Góp thêm ý kiến về việc giảng dạy Hán Nôm trong trường phổ thông

small_852Nguyễn Thanh Phong

Gần đây, đọc một số bài viết của các tác giả Minh Trí, Ngọc Thịnh, Giang Nam trên VNTB bàn về vấn đề có nên đưa Hán Nôm vào giảng dạy ở trường phổ thông hay không, chúng tôi thấy đây là một đề tài thú vị vẫn còn nhiều dư địa để tiếp tục bàn luận cho tường tận. Với tư cách là người từng nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm ở trường đại học, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ cá nhân xoay quanh Hán Nôm và vấn đề giảng dạy Hán Nôm hiện nay.

1. Đầu tiên, tôi nghĩ cần phải đả thông một số quan điểm, thành kiến không đúng về chữ Hán và chữ Nôm đang tồn tại hiện nay:

1.1. Nhiều người cho rằng, quay lại học tập chữ Hán chữ Nôm là quay ngược trở lại cái trì trệ, lạc hậu của thời phong kiến trong quá khứ; là biểu hiện của tư tưởng nô dịch lệ thuộc; không phù hợp với xu hướng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hướng về các giá trị tự do dân chủ trong tương lai.

Đây là một quan điểm sai lầm. Ai cũng biết chữ Hán là loại chữ viết quan phương chính thống trong các triều đại phong kiến Việt Nam, lẻ tẻ một số vị vua có ý thức tự chủ tự cường đã đề xướng sử dụng chữ Nôm thay chữ Hán nhưng việc này không diễn ra thường xuyên và hệ thống. Suốt hơn ngàn năm phong kiến độc lập tự chủ đó, chữ Hán đã là công cụ ghi chép hầu hết mọi phương diện đời sống xã hội, từ chính trị đến văn hoá, triết học, lịch sử, văn học, địa lý, thiên văn, phong tục, tín ngưỡng… Tất cả mọi thành tựu văn hóa của dân tộc đều được bảo lưu trong các tư liệu thư tịch Hán Nôm. Trên thực tế, chữ Hán đã chuyển tải những tư tưởng đạo đức làm giềng mối ứng xử để thiết lập trật tự xã hội, đã phản ánh tư tưởng, ý chí, tâm hồn dân tộc suốt chiều dài lịch sử. Vì vậy, học Hán Nôm trước hết vẫn là để tìm hiểu, khám phá kho tàng tri thức vô cùng phong phú và có giá trị của tổ tiên; tìm hiểu rõ hơn về cội nguồn dân tộc; định vị được chỗ đứng của mình trong không gian và thời gian của lịch sử, trong sự đối sánh với các quốc gia khác trong khu vực để sáng suốt tìm một lối đi hướng cả dân tộc về tương lai.

Thông qua tư liệu Hán Nôm, chúng ta cũng có thể mở tung cánh cửa để bước ra khu vực, thu lượm những vốn khôn của nhân loại được chuyển tải bằng công cụ chữ Hán để làm giàu cho kho tàng văn hoá của mình. Mà đã là vốn khôn thì cần phải học, bất kể của Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc… hay một quốc gia nào có sử dụng chữ Hán khác. Đành rằng xã hội phong kiến so với hiện nay mang rất nhiều khuyết điểm như độc tài, bảo thủ, trì trệ, mị dân…, chữ Hán luôn là công cụ phục vụ những mưu đồ chính trị đen tối của người cầm quyền, nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng chữ Hán còn được dùng để cất lên tiếng nói đấu tranh, bảo vệ công bằng, lẽ phải ; đòi hỏi tự do tiến bộ trong tư tưởng, bênh vực cho số phận con người… Đó là gì nếu không phải là những giá trị tiến bộ, hướng về cuộc sống hiện đại của tương lai.

Hiện nay, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ vẫn sử dụng chữ Hán như là công cụ giao tiếp chủ yếu hoặc thứ yếu, giảng dạy truyền bá Hán học từ bậc tiểu học đến đại học như : Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao, Nhật Bản, Hàn Quốc… Họ vẫn bảo tồn tốt đẹp các giá trị văn hoá dân tộc, họ vẫn hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châu, vẫn tôn trọng tự do dân chủ và công bằng xã hội, vẫn chìa tay ra để giúp đỡ các dân tộc nghèo khó trì trệ, vẫn sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ quyền lợi dân tộc mình… Họ hoàn toàn không bị lệ thuộc vào quan điểm của một ai khác, thậm chí của dân tộc sáng tạo ra chữ viết đó. Nói vậy để thấy rằng, không thể đánh đồng chữ Hán với những biểu hiện tiêu cực tồn tại trong xã hội phong kiến; với sự trì trệ, khiếp nhược và lệ thuộc vào kẻ khác.

Nhân đây, cũng nên nói thêm một điều rằng, giới học thuật Việt Nam, nhất là giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đang rất yếu thế hơn so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác trong khu vực Đông Á. Trong khi nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam phải tiếp cận tư liệu trong quá khứ dân tộc mình bằng bản dịch chữ quốc ngữ vì sự hạn chế về vốn hiểu biết Hán Nôm, thì các đồng nghiệp ở các nước xung quanh đã đọc và nghiên cứu về Việt Nam trên văn bản gốc chữ Hán của Việt Nam. Điều này góp phần khiến cho chất lượng nghiên cứu trong một số lĩnh vực xã hội nhân văn ở Việt Nam còn hạn chế so với khu vực. Vì vậy, việc tăng cường kiến thức Hán Nôm ở một số chuyên ngành sâu cần được quan tâm đẩy mạnh, để học thuật Việt Nam có thể dễ dàng chuyển tiếp vào quỹ đạo học thuật của khu vực.

1.2. Một số quan điểm khác cho rằng, học Hán Nôm chỉ là học chữ Hán và chữ Nôm, hiểu biết Hán Nôm nhất thiết chỉ có được nhờ biết chữ Hán và chữ Nôm.

Những quan điểm này cũng không đúng. Chữ Hán dù là sản phẩm ngoại lai được du nhập từ phương Bắc, nhưng trong quá trình hàng ngàn năm sử dụng, ấn tượng về sự ngoại lai trong tâm thức người Việt khá mờ nhạt, ý thức về sự vay mượn cũng không rõ ràng ; chữ Hán đã được dung nạp và thừa nhận sâu rộng trong giới lãnh đạo và trí thức dù đa số người dân vẫn không biết đọc biết viết.

Gắn liền với chữ Hán chữ Nôm, như trên đã nói, là rất nhiều hệ thống kiến thức, kinh nghiệm xã hội liên quan vô cùng phong phú. Với công cụ chữ Hán là chữ viết của một hệ thống ngôn ngữ, mỗi người tìm hiểu các lĩnh vực khác nhau thì tiếp cận với các tài liệu chữ Hán khác nhau. Người nghiên cứu lịch sử thì ngoài đọc hiểu chữ Hán chữ Nôm phải bổ sung kiến thức lịch sử, người nghiên cứu văn học thì bổ sung kiến thức Ngữ văn, người nghiên cứu triết học thì phải tìm hiểu thêm kiến thức triết học… Đương nhiên trong hoàn cảnh văn sử triết bất phân thì kiến thức bổ trợ của các lĩnh vực có phần giao thoa nhau. Nói như vậy để thấy rằng, chữ Hán chữ Nôm chỉ là công cụ nền tảng, xung quanh nó còn là hệ thống kiến thức chuyên ngành sâu và hẹp vô cùng phong phú. Đó là chưa kể việc ứng dụng Hán Nôm vào nhiều lĩnh vực khác như : kiến trúc, phối cảnh, thư pháp, hội hoạ, thiền học…

Thế nên, khi bàn luận về việc giảng dạy chữ Hán ở trường phổ thông, cần phải thấy rõ là giảng dạy chữ Hán với tư cách một văn tự trong một hệ thống ngôn ngữ, hay là văn tự chuyển tải một hệ thống tri thức của lĩnh vực nào đó. Chẳng hạn, cần phân biệt rõ giảng dạy chữ Hán bao gồm phân tích các nét, bộ thủ, nghĩa gốc, nghĩa mở rộng với việc dạy chữ Hán trong các đoạn thơ, đoạn tư liệu lịch sử, đoạn ghi chép về phong thổ địa lý, đoạn trình bày tư tưởng triết học, đoạn sấm truyền bói toán…

Một điều nữa là, kiến thức Hán Nôm không nhất thiết chỉ tiếp cận được thông qua công cụ chữ Hán chữ Nôm. Rất nhiều kiến thức xoay quanh chữ Hán chữ Nôm như kiến thức từ nguyên, điển cố điển tích, thi liệu văn liệu… vẫn có thể tìm hiểu được thông qua tư liệu sách vở bằng chữ quốc ngữ. Thực tế là có rất nhiều chuyên gia giỏi về lịch sử, văn hoá, văn học cổ… mà không giỏi hoặc không biết chữ Hán chữ Nôm. Đương nhiên, nếu được hỗ trợ thêm công cụ Hán Nôm, chắc chắn việc mở rộng nghiên cứu và đào sâu chuyên môn của họ sẽ phát huy được ưu thế hơn.

1.3. Không nhầm lẫn Hán Nôm với tiếng Trung, chữ Hán cổ với chữ phồn thể

Chữ Hán chữ Nôm trong các văn bản cổ hiện nay hầu như đều bị xem là tử ngữ, tức là một loại chữ viết của quá khứ không còn được sử dụng trong các hoạt động giao tiếp hiện nay. Chữ Hán cổ có kết cấu phức tạp, được kết nối bằng ngữ pháp cổ theo lối văn ngôn, là hình thức chữ Hán thời phong kiến, mang tính cô đọng, ngắn gọn, hàm súc, giàu hàm lượng văn hoá.

Còn tiếng Trung (tiếng Hoa) hiện đại là một sinh ngữ, được sử dụng trong các hoạt động giao tiếp hiện nay ở các cộng đồng người Hoa trên thế giới. Ở Đài Loan, Hồng Công thì sử dụng chữ phồn thể, ở Trung Quốc và nhiều nơi khác thì sử dụng chữ giản thể. Người biết chữ phồn thể đa phần đều có thể đọc chữ giản thể, nhưng người biết chữ giản thể chưa chắc có thể đọc được chữ phồn thể. Chữ viết tiếng Trung dù vẫn là chữ Hán, thế nhưng ngữ pháp đã hoàn toàn thay đổi theo kiểu bạch thoại, thứ ngữ pháp khác rất xa với văn ngôn truyền thống. Thế nên, dù biết chữ Hán nhưng đa phần người Hoa hiện đại vẫn đọc không hiểu các văn bản cổ mà cần phải có phần dịch nghĩa hay chú giải. Điểm này khá giống với việc tiếp nhận văn bản cổ của người Việt, chỉ khác ở chỗ chúng ta còn có phần phiên âm Hán Việt để đọc chúng.

Chữ Hán cổ không hẳn là chữ phồn thể, bởi lẽ có rất nhiều chữ Hán giản thể đã tồn tại trong văn bản Hán văn cổ. Trong lịch sử phát triển của chữ Hán, một số chữ có nhiều hình thức viết khác nhau cùng đồng thời tồn tại, những người có thói quen sử dụng chữ Hán khác nhau thì ghi chép khác nhau, không thống nhất. Đến thời hiện đại, để đáp ứng nhu cầu giản lược bớt nét, người ta một phần dùng chữ Hán cổ có nhiều cách viết để xếp vào hai nhóm, một phần giản lược các bộ thủ theo nguyên tắc nhất định, một phần giản lược dựa trên nguyên tắc đồng âm hoặc gần âm với chữ khác… Vì vậy, dù chữ Hán ở Đài Loan dùng là chữ phồn thể, nhưng do vẫn dùng ngữ pháp hiện đại nên về bản chất cũng là tiếng Trung hiện đại chứ không phải văn ngôn.

2. Có nên đưa Hán Nôm vào giảng dạy ở trường phổ thông, ở cấp tiểu học hay không ?

Đầu tiên, phải khẳng định rằng, cần tăng cường và mở rộng vốn hiểu biết về Hán Nôm, đặc biệt là chữ Hán và chữ Nôm, trong ít nhất là giới làm khoa học, giới giảng dạy các chuyên ngành về lĩnh vực xã hội nhân văn có gắn liền với tư liệu Hán Nôm; dần dà tiến tới mở rộng nhận thức về Hán Nôm cho mọi người, tạo chiếc cầu nối thông suốt để con người hiện đại quan tâm gìn giữ, tiếp nối vốn văn hoá truyền thống cổ xưa của dân tộc.

Có nên đưa Hán Nôm vào giảng dạy ở trường phổ thông, đặc biệt là từ cấp tiểu học hay không? Nếu thời điểm đặt câu hỏi này là năm 1945 (mà chính thức là 1954) ở miền Bắc, và 1975 ở miền Nam, thì theo quan điểm cá nhân, tôi sẵn sàng trả lời là CÓ. Còn nếu đặt ra câu hỏi trên trong thời điểm hiện nay, sau 70 năm gián đoạn ở miền Bắc và 40 năm ở miền Nam, thì có lẽ nên trả lời là KHÔNG.

Tại sao lại như vậy ? Chúng tôi xin được làm rõ quan điểm như dưới đây :

2.1. Đầu tiên phải trả lời câu hỏi Học Hán Nôm để làm gì ? Nếu học Hán Nôm để biết đọc chữ Hán chữ Nôm, nhằm mục đích kế thừa di sản văn hoá của cha ông, làm phong phú thêm đời sống tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đời sống văn hoá tư tưởng xã hội… thì chữ quốc ngữ vẫn có thể làm được điều đó. Năm 1945, khi chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, chữ Hán lùi dần vào quá khứ, dòng chảy văn hoá bị đứt gãy, không liên tục, các thế hệ sau dần trở nên lạ lẫm với chữ Hán và vốn sống truyền thống. Ngay sau đó, chữ quốc ngữ đã dần thay thế vai trò chữ Hán trong việc chuyển tải tinh thần dân tộc nhờ sự nỗ lực rất lớn của các bậc thức giả, mặc dù vẫn có nhiều hạn chế so với việc sử dụng chữ Hán.

Vì vậy, thay vì tất cả mọi người cùng học Hán Nôm thì nên chăng, chỉ cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ các nhà nghiên cứu chuyên trách thuộc các lĩnh vực chuyên môn đông đảo hơn, khai thác và chuyển tải vốn giá trị văn hoá tinh thần Hán Nôm đó của dân tộc sang chữ quốc ngữ để mọi người có điều kiện tiếp nhận. Học dăm ba chữ Hán chữ Nôm thì dễ, chứ học để tiếp cận với di sản dân tộc thì phải là một kỳ công, trong khi trẻ em ngày nay cần phải học nhiều thứ thực tế, gần gũi và cần thiết hơn.

2.2. Về mặt nhân lực, rõ ràng chúng ta chưa có đội ngũ giáo viên có khả năng giảng dạy Hán Nôm suốt từ tiểu học đến trung học phổ thông. Nếu tận dụng đội ngũ giáo viên Ngữ văn giảng dạy chữ Hán thì rõ ràng thời gian dành cho môn học này phải rất nhiều, một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt 20 chữ Hán có lẽ phải mất không dưới 2 tiết để giải thích cắt nghĩa cho học sinh nắm về mặt văn bản, đó là chưa nói người học phải dành thời gian học viết thật nhiều lần để không quên nó. Còn để đào tạo đội ngũ giáo viên chuyên trách giảng dạy Hán Nôm cho trường phổ thông thì cần khoảng thời gian dài hơn nữa, mà trên thực tế, không cần phải tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để làm như vậy.

2.3. Về đặc trưng học tập Hán Nôm, vì chữ Hán chữ Nôm có số lượng rất nhiều nên việc học tập nó phải là suốt đời, một người muốn giỏi Hán Nôm ít nhất phải cần 4-8 năm chăm chỉ học tập và nghiên cứu về nó. Đó là chưa nói người đó cần có những tố chất thích hợp để học tập Hán Nôm như : đam mê, kiên trì, chịu khó, ham học hỏi, có phương pháp học đúng cách, có năng khiếu… Thời phong kiến, ai muốn học gì làm gì đều phải thông qua chữ Hán, ai muốn tiến thân làm quan cũng phải học chữ Hán. Thời đó không nhiều các môn khoa học như hiện nay, người học chủ yếu đọc sách văn sử triết học, làm thơ làm phú ngâm vịnh. Nhờ học tập trung và toàn tâm toàn sức dưới sự hướng dẫn của những thầy đồ uyên thâm mà họ thành tài, đó là chưa kể có rất nhiều kẻ học hoài không khôn nổi như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Còn trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, làm sao để học chữ Hán tới nơi tới chốn, để những vốn học Hán Nôm của mọi người được trao dồi thường xuyên, không bị mai một vì xếp xó lâu ngày là một vấn đề nan giải.

2.4. Hiện nay, học sinh phổ thông Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn bắt buộc phải học chữ Hán. Điều này là đương nhiên bởi trong chữ viết Nhật có sử dụng rất nhiều chữ Hán. Chữ Nhật và chữ Hàn Quốc là những thứ chữ ghi âm được sáng tạo dựa trên việc lược bớt nét của chữ Hán, tương đương về mặt tính chất với hai thứ chữ đó ở Việt Nam là chữ Nôm. Chữ Nôm cũng là thứ chữ ghi âm tiếng Việt được cấu tạo dựa trên việc vận dụng bộ thủ và các nét chữ Hán, thế nhưng không theo hướng giản lược mà phần lớn các chữ được sáng tạo theo hướng chồng xếp các chữ Hán, các bộ thủ lên nhau nên rất phức tạp, mỗi người một kiểu chưa thống nhất. Sau khi độc lập, Việt Nam chuyển hẳn sang sử dụng chữ cái Latinh, hoàn toàn khác hẳn về mặt hệ hình chữ viết so với chữ Hán. Vì vậy, ta có thể học tập Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc học tập, bảo tồn, phát huy di sản chữ Hán, còn việc giảng dạy chữ Hán ở bậc phổ thông không nhất thiết phải áp dụng.

2.5. Dấu ấn của ngôn ngữ Hán trong tiếng Việt hiện vẫn còn khá rõ nét, tiêu biểu là hệ thống từ Hán Việt khá phong phú. Về cơ bản, chúng ta đã sử dụng hiệu quả nhóm từ này trong giao tiếp hằng ngày, một bộ phận nhỏ những từ ít xuất hiện đang bị sử dụng nhầm lẫn do không hiểu từ nguyên của nó. Việc chiết tự để phân tích ý nghĩa, tìm hiểu ngọn nguồn chữ viết, nghĩa gốc hay nghĩa mở rộng, nghĩa phái sinh có lẽ phù hợp hơn đối với những người làm công tác học thuật, các nhà nghiên cứu, các nhà viết văn hay làm báo. Vì vậy, có lẽ nên để cho những ai có nhu cầu đào sâu tìm hiểu tự ý thức học hỏi, không cần phải giảng dạy đại trà cho đa số những người ít hoặc không cò điều kiện sử dụng chúng. Hơn nữa, việc chiết tự chỉ phù hợp đối với loại chữ hội ý, quan điểm giải thích khi chiết tự cũng không thống nhất với nhau ở rất nhiều chữ, chủ yếu để phục vụ ý đồ của người muốn chiết tự. Cho nên, việc chiết tự chỉ mang tính chất minh hoạ, tham khảo chứ chưa hẳn mang tính đúng đắn tuyệt đối.

Tóm lại, tôi nghĩ việc đưa Hán Nôm vào giảng dạy đại trà ở trường phổ thông là không cần thiết. Việc cần nhất hiện nay là tăng cường đào tạo kiến thức Hán Nôm cho đội ngũ sinh viên đang học tập các chuyên ngành sâu liên quan đến tư liệu Hán Nôm. Mỗi khoa, viện khoa học xã hội và nhân văn cần có bộ môn Hán Nôm để giảng dạy chữ Hán chữ Nôm, đào tạo kiến thức Hán Nôm phục vụ cho từng chuyên ngành cụ thể, cho những ai đam mê yêu thích lĩnh vực Hán Nôm. Cần tạo môi trường học thuật cởi mở, hiện đại, đa dạng, đa màu sắc để góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

Trên đây là những suy nghĩ cá nhân, có gì sai sót mong được các bậc cao minh niệm tình chỉ bảo !

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: