Vài đặc điểm không – thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” của Tào Đình

sorry_jpgto-1345689943_480x0

Phan Thanh Điền – DH12NV

Tóm tắt

Tào Đình là nhà văn nổi tiếng trên văn đàn văn học đương đại Trung Quốc. Những tác phẩm của cô luôn mang tính sáng tạo táo bạo, gây không ít bất ngờ cho giới độc giả trong và ngoài Trung Quốc đại lục. Tiểu thuyết “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” được viết với sự kết hợp đan xen giữa phương pháp viết truyền thống và hiện đại, tuy nhiên, yếu tố hiện đại có phần áp đảo bởi sự mạnh dạn thể hiện của tác giả. Bài viết này tập trung tìm hiểu các biểu hiện không gian và thời gian nghệ thuật nổi trội trong tác phẩm, từ đó chỉ ra tác dụng của chúng trong việc phản ánh nội dung tư tưởng của tác phẩm.

Từ khoá: Thời gian nghệ thuật, Không gian nghệ thuật, Xin lỗi, em chỉ là con đĩ, Tào Đình, Văn học đương đại Trung Quốc

1. Dẫn nhập

Tào Đình (Bảo Thê) sinh năm 1985 là nhà văn nữ trẻ tuổi nổi danh nhờ dòng văn học mạng. Tuy còn trẻ tuổi nhưng các sáng tác của cô luôn được sự quan tâm chú ý của độc giả, đặc biệt là những người trẻ. Từ lúc bắt tay vào sáng tác, Tào Đình đã gặt hái được nhiều thành tựu qua các tác phẩm được biết đến như: “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ”; “Yêu anh hơn cả tử thần”; “Thiên thần sa ngã”; “Hồng hạnh thổn thức”,… Trong đó, tác phẩm “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” có thể được xem là cột mốc đánh dấu sự dấn thân của tác giả vào con đường văn nghiệp.

Tác phẩm “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” được đăng tải lần đầu trên mạng book.mop và Sohu của Trung Quốc. Khi vừa xuất hiện, tác phẩm đã nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt từ phía độc giả và được bình chọn là tác phẩm kinh điển của dòng văn học mạng Trung Quốc. Bản dịch tiếng Việt đầu tiên được đăng trên weblog Trang Hạ đã thu hút hàng nghìn lượt xem mỗi ngày và không ngừng gia tăng. Đến tháng 3 năm 2007, tác phẩm được BachvietBooks mua bản quyền từ tác giả Tào Đình và từ đó “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” trở thành cuốn sách bán chạy nhất của BachvietBooks sau nhiều năm liên tiếp với rất nhiều lần tái bản. Tác phẩm không chỉ gây sự chú ý của độc giả vào tiêu đề nóng bỏng mà nó còn mang một nội dung sâu sắc về tình yêu của những người trẻ trong thời kì hiện đại. Tình yêu, tâm lý, cảm xúc cùng hoà quyện vào nhau tạo nên một câu chuyện tình buồn, vừa thực lại vừa hư. Tất cả cùng mang đến cho độc giả một cái nhìn mới về tình yêu của con người thời hiện đại.

Trong quá trình tiếp nhận các tác phẩm văn học, người đọc thường chỉ chú ý đến các yếu tố cốt truyện, tình tiết truyện hoặc nhân vật,… Dĩ nhiên, đó là các yếu tố quan trọng của một tác phẩm, nhưng chúng chưa phải là tất cả để cấu thành nên một tác phẩm nghệ thuật. Trên thực tế, có hai yếu tố cũng giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng nên một tác phẩm nhưng thường hay bị người đọc lãng quên đó chính là “không gian nghệ thuật” và “thời gian nghệ thuật”. Bất kì một yếu tố nào trong tác phẩm cũng không thể vượt qua được giới hạn của thời – không. Từ nhân vật, tình huống truyện đến điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, tất cả đều được đặt trong không gian và thời gian nghệ thuật được chính tác giả xây dựng. Chính vì những điều như thế, trong bài viết này, người viết sẽ tập trung khai thác và làm rõ tưởng quan giữa hai yếu tố không gian và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” nhằm mục đích làm sáng rõ giá trị của hai yếu tố trên cũng như góp phần làm nổi bật lên giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Không gian nghệ thuật là hình tượng không gian có tính chủ quan và tượng trưng, là sản phẩm sáng tạo của nhà văn nhằm thể hiện hình tượng con người và một quan niệm nhất định về cuộc sống. Nó biểu hiện mô hình thế giới thu nhỏ của con người, là quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của chính nhà văn. Thời gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật, là thời gian được xây dựng trong tác phẩm với độ dài của riêng nó. Nhịp điệu thời gian nhanh hay chậm, chiều thời gian là hiện tại, quá khứ, tương lai tuỳ thuộc vào ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Thời gian nghệ thuật là thời gian tâm lý, nó không đồng nhất với thời gian vật lý bên ngoài. Thời gian nghệ thuật cũng là một hình tượng nghệ thuật và là sản phẩm sáng tạo của nhà văn.

2. Không gian đời thực và thời gian vật lý

Các tác phẩm văn học hiện đại thường sử dụng thời gian đa tuyến. Tức là các chiều thời gian trong tác phẩm có thể bị xáo trộn liên tục tuỳ theo ý đồ nghệ thuật của tác giả. Có thể thấy rõ điều này qua các tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (Nguyễn Minh Châu) hay Nghệ nhân và Margarita (Mikhail Bulgacov). Thế nhưng trong tác phẩm “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ”, Tào Đình phần lớn đã sử dụng một lối thi pháp cổ điển, xây dựng thời gian nghệ thuật tuyến tính.

Câu chuyện bắt đầu được tập trung vào hai nhân vật trung tâm Hà Niệm Bân và Hạ Âu với định tuyến thời gian tịnh tiến. Từ lần gặp gỡ đầu tiên của hai năm trước đến mốc thời gian hiện tại thông qua lời kể của nhân vật Hà Niệm Bân, mối quan hệ giữa Niệm Bân và Hạ Âu đã được phủ lên một nếp sống đời thường với những tình tiết, sự kiện rất đời thường, câu chuyện nhờ đó mà thực hơn bao giờ hết. Thời gian trong truyện là thời gian của cả một cuộc đời con người (Hạ Âu) nhưng nó lại không dài, khoảng 28 năm và lại không trọn vẹn. Thời gian tuyến tính nhưng lại bị nhảy đoạn, người đọc muốn xác định được thời gian phải thông qua một vài phép cộng trừ cơ bản để có thể nắm được, “Một năm sau, tôi sắp ba mươi hai tuổi. Tôi vẫn không gặp lại Hạ Âu.” [Chương 12, trang 116], “Tôi quay lại, kinh ngạc nhìn người đàn bà gọi tên tôi, dắt một thằng cu chừng mười tuổi” [Chương 16, trang 141]. Chính vì thời gian trong tác phẩm được xây dựng tuyến tính nên kéo theo việc không gian đời thực được làm nổi bật và cả hai yếu tố đã hỗ trợ nhau để làm nên tính thực của tác phẩm.

Không gian đời thực ở đây là một nội hàm rộng, bao gồm nhiều khoảng không gian khác nhau: “Không gian phố thị”, “Không gian trường học” “Không gian căn hộ”, hay đó còn là một không gian chật hẹp trong một chiếc xe ô tô. Mỗi khoảng không gian đều mang một ý nghĩa nghệ thuật nhất định. Không gian phố thị sầm uất, náo nhiệt, có đủ mọi tiện nghi nhưng bản thân nó không thể đáp ứng hay thay thế được những nhu cầu tình cảm của con người. Ngược lại, con người lại cảm thấy cô đơn cùng cực trong chính khoảng không gian hoạt náo, xô bồ đó. “Tôi đây, mặt mũi sáng sủa, nhưng suy cho cùng thì cũng chỉ là một người nghèo trong cái xó xỉnh của thành phố. Và tôi giống hệt như mọi thanh niên thành đạt ở thành thị, nghèo đến mức chỉ còn mỗi tiền bạc, và đầy những lý do hận đời chất chứa trong lòng” [Chương 2, trang 14]. Khoảng không gian phố thị lấp chìm con người trong nỗi cô đơn là vì thế, thế mới nói dù ở bất cứ đâu, tiến bộ hay lạc hậu, bình đẳng hay bất công, và dù trong bất kì xã hội nào, con người vẫn cần có tình thương giữa đồng loại, thứ mà vật chất không thể nào mang lại được. Hà Niệm Bân, nhân vật được bao bọc bởi khoảng không gian đó, luôn cảm thấy cô đơn, trống trải, luôn khao khát tình thương và đó cũng là tiền đề để câu chuyện tạo nên hình hài riêng của nó.

Trong mảng không gian căn hộ, đây là không gian xuất hiện xuyên suốt trong tác phẩm, là nơi ghi lại các biến cố, tình tiết truyện. Không gian căn hộ được tác giả xây dựng một cách sơ lược, không thật chi tiết. Đó là không gian căn hộ của Hà Niệm Bân, một con người thành đạt, một căn hộ đủ tiện nghi nhưng không hề có hơi ấm tình người khi Hạ Âu không tồn tại trong nó “Tôi liền trở về, mở cánh cửa, ập vào mũi vị hoang hoải trống vắng. Khi ngôi nhà có đàn bà, người ta không dễ nhận ra thứ hơi ấm đã quá quen. Nhưng khi người phụ nữ ấy rời xa, bạn sẽ nhận ra thứ mùi hương đã làm bạn mê mẩn trong những ngày xa xưa” [Chương 12, trang 111-112]. Đây cũng chính là khoảng không lưu giữ nhiều kỉ niệm của cả hai nhân vật chính, họ yêu say đắm, giận nồng nàn và cũng cào xé tâm hồn trong những cơn đau tâm tưởng. Tào Đình dường như không chủ trương cho nhân vật của mình trải nghiệm trong những nơi xa hoa tráng lệ của thành phố, ngược lại tác giả chủ trương đặt nhân vật của mình trong bối cảnh sinh hoạt gia đình đời thường để làm rõ nên những nét tâm lí của con người thời đại. Đó là thời đại mà vật chất tồn tại một cách song song với con người, dẫu hiện đại, dẫu tiện nghi nhưng chắc chắn một điều, vật chất không thể thay thế cho tình người và dĩ nhiên nó không thể mang lại cảm xúc như con người đã mang lại cho nhau.

Trong khoảng không gian đời thực này ta còn thấy được một vài hình ảnh hiện thực của xã hội Trung Quốc thời hiện đại. Không gian của khu chung cư xập xệ thoáng qua trong kí ức của Hạ Âu, “một dãy nhà cấp bốn” nơi trú ngụ của những người nghèo, một bộ mặt khác của thành phố nhiệt náo, cao sang. “Trước mặt, một dãy nhà cấp bốn, trẻ em, phụ nữ thong thả trong ánh nắng hè, hiếu kì nhìn chúng tôi – hai người ăn mặc sang trọng đi ăn món nhà quê” [Chương 4, trang 37]. Chính vì sự khác biệt giữa các không gian sống khác nhau cho nên Hạ Âu có vẻ ngoài trầm lắng hơn, lõi đời hơn dù cho tuổi đời hãy còn thấp, ngược lại Hà Niệm Bân dù đã gần bước sang tuổi 30 nhưng anh vẫn còn bỡ ngỡ trước sự khác biệt giữa nếp sinh hoạt giàu nghèo, và từ đó người đọc ngầm thấy được Hạ Âu, một cô gái bí ẩn, khó hiểu luôn ngầm giữ một nét suy nghĩ không thể đoán được. Và điều đó làm nên nét hấp dẫn của nhân vật thông qua việc phân tích không gian nghệ thuật. Bên cạnh đó, dù chỉ xuất hiện như một tư tưởng bên lề thế nhưng ta vẫn thấy được đâu đó vẫn còn khoảng cách giàu nghèo, sự chênh lệch mức sống giữa những con người cùng tồn tại trong một không gian sống. Đó chính là một thực trạng của sự phát triển ồ ạt nhưng lại chưa chú trọng cân bằng mức sống của con người ở Trung Quốc. Họ chú trọng phát triển kinh tế nhưng lại để quên những nhu cầu thiết yếu của con người. Mà việc đảm bảo một cuộc sống đầy đủ vật chất lẫn tinh thần lại là điều hết sức cần thiết cho một đất nước muốn phát triển vững bền.

3. Không gian tâm tưởng – thời gian tâm lý:

Trong giai đoạn văn học hiện đại, người đọc đã không còn xa lạ với những chi tiết hồi tưởng, độc thoại nội tâm của nhân vật. Bước vào “Xin lỗi, em chỉ là con đĩ”, ta có thể bắt gặp hàng loạt đoạn độc thoại nội tâm dưới dạng lời trần thuật gián tiếp một giọng và gián tiếp hai giọng. Một điều đặc biệt là, những lời độc thoại đó chỉ có ở nhân vật Hà Niệm Bân, tức người kể. Xoay quanh đời sống nội tâm phong phú của nhân vật này, tác giả đã tạo nên một trường không gian riêng biệt khác hẳn với không gian đời thường bên trên, đó là “không gian tâm tưởng”. Bên cạnh đó, việc tạo nên không gian tâm tưởng cho mỗi nhân vật Hà Niệm Bân đã tạo nên nhiều hiệu quả lí thú.

            Thứ nhất, câu chuyện được kể từ chính nhân vật Hà Niệm Bân, thế nên việc đưa nhân vật vào dòng suy tư, trăn trở về vấn đề đang xảy ra sẽ khiến cho người đọc có đồng cảm nhận với nhân vật. Những việc Niệm Bân không hiểu cũng chính là điều mà độc giả đang thắc mắc, câu chuyện do đó hấp dẫn hơn, người đọc không ngừng sang trang để cùng Niệm Bân giải thích những băn khoăn, vướng mắc. Chính việc xây dựng không gian tâm tưởng riêng cho nhân vật của mình, tác giả đã cho người trần thuật chọn điểm nhìn từ bên trong, điều này đã soi rọi được tâm lý của một người đàn ông trước những tình huống éo le trong tình yêu, những đau đớn, dằn vặt trong cách xử lí những tình huống đó. Bên cạnh đó, không gian tâm tưởng của nhân vật không phải là bất biến cố định mà luôn bị xáo trộn bởi những dòng suy tư, trăn trở về tình yêu của bản thân. Do đó, ta khó có thể chọn một mốc cố định để xác định không gian tâm tưởng của chính nhân vật, chỉ biết rằng, đó chính là nơi nhân vật sống thật với chính mình, đau với nỗi đau tâm tưởng vì người con gái anh yêu. “Không nói ra được cảm giác khi bạn nhìn thấy một con đĩ có hàng trăm ông chồng không liêm sỉ, khi về nhà giữa tình yêu thương của gia đình… Mà có lẽ khắp cả gầm trời này, chỉ có mẹ cô là dám yêu cô vô bờ bến như thế.” [Chương 3, trang 25], “Tôi chưa từng nghĩ tình yêu của tôi sẽ nhiều trắc trở. Tôi thích cuộc sống bình yên và hạnh phúc. Tôi cũng chưa từng nghĩ sẽ cưới một con đĩ. Tôi thích những người con gái thanh khiết và đẹp đẽ.”[Chương 8, trang 73].

Thứ hai, có những đoạn độc thoại của nhân vật mang tính chất của lời trần thuật gián tiếp một giọng và gián tiếp hai giọng, điều này đã tạo nên một cuộc giao lưu giữa người đọc và nhân vật. Người đọc có thể vừa đồng tình, vừa biết thêm thông tin, lại vừa có thể suy đoán nội tâm của chính nhân vật Hà Niệm Bân và cả chủ ý yêu ghét của tác giả thông qua những lời trần thuật đó. “Tim tôi bỗng nhói đau như tan vỡ. Tôi đau đớn ôm lấy cô, một người con gái tròn hai mươi tuổi; cô ấy như hang sâu, bí ẩn trong thần thoại, lại thuần nhất đến đau lòng.” [Chương 5, trang 49], “Tôi ép mình đừng so sánh hai người con gái, bởi Tiểu Mãn sẽ thua thê thảm” [Chương 12, trang 114].

Thứ ba, thông qua việc chỉ tạo nên không gian tâm lý cho nhân vật Hà Niệm Bân, tác giả đã làm cho Hạ Âu càng trở nên bí ẩn hơn, người đọc cũng như Niệm Bân từ những trang đầu đến trang cuối của truyện vẫn không thể nào nắm bắt được nội tâm của người con gái mang tên Hạ Âu. “Tôi chán ghét vẻ giả dối, khéo che đậy của cô vì lúc đó tôi không thể biết cô đang nghĩ gì. Trong đôi mắt to xinh đẹp kia là một màn phẳng lặng.” [Chương 5, trang 48]. Có lẽ, chính do những ẩn giấu nội tâm của chính nhân vật mà câu chuyện đã trở nên cuốn hút hơn, người đọc vô tình bị cuốn vào vòng xoáy muốn khám phá con người của Hạ Âu cũng bởi do nội tâm của cô đã bị phong kín với vẻ ngoài trầm mặc và nội tâm ẩn số, tất cả đã tạo nên sự thu hút ma mị.

Thế giới hiện tại và cả thế giới trong văn học, thời gian và không gian luôn tồn tại song hành và có tác động qua lại lẫn nhau. Trong tác phẩm, chính vì thời gian được xây dựng men theo tâm lý của Hà Niệm Bân thế nên không gian tâm tưởng đó cũng đã kéo theo một trường thời gian riêng biệt. Tại không gian tâm lý đó, thời gian được cô đọng đến mức tuyệt đối, không gian đã bẻ cong thời gian tạo nên một trường thời gian đặc biệt, một thế giới nội tâm riêng của Hà Niệm Bân. Thử lấy “Chương 11: Câu đố của đời anh” để làm rõ vấn đề này. Đây là một chương đặc tả sự thật, từ đó khêu lên nỗi đau đớn giữa Niệm Bân và Hạ Âu. Trong cả chương 11 đầy rẫy các sự kiện dồn dập lên nhau về sự thật cuộc đời của Hạ Âu, thế nhưng cả chương chỉ cô đọng trong thời gian tàn lụi của một điếu thuốc. Hạ Âu khóc, Hạ Âu nói, lần đầu tiên và duy nhất nhân vật này nói về những vấn đề thầm kín của cuộc đời cô. Nước mắt, suy tư trộn lẫn trong một không gian đêm khuya mịt mờ. Không gian tâm tưởng của Hà Niệm Bân cô đọng lại tưởng chừng chỉ tồn tại trong một giây thời gian thực. Thời gian dừng lại giữa một không gian buổi đêm đầy khói thuốc và sóng lòng. Những lời nói của Hạ Âu làm vỡ ra những suy nghĩ của Niệm Bân và cả người đọc, có cảm tưởng, cả câu chuyện về cuộc đời Hạ Âu như dồn hết trong khoảng thời gian điếu thuốc tàn.

Có một dạng không gian xuất hiện rải rác trong toàn tác phẩm nhưng với một nét đặc trưng và ý nghĩa riêng của nó đã gây nên sự chú ý của người đọc. Đó chính là không gian hồi tưởng. Như đã trình bày bên trên, không gian tâm tưởng là đặc trưng chỉ xuất hiện ở mỗi nhân vật Hà Niệm Bân, thế nên không gian hồi tưởng ở đây cũng là một mảng của riêng nhân vật này. Nói như thế không có nghĩa là dạng không gian này chỉ tập trung thể hiện nhân vật mà song song với nó là việc xây dựng cốt truyện và thể hiện cách cảm cuộc sống của chính tác giả. Không gian hồi tưởng được thể hiện dựa trên kí ức về hai nhân vật: mẹ của Hà Niệm Bân (không xuất hiện trực tiếp trong truyện) và Hạ Âu (khi đã ra đi, bắt đầu từ chương 12). Trong trường không gian hồi tưởng này, không gian và thời gian được đặt trong thời quá khứ và liên tục bị đứt đoạn. Không gian và thời gian đã mở ra cho người đọc một xúc cảm không mới nhưng lại đầy dư vị. Đó là tình mẫu tử với những tháng ngày Hà Niệm Bân sống với người mẹ ruột. “Hồi đó, nhà có ba anh em, tôi là út. Mẹ thương tôi nhất. Khi nấu cơm thường kéo tôi ngồi bên. Thức ăn chín, tôi thích nhón vài miếng ăn trước, mẹ lấy tay phát nhẹ vào đầu tôi, mắng, đồ mèo ăn vụng.” [Chương 7, trang 70]. Dù chỉ là một kỉ niệm cá nhân của riêng nhân vật, nhưng nó lại gợi nên nhiều dư vị, một thứ tình cảm thiêng liêng trong phút chốc hiện lên. Không gian hồi tưởng của nhân vật dường như cũng được hiện thực hoá thành không gian hồi tưởng của riêng mỗi người đọc, một nơi ai cũng muốn tìm về, không gian bên mẹ. Nó giống như một quả ngọt mà người ta đã ăn qua nhưng chưa từng được thưởng thức lại, nay bỗng nhiên có người khơi lên, nó không gợi thèm mà lại gợi nhớ. Không gian tâm tưởng trong phút chốc đã điểm xuyết cho câu chuyện trở nên đậm đà hơn, ý vị hơn là vì thế.

Bên cạnh đó, không gian hồi tưởng và thời gian quá khứ còn xuất hiện một vài lần trong dòng ý thức miên man của Hà Niệm Bân khi đã rời xa Hạ Âu. Hình ảnh Hạ Âu của thời quá khứ luôn thường trực trong đầu Niệm Bân, nhiều đến nỗi người đọc biết được anh chưa một lần quên đi Hạ Âu. Đối với Niệm Bân, một con người luôn phải đấu tranh giữa lí trí và tình yêu thì Hạ Âu vẫn là người con gái đẹp nhất duy nhất anh yêu: “Tôi ép mình đừng so sánh giữa hai người con gái, bởi Tiểu Mãn sẽ thua thê thảm” [Chương 12, trang 114], “Bóng dáng người con gái đã mất đi trong ánh mặt trời giờ sao hiện lên rõ ràng! Phải chăng tôi vẫn giấu em trong tận cùng tâm tư? Trong trái tim tôi có một người con gái tên gọi là Vĩnh Viễn; em đứng trong ánh mặt trời đầu hạ, toàn thân lan toả một mùi hương nhẹ nhõm, vô hình” [Chương 15, trang 138-139]. Không gian của thời quá khứ gợi lại cho người người đọc những trang sách đã lật qua, vô tình nhìn lại ta mới thấy ta đã cùng hai nhân vật trải qua một mối tình nồng nàn say đắm với vai trò là người chúc phúc. Đó chính là lí do vì sao, không một độc giả nào lên tiếng giành quyền lợi cho Tiểu Mãn, một cô gái đáng yêu đã chọn Niệm Bân làm chồng, đã chịu thiệt thòi khi trong tâm khảm của chồng luôn tồn tại bóng hình Hạ Âu. Thời gian quá khứ trong tâm tưởng của Niệm Bân đã tô đậm thêm tình yêu giữa anh và Hạ Âu, nó khiến người đọc cũng phải tiếc nuối cho một mối tình đẹp nhưng lại dang dở, một sự đồng cảm giữa những con người xa lạ qua dòng suy tư trên trang giấy.

4. Kết luận:

Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là hai yếu tố quan trọng cấu thành nên một tác phẩm văn học. Nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật còn mở ra nhiều bình diện khác nhau như nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tạo dựng kết cấu,… Việc tìm hiểu không gian và thời gian nghệ thuật giúp chúng ta có thêm cơ sở để định giá tác phẩm, khẳng định tài năng và những đóng góp của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn học.

Vốn là một nhà văn nữ của nền văn học Trung Quốc đương đại, Tào Đình đã khẳng định được dấu ấn riêng của bản thân trong hàng vạn tác phẩm tiểu thuyết ngôn tình. Với lối viết táo bạo nhưng không kém phần lãng mạn, nhà văn đã làm nổi bật lên một mảnh đất tưởng chừng như không thể nào đào xới được nữa, một đề tài muôn thuở của văn học – Tình yêu. Thành công của tiểu thuyết đã góp phần khẳng định vị thế của dòng tiểu thuyết ngôn tình, một thể loại vốn bị những người đề cao văn học chính thống xem nhẹ về mặt giá trị văn học.

“Xin lỗi, em chỉ là con đĩ” một câu chuyện mang nhiều dư vị. Nó gợi cho người đọc một cảm nhận đúng đắn hơn về con người và tình yêu trong thời đại công nghiệp. Tình yêu là bản chất của con người, nó luôn tồn tại dù cho ở bất kì thời đại nào, bất kể khó khăn và thử thách ra sao. Tình yêu sẽ mãi là ngọn hải đăng trong đêm soi bước cho những con người cô đơn, lạc bước. Vì bởi lẽ, con người không cô đơn khi vẫn còn tình yêu.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Tào Đình. (2011). Xin lỗi, em chỉ là con đĩ. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
  2. Trần Đình Sử. (2011). Giáo trình Lí luận văn học – Tác phẩm và thể loại văn học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
  3. http://tiki.vn/author/tao-dinh.html (ngày truy cập 30/04/2015)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: