại sao họ thờ sói mà lại giết sói, đó chẳng khác nào là sự xúc phạm đến thần linh, đến trời? Nếu thật sự bạn đang thắc mắc về điều đó thì hãy đọc “Tô tem Sói”, những trăn trở và suy nghẫm của bạn sẽ được Khương Nhung giải đáp một cách thật chi tiết, rõ ràng và cụ thể.

“Tô tem Sói” là một tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn Khương Nhung, tác phẩm ra đời đã lập tức tạo ra cơn sốt thị trường lớn với doanh thu và số lượng bán chạy cao nhất ở Trung Quốc. Tác phẩm được dịch bởi dịch giả Trần Đình Hiến, tác phẩm khi được dịch ra đã được sự hưởng ứng khá nhiệt tình của độc giả Việt Nam.

Trong tác phẩm, Khương Nhung đã viết một cách rất chân thực tựa như một thước phim quay chậm về cuộc sống của dân du mục Mông Cổ, họ sống cùng với sói, chiến đấu với sói và họ Tô tem sói. Nhà văn đã đưa ra hàng loạt những nguyên nhân thờ sói của người Mông Cổ cũng như những phẩm chất cao quý của loài sói mà chỉ dân du mục mới biết và hiểu. Vậy những lí do ấy là gì, phẩm chất của sói ra sao, ta sẽ cùng tìm hiểu rõ ở phần sau.

2. Nội dung

2.1. Thế nào là vật tổ Tô tem?

“Tô tem là một thuật ngữ mà tiếng Anh đã mượn từ một ngôn ngữ của người bản địa Châu Mỹ. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia do Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thuỵ, Nguyễn Đức Dương biên soạn (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005) giảng tô tem là “động vật, cây cỏ, đồ vật hoặc hiện tượng tự nhiên mà tộc người nguyên thuỷ coi là biểu tượng thiêng liêng của bộ tộc mình và tin rằng những thứ đó có mối liên hệ siêu tự nhiên, và có sự gần gũi máu thịt”.

Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967) cũng giảng tô tem là: “Động vật hay thực vật người nguyên thuỷ sùng bái, coi là tổ tiên của thị tộc. Vật tổ tô tem là một hình thức tôn giáo xuất hiện từ cuối thời công xã thị tộc, nó có nghĩa nôm na là họ hàng hay có họ hàng. Nó thể hiện niềm tin về sự gần gũi giữa con người với một loài vật cụ thể nào đó, họ tin rằng những loài vật đó có thể bảo vệ và che chở họ, họ nâng chúng lên thành thủy tổ và ra sức thờ phụng tôn kính như một đấng thần linh.

2.2. Sói và Tôtem Sói

Nhắc đến sói ai cũng nghĩ ngay đến một con vật với tính cách điêu ngoa, giảo quyệt, một loài động vật ăn thịt sống, có hai hàm răng nanh sắt nhọn với thủ pháp tấn công vô cùng nguy hiểm và ranh ma. Sói là loài động vật mà ai cũng ghê sợ dù là người miền núi hay miền xuôi.

Có thể nói sói là thảm họa của con người đặc biệt là những người chăn nuôi, nhưng ở đây người Mông Cổ trên thảo nguyên Gobi trong tác phẩm Tô tem Sói thì lại khác, họ không những không thù ghét sói mà ngược lại còn sùng bái sói, xem sói là loài vật linh thiêng, họ tô tem sói, thờ cúng sói mặc dù họ vẫn đang chiến đấu với lũ sói tàn bạo cắn chết hàng loạt cừu và ngựa của họ. Đó phải chăng là một nghịch lí?

Những mâu thuẫn về tô tem sói của người Mông Cổ vùng thảo nguyên Gobi ví như một khối tơ vò thật khó hình dung và phân tách mà Trần Trận, một thanh niên trí thức người Hán, chính là người phân tách khối tơ ấy ra thành từng sợi một thông qua nhân vật ông già Pilich, một lão dân du mục Mông Cổ đích thực và tôn sùng Sói một cách tuyệt đối.

Những tháng năm sống trên thảo nguyên, không ít lần chạm trán đọ sức với lũ sói đã khiến Trần Trận ít nhiều hiểu về sói, tính cách cũng như tô tem sói mà trước kia anh chỉ được biết lờ mờ thông qua sách vở. Trần Trận nhận ra rằng thảo nguyên xinh đẹp tồn tại được là nhờ có sói, sói là cứu tinh của đồng cỏ, sói là thần hộ mệnh của người dân Ơlon. Bởi lẽ sói chính là khắc tinh của động vật ăn cỏ như ngựa, cừu, thỏ mà đặc biệt là dê vàng. Dê vàng là loài động vật ăn cỏ đáng sợ nhất, là thảm họa của thảo nguyên. Sói giết dê vàng đem lại sự bình yên cho đồng cỏ. Theo lời ông già Pilich: “thảo nguyên là sinh mạng lớn, dê vàng, thỏ, rái cá cạn là những sinh mạng nhỏ. Trời sai sói xuống tiêu diệt những sinh mạng nhỏ để bảo vệ sinh mạng lớn là đồng cỏ của thảo nguyên”. Không có đồng cỏ thì cả sinh mạng lớn, sinh mạng nhỏ đều không thể tồn tại, sói chính là sứ thần của trời, thuận mệnh trời xuống để bảo vệ đồng cỏ, bảo vệ con người: “Trên thảo nguyên đáng thương nhất là cỏ. Người Mông Cổ thương yêu nhất, đắm đuối nhất là cỏ thảo nguyên. Nếu bảo là sát sinh, dê tàn sát cỏ còn dữ hơn máy cắt cỏ. Dê ăn trụi cỏ thì là gì nếu không phải là sát sinh, là sát hại sinh mạng lớn thảo nguyên? Trên thảo nguyên, sinh mạng lớn bị giết thì các sinh mạng nhỏ cũng chết sạch. Khi đã thành cái họa thì dê vàng đáng sợ hơn sói. Thảo nguyên có hoạ trắng, họa đen, còn có hoạ vàng. Xảy ra họa dê vàng có khác gì dê ăn thịt người!”. Đã có lần Trần Trận trong thấy đàn sói hung hăng bố trận bắt dê vàng, chúng lùa dê vào đầm lầy và khóa chân dê trong vũng đầm lầy đầy băng tuyết ấy, thủ đoạn của sói quả thật vô cùng tinh vi và nham hiểm. Và chính như thế Sói đã đem thức ăn đến cho người. Những con dê vàng sau khi bị lùa vào đầm lấy lũ sói cũng đi mất cũng là lúc con người thu hoạch sản phẩm mà sói đem lại. Binh pháp của sói có thể nói là loại binh pháp bậc nhất trong các loại binh pháp, sói biết suy tính, biết lợi dụng thời cơ và địa hình, biết chờ đợi thời cơ. Thành Cát Tư Hãn khi xưa đánh đâu thắng đó là do học được binh pháp của sói.

Sói là người thầy dạy binh pháp vô cùng tài ba của con người dân Gobi, người Mông Cổ tài năng trong đánh trận là nhờ học binh pháp từ sói, sói ranh ma nhưng vô cùng kiên nhẫn và thông minh, sói dạy con người tính kiên nhẫn mà kiên nhẫn chính là chìa khóa của thành công. Với người dân Ơlon, sói chính là con vật có đầy đủ những phẩm chất, tính cách để tộc người tôn thờ, sùng bái: “Sói mạnh mẽ, can trường, thông minh, năng lực tác chiến và chiến đấu tốt, đầy tính kiên nhẫn và bất ngờ, tính đoàn kết cao, sói cao ngạo nhưng ý thức kỷ luật tốt, sói mềm mại nhưng vẫn cứng cáp, sói kín đáo mà vẫn hiên ngang, sói ngang tàng và bất khuất, sói tiềm ẩn những sức mạnh kinh hồn mà hổ, báo, sư tử không thể nào có được, sói bản năng vô cùng nhưng cũng trí tuệ vô biên”.

Hơn hết phẩm chất quan trọng nhất của sói chính là khả năng không bao giờ bị thuần hóa và thuần dưỡng, phẩm chất không thể chung sống với dị chủng cho dù vẫn chung một giống loài, phẩm chất không bao giờ bị lai tạp. Trần Trận đam mê sói, trong một lần bắt ổ sói con anh đã giữ lại một sói con để nuôi dưỡng và lai tạo nó, tuy nhiên điều đó không chút dễ dàng đối với anh. Sống bên cạnh người và chó nhưng sói con vẫn không thể nào hòa lẫn được bởi những thú tính hoang dã, những tính cách riêng biệt của sói vẫn tồn tại ngay trong con sói, nó nghe tiếng con Nhị Lang sủa, tiếng sủa đầy dũng mãnh, nó cũng tập sủa, nó cố gắn lấy hơi có vẻ đầy khó khăn. Nhưng khi nghe tiếng sói tru ngoài xa nó đã dễ dàng thực hiện lại hành động đó mà không cần sự chỉ dạy của bất kì ai. Sói con chưa một lần nhìn thấy sói mẹ cũng chưa từng tham dự một buổi tiệc sói nhưng có vẻ nó rất thành thạo khi làm lễ nhập tiệc, nó nhảy múa và làm những động tác vô cùng khó hiểu mà chắc chắn chỉ có nó và sói mới hiểu được. Đó chính là bản năng của sói hoang dã.

Trong con mắt của người Ơlon, đặc biệt là ông già Pilich sói luôn là loài vật tài giỏi thuộc dạng bật nhất trong tất cả loài vật thậm chí cả con người. Người Mông Cổ dánh trận giỏi là nhờ sói, thông minh là nhờ sói, kiên trì là nhớ sói và khi chết được siêu thoát hay không là tùy thuộc vào sói. Không như người Việt hay người Hán khi người chết đi sẽ đem hỏa táng hay địa táng, người Ơlon thì khác, tục tập của họ là đưa người chết đi thiên táng, có nghĩa là đem cho sói ăn. Họ có bãi thiên táng hẳn hoi, khi người chết đi sẽ đem ra bãi thiên táng, xác chết rớt ở đâu thì nơi đó chính là nơi siêu thoát của người đó. Người nào khi chết mà xác được sói ăn hết tức là họ đã được siêu thoát lên trời, còn những kẻ không được sói ăn đồng nghĩa với việc họ không siêu thoát, là một kẻ tội lỗi. “Người ta cởi bỏ quần áo người quá cố rồi dùng thảm cuộn lại, buột chặt, cũng có người để nguyên quần áo đang mặc rồi dựng đứng trên xe bò, buộc ngang hai đầu càng xe một thanh gỗ. Vào giờ Dần, hai bậc đàn anh của người chết mỗi người cầm một thanh gỗ rồi lên ngựa phi tới bãi thiên táng, cái xác rớt xuống chỗ nào thì chỗ ấy là địa điểm thiên táng, kết thúc cuộc đời gian truân của một thành viên bộ tộc trên lưng ngựa. Nếu thi thể cuộn trong tấm thảm, thì hai vị huynh trưởng xuống ngựa mở tấm thảm ra, đặt người chết trên bãi cỏ, tênh hênh như lọt lòng mẹ. Từ lúc này trở đi, nguời chết thuộc về sói, về Thần linh. Còn như người chết có về Trời được không, còn phải xem sinh thời người ấy thiện hay ác”.

Có lần ông già Pilich đã vô cùng nổi giận khi biết Trần Trận nuôi sói con, mặc dù điều đó hoàn toàn xuất phát từ sự đam mê yêu thích, muốn tìm hiểu và khám phá bản tính trong sói, Trần Trận muốn hiểu sói, hoàn nhập với sói, tuy nhiên, ông cho rằng điều đó là xúc phạm đến thần linh, đến vật tổ, sói không phải là loài vật nên được chăn thả như cừu như ngựa, sói hoang dã nên phải thuộc về hoang dã. Đối với họ sói ngoài là vị cứu tinh sói còn là thần hộ mệnh, là con vật linh thiêng đáng để bảo vệ và thờ phụng. Có thể sói giết cừu, cắn ngựa, giết gia súc nhưng tất cả đều là những tổn thất nhỏ so với công lao to lớn mà sói mang lại cho thảo nguyên và con người thảo nguyên. Con người thảo nguyên thần thánh hóa sói, cho rằng sói biết bay, trời ban cho sói đôi cánh vô hình, mặc dù đã chứng minh rất cụ thể không có hiện tượng sói bay nhưng vẫn còn rất nhiều người tin rằng sói bay là thật bởi sói là vật thiêng, là con trời thì chuyện biết bay là điều tất nhiên. Sự thần thánh hóa khiến người Mông Cổ càng tôn sùng và nể sợ sói.

Trong Tô tem sói, Khương Nhung đã không ít lần đề cập đến vai trò quan trọng của những loại gia súc như ngựa và bò mộng, tuy nhiên chúng không phải là loài vật đáng để thờ cúng. “Tại sao giống ngựa lừng danh Mông Cổ lại không phải là linh vật tổ của người Mông Cổ? Ngựa Mông Cổ như khỏe mạnh, bản năng sinh tồn lớn, sức chịu đựng phi thường, khả năng thích nghi vô tận, nhưng cho dù rất ưu việt so với nhiều giống ngựa khác trên thế giới, tuy nhiên ngựa Mông Cổ vẫn không có tính chiến đấu cao vì bị thiến. Ngựa chiến phải là ngựa bị thiến để ngựa không phải bận tâm tìm bạn tình, chính vì vậy ngựa chiến không có khả năng chiến đấu cao với thiên địch, không thể nào chiến thắng được kẻ thù truyền kiếp là sói. Đặc biệt là, cho dù là ngựa Mông Cổ, loài ngựa này vẫn bị con người bắt giữ và thuần hóa dễ dàng. Khương Nhung khao khát một mẫu người Hán mới mẻ, không phải là mẫu người Hán có tính chiến đấu thấp, và dễ bị thuần hóa”. Chính vì người Mông Cổ sống du mục gần gũi với sói Mông Cổ nên người Mông Cổ đã phát hiện được những phẩm chất tuyệt vời của sói, và người Mông Cổ đã áp dụng sói tính vào mình, tôn thờ sói làm linh vật tổ. Chính vì vậy, người Mông Cổ đã có một sức mạnh vô biên. Khương Nhung ngưỡng mộ thành quả của người Mông Cổ trong quá khứ, và bộc lộ khao khát thành quả tương tự của Trung Quốc trong tương lai.

Trên thảo nguyên, cừu được xem là động vật hèn yếu và phụ thuộc nhất. Cừu ngây thơ đến ngu ngốc, cừu không có khả năng tự vệ cũng chẳng có khả năng cầu cứu. “Cừu có tính cách nhu nhược, bạc nhược, đớn hèn, bản năng sinh tồn kém, không có tính chiến đấu, không có phẩm chất kháng cự, không có tư duy và năng lực làm chủ. Cừu tượng trưng cho sự an phận và nô lệ”. Đàn cừu gợi cho Trần Trận nhớ đến một tác phẩm văn học của Lỗ Tấn khi diễn tả cảnh người Trung Quốc ồ ạt đổ xô đi xen người Nhật giết người Trung Quốc. Cừu cũng thế, khi một con bị sói ăn thì những con còn lại xúm quanh lại xem sói giết hại đồng loại của mình. Người Mông Cổ ví người Hán là những con cừu, đậm tính cừu, ăn cỏ nên nhát gan vô dụng. Còn người Mông Cổ thì khác, họ ăn thịt và tính cách của họ đậm tính sói, dũng mạnh, kiên trì và mưu mẹo. Tính sói đem đến cho người dân Mông Cổ nhiều thành công, tính sói hung dữ mưu mẹo và hơn hết sói mang tính cách tự do không lệ thuộc, sói sẵn sàng đổi mạng để giành lấy miếng ăn và trả thù một cách triệt để nếu bị xâm phạm đến lãnh địa và lợi ích. Sói có tính tự lập cao, không chịu sự ràng buộc của con người điều đó ta có thể dễ dàng nhận ra qua hình cảnh cuả sói con thà chết, bị kéo lê theo xe bò, dây da rằng xiết đứt cuống họng, móng bị mài cụt lủn, tóe máu, chứ nhất định không chịu khuất phục để bị con người dẫn dắt. Sói có thể chết nhưng không thể khuất phục trước kẻ thù, sói thà chết để giữ trọn phẩm chất sói chứ không thèm hòa lẫn cùng với bất kì loài vật nào kể cả chó, loài vật họ hàng của sói.

Sói là đại diện cho sự đoàn kết bầy đàn, sói sống rất có tình, đặc biệt là tình mẫu tử. người dân thảo nguyên khâm phục sói cũng vì điểm đó. Sói mẹ lúc nào cũng ra sức bảo vệ bầy con, những con sói mất mẹ được sự che chở và nuôi nấng bởi những con sói cái khác. Có lần Trần Trận đã trong thấy sói mẹ cố ăn thịt một con cừu để rồi khi về hang lại ói ra cho sói con ăn. Phụ nữ Mông Cổ chưa hẳn đã chăm con giỏi bằng sói. Sói mẹ có thể hy sinh thân mình để dẫn dụ, đánh lạc hướng kẻ thù rời khỏi bầy sói con. Sói thông minh trong việc đánh lừa con mồi và kẻ thù. Tất cả những phẩm chất mà con người Mông Cổ có được là do ảnh hưởng từ sói. Giọng hát và điệu nhạc ngân vang của người Mông Cổ có thể là bắt chước từ tiếng tru của sói, bởi tiếng sói tru có độ ngân và vang lớn, dài và xa, đôi lúc tiếng tru có vẻ bi ai như tiếng khóc của sói mẹ tìm con, đôi lúc lại mạnh mẽ của sói chúa như chứa đầy thù hận. Trần Trận nghe tiếng sói tru mà liên tưởng, suy tưởng ra biết bao cung bậc cảm xúc khác nhau của con người, đó là lời than vãn của người mẹ mất con, lời kêu gọi hỏi han về đứa con thất lạc, về cuộc sống hay là lời van lơn kêu gọi con trở về bên cạnh mẹ. Tất cả đều được Trần Trận diễn ra nhưng đầy tính chân thực.

Sói không giống với chim sẻ, khi bị bắt chim sẻ thường nhắm mắt tuyệt thực cho đến chết. Sói thì hoàn toàn ngược lại, chúng không những ăm mà còn ăn rất nhiều, bởi sói coi miếng ăn là sinh mạng, là điểm tựa cho sự sinh tồn. Sói không những phải sống mà còn phải sống thật tốt bởi ý thức về sự sống của sói là rất cao. Nói sói là loài vật rất thông minh quả không sai, sói biết đánh lừa kẻ thù ngay từ khi mới được sinh ra, khi bị phát hiện sói con thường nằm bất động giả chết chỉ khi ngửi được mùi thức ăn chúng mới thật sự tỉnh táo. Trần Trận gọi sói con là “Tiểu bá vương” rất đúng với bản tính sói, sói thích độc chiếm, không thích san sẻ cho vật ngoài loài. Trần Trận đã quan sát như quay lại thước phim về sự “bá vương” của sói con: “Ba con chó con tuy bị con sói gạt ra, phải ti những vú nhỏ hơn, nhưng vẫn no. Chúng bắt đầu trèo lên lưng lên cổ mẹ, căn đuôi cắn tai nhau. Riêng con sói con vẫn ti như điên. Trần Trận nghĩ, một ổ bảy con mà con nào cũng ngổ ngáo như những tên cướp, nếu không giành được vú, chắc chắn chết đói. Con này dù lớn nhất nhưng chưa chắc đã được bú no. Giờ đây, tại ổ chó này, con sói mới có đất dụng võ. Nó vừa bú vừa rên lên khoan khoái, ra sức ti, bất kể sức chứa được bao nhiêu”.

Trong Tô tem sói Khương Nhung nhấn mạnh vào đôi hàm răng của sói, hàm răng là bộ mặt của sói, là sự uy nghi dũng mãnh của sói, nói chính xác hơn nó là phẩm chất cao quý mà trời ban cho sói. Không có răng sói chẳng khác nào một phế nhân, một người không có mặt và nhân cách, khi ấy sói sẽ chọn cái chết. Cũng như con người Mông Cổ, phẩm chất là thứ quý giá nhất mà họ có, họ sống và giữ đúng phẩm chất của người dân thảo nguyên, tôn thờ sói và bảo vệ sói. Nếu ai không thờ sói, bảo vệ sói thì người đó chính là người Mông Cổ mất gốc, không được thừa nhận và khi chết sẽ không được siêu thoát. Dân du mục khác với dân nông canh, dân nông canh có thể thù sói giết sói nhưng dân du mục thì không, dân du mục giết sói nhưng không thể thù sói, phải bảo vệ sói không để loài sói phải đứng trên đà tuyệt chủng. Tô tem sói khác nhưng tô tem của các dân tộc khác là như thế.

3. Kết luận

Nói tóm lại, với những dân tộc khác, sói có thể được xem là thảm họa, là mối de dọa nguy hiểm của con người, đặc biệt là người Hán. Nhưng với người dân Mông Cổ, sói là loài vật linh thiêng, là con trời, do trời sai xuống bảo vệ đồng cỏ. Sói bảo vệ sinh mạng lớn bằng cách giết hại sinh mạng nhỏ. Sói còn là cầu nối giúp hồn người chết được siêu thoát.

Người Mông Cổ tôn thờ sói, tô tem sói và học tập những phẩm chất tốt đẹp từ sói, sói là người bạn của dân du mục, sói bảo vệ đồng cỏ mà đồng cỏ là sinh mạng. Có thể nói ngay rằng, Tô tem sói khá bình thường về mặt nghệ thuật, diễn biến tâm lý nhân vật rất tuyến tính đơn giản, không mâu thuẫn lớn, không đặc sắc, nghèo yếu tố “tiểu thuyết”, văn phong dáng dấp nghiệp dư, bút lực không thâm hậu, thiếu chiều sâu suy tư. Toàn bộ tác phẩm như một ghi chép mang tính nghiên cứu về hệ sinh thái thảo nguyên, về loài sói, về người dân du mục. Tác phẩm dàn trải đều đều đôi lúc gây sự nhàm chán. Chuyển thể điện ảnh sẽ là một thất bại có thể dự đoán trước.

Khương Nhung đã kiến tạo được những trang viết hết sức đặc sắc về thảo nguyên, từ những quan sát tỉ mỉ, những tư liệu chính xác thu lượm được trong thời gian lưu lại ở thảo nguyên Ơlôn: nhân vật Trần Trận, một thanh niên trí thức Bắc Kinh tình nguyện về vùng thảo nguyên Ơlôn của khu tự trị Nội Mông tham gia thực tế sản xuất với vai trò của một “dương quan”. Cậu đã học hỏi và quan sát được rất nhiều điều về cuộc sống thảo nguyên và đặc biệt qua già làng Pilích người Mông Cổ với rất nhiều kinh nghiệm thảo nguyên. Trần Trận hiểu thêm về loài sói, một thứ tô tem của người du mục và về cân bằng sinh thái thảo nguyên, vai trò con người và sói trong sự cân bằng ấy.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: