Vấn đề việc làm cho SV ngành Sư phạm – Một vài suy nghĩ

 

Minh hoa LAP

Minh họa LAP. Báo Tuổi trẻ

1. Vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay:

1.1. Khoảng 5 năm trở lại đây, tình trạng không tìm được việc làm hoặc tìm được việc làm nhưng không đúng chuyên ngành của sinh viên Khoa Sư phạm đáng để chúng ta lo ngại. Các bạn sinh viên đã dành suốt 4 năm quý giá nhất tuổi thanh xuân đời mình để khổ công xây dựng một nền tảng chuyên môn vững chắc theo nguyện vọng để bước vào đời. Gia đình các bạn đã chắt chiu khó nhọc để lo cho con em mình đi học với mong mỏi tìm được vị trí công tác trong xã hội. Tập thể cán bộ – giảng viên của Khoa cũng cố gắng làm hết sức mình để hoàn thành sứ mệnh mà xã hội giao phó. Ngân sách của tỉnh vẫn tiếp tục oằn mình để đầu tư cơ sở vật chất và mọi hoạt động chuyên môn để đào tạo ra những thế hệ giáo viên mới phục vụ công cuộc phát triển xã hội… Nói như vậy để thấy rằng, cái giá để đổi lấy mỗi khóa một ngàn mấy trăm sinh viên tốt nghiệp ra trường quả không hề nhỏ, nó là kết quả của sự chung tay phấn đấu của rất nhiều người.

Bù lại đó, theo quan sát cá nhân, số lượng sinh viên tìm được việc làm đúng chuyên môn còn quá ít. Số sinh viên tìm được việc làm gần đúng với chuyên môn cũng không hề lớn, đa phần các công việc này chỉ cần được đào tạo một khóa ngắn hạn chừng vài ba tháng là có thể đảm nhận. Vậy số lượng lớn sinh viên còn lại hoặc là thất nghiệp chờ cơ hội, hoặc là nộp đơn xin việc làm ở các cơ quan, xí nghiệp, công ty… không có liên quan đến chuyên ngành của mình. Nhiều sinh viên không còn cách nào khác phải đi dạy kèm, làm việc tạp vụ bán thời gian, chuyển qua học nghề khác hoặc làm kinh doanh, thậm chí không ít người phải tha phương cầu thực, làm công nhân lao động chân tay cho các công ty, xí nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh…

Một bộ phận khác quyết tâm đầu tư để học lên cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang… với niềm hy vọng sau khi tốt nghiệp có ưu thế hơn trong cạnh tranh việc làm, dễ dàng tìm được một công việc như mong muốn. Nhưng rõ ràng sự dấn thân này cũng ẩn tàng nhiều rủi ro, bấp bênh vì tiếp tục diễn tiến một nghịch lý là đầu tư quá lớn trong khi nhu cầu của xã hội chưa tương xứng hoặc chưa kích thích tạo ra nhu cầu mới cao hơn. Dĩ nhiên, cái “nhu cầu” được nói đến ở đây về dài hạn vẫn nằm trong sự khống chế và làm chủ của bộ máy lãnh đạo và quản lý xã hội.

1.2. Một điều rất đáng lo ngại khác là sự xáo trộn trong tâm lý dạy và học của cán bộ giáo viên và sinh viên:

– Về phía sinh viên, những người ưu tú nhất, có năng lực và phẩm chất phù hợp nhất sẽ không ưu tiên lựa chọn chuyên ngành Sư phạm mà có thể vì thực trạng này, sẽ chuyển sang đi theo một chuyên ngành khác. Nghĩa là chúng ta chỉ tuyển sinh được những sinh viên chất lượng trung bình và khá, không chọn được thành phần “tinh hoa” nhất bổ sung cho cái “đầu máy” kéo theo sự tiến bộ và phát triển xã hội. Các sinh viên đã được chọn vào, vì thực trạng này, sẽ có tâm trạng hồi hộp, lo lắng, “đứng núi này trông núi khác”, không toàn tâm toàn ý đầu tư cho chuyên môn để mang lại một chất lượng học tập xứng đáng, từ đó kéo theo chất lượng nhân lực được đào tạo ngày càng xuống dốc.

– Về phía giáo viên, vì chất lượng đầu vào không cao, sinh viên không có ý thức tự giác học tập và giảm dần sự tập trung cho chuyên môn, nên cũng giảm dần sự hứng thú đầu tư cho môn học, tâm huyết với nghề, từ đó xuất hiện tâm lý làm cho xong trách nhiệm của mình, không quan tâm đến chất lượng sinh viên được đào tạo thế nào nữa. Ở một số bộ môn, giảng viên cũng đang đau đáu với nỗi lo không có người học hoặc người học quá ít, dẫn đến việc dừng tuyển sinh một năm ở một số chuyên ngành.

1.3. Một điều không thể không chú ý là khả năng linh hoạt thích ứng với nhiều dạng công việc khác nhau của sinh viên sư phạm còn hạn chế. Một phần bởi định kiến bất di bất dịch rằng tốt nghiệp sư phạm chỉ có thể làm giáo viên hoặc công tác trong môi trường giáo dục, trông chờ một cách thụ động vào sự phân công nhiệm sở của cơ quan quản lý giáo dục, không hoặc khó có thể tìm việc làm trong một lĩnh vực khác; một phần bởi sinh viên chưa được rèn luyện thói quen tư duy năng động, tích cực, tự ý thức và tự chủ, thiếu định hướng lâu dài cho tương lai, thiếu những kỹ năng thích ứng cần thiết trong môi trường việc làm có nhiều biến đổi như hiện nay.

Thực trạng lãng phí và bất hợp lý này đáng để chúng ta lo ngại. Dĩ nhiên, vấn đề nan giải này không chỉ tồn tại trong ngành giáo dục, gắn liền với Khoa Sư phạm, mà đã trở thành nỗi lo của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác trong toàn xã hội; không chỉ diễn ra ở nước ta mà còn ở nhiều nước khác nữa.

2. Phân tích nguyên nhân:

2.1. Việc sinh viên ngành Sư phạm tốt nghiệp ra trường không tìm được việc làm rõ ràng không chỉ là việc của riêng ngành Sư phạm, của Trường Đại học An Giang nữa, mà là việc mang tầm vĩ mô của quản lý Nhà nước. Chính sách về nguồn nhân lực là một chính sách vĩ mô và có tính lâu dài của mỗi quốc gia, mà trực tiếp là mỗi địa phương. Vấn đề gia tăng dân số, gia tăng nguồn lao động, thậm chí nguồn lao động của mỗi lĩnh vực, mỗi chuyên ngành, luôn là những khâu quan trọng phải được tính kỹ trong bài toán kinh tế quốc gia và từng địa phương. Nếu có tầm nhìn dài hạn, có tính toán cẩn trọng, có dự báo đúng đắn, có biện pháp can thiệp để điều tiết thích đáng, thì vấn đề thất nghiệp của người lao động nói chung, của sinh viên Sư phạm nói riêng, sẽ được khống chế đến mức thấp nhất.

2.2. Về mặt quản lý xã hội, do chính sách quản lý nhân lực còn quá cứng nhắc, thiếu linh động và sát hợp với nhu cầu thực tiễn. Cán bộ giáo viên vào biên chế nhà nước xem như đã ổn định vị trí, không còn phải lo sợ mất việc làm nếu vẫn đảm bảo yêu cầu tối thiểu của công việc. Chính sách này vô hình trung, không phù hợp để thúc đẩy sự cạnh tranh công bằng, triệt tiêu động lực để phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên, tạo nên sức ỳ cho cả bộ máy giáo dục, không tạo điều kiện cho nhân tài phấn đấu vươn lên để đóng góp cho xã hội. Từ đó, khiến cho chất lượng giáo dục nhìn chung có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn rất ì ạch và tiếp tục phát sinh nhiều hạn chế.

Ngành giáo dục những năm trở lại đây đã có nhiều biện pháp giải quyết việc làm cho nguồn cung sinh viên tốt nghiệp dồi dào bằng cách gia tăng nhu cầu sử dụng nhân lực ở các cơ sở giáo dục. Chẳng hạn, hạn chế số học sinh trong một lớp để mở thêm lớp, thêm các vị trí quản lý thiết bị, quản lý thư viện, thêm cán bộ công tác đoàn đội, cán bộ văn phòng… trong các cơ sở giáo dục. Nhưng rõ ràng đây chỉ là giải pháp tạm thời, không thể tiếp tục giải quyết việc làm cho mỗi năm hàng ngàn sinh viên mới ra trường; việc làm này đồng thời cũng tạo gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước.

2.3. Nói về vấn đề bất cập giữa nguồn cung lao động quá dồi dào, trong khi nhu cầu việc làm chưa đáp ứng đủ, chắc chắn sẽ kéo theo một vấn đề liên đới khác chưa được làm tốt là việc hướng nghiệp. Hoạt động hướng nghiệp ở các trường phổ thông những năm gần đây đã được quan tâm nhiều hơn. Các trường phổ thông cũng đã tích cực hợp tác với trường đại học đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, tư vấn tuyển sinh. Đương nhiên, trường đại học nào cũng muốn chiêu sinh được càng nhiều học sinh khá giỏi, chiêu sinh đủ chỉ tiêu các chuyên ngành mà mình hiện có. Còn việc định hướng nghề nghiệp phải là một quá trình lâu dài, không phải một ngày một bữa, đòi hỏi các trường trung học phổ thông phải có nhiều nỗ lực hơn nữa. Trường phổ thông cần có nhân viên chuyên trách về tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giúp cho người học tìm ra con đường tương lai của mình và tiếp cận thông tin nghề nghiệp được thông suốt hơn. Nếu việc này làm tốt, rõ ràng chúng ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều hao phí thời gian và tiền bạn cho chính các em, gia đình và xã hội.

2.4. Một điều quan trọng và mang tính quyết định cho vấn đề giải quyết việc làm của sinh viên Khoa Sư phạm hiện nay chính là chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Theo quan sát cá nhân, chúng tôi thấy rằng chất lượng sinh viên tốt nghiệp càng về sau này có nhiều điểm vượt trội, đồng thời có nhiều điểm hạn chế hơn so với sinh viên tốt nghiệp các khóa đầu tiên. Điểm vượt trội chủ yếu thể hiện ở tính năng động, đầu óc thực tiễn, khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ thông tin, khả năng thu thập tư liệu và học hỏi cái mới. Còn điểm hạn chế chủ yếu thể hiện ở tính chăm chỉ cần cù, chiều sâu chuyên môn, năng lực tư duy độc lập gắn liền với chuyên ngành, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Dĩ nhiên, đây chỉ mới là những kết luận chủ quan, chưa phải là kết quả của việc khảo sát một cách khoa học và đầy đủ.

Trên đây chỉ là những so sánh trong nội bộ sinh viên các khóa trong Khoa, còn việc so sánh với bên ngoài chúng tôi nghĩ chưa đủ luận cứ để nói. Chỉ có thể khẳng định một điều rằng, so với Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hay Đại học Cần Thơ, những trường có mặt bằng đội ngũ giảng viên chất lượng cao hơn, quá trình đào tạo dài hơn, đầu tư cơ sở vật chất tốt hơn, định hướng phát triển mạnh hơn, chất lượng đầu vào tốt hơn… thì rõ ràng chất lượng sinh viên chúng ta đào tạo ra không thể tránh khỏi hạn chế hơn họ. Vì thế, khả năng chiếm ưu thế trong cạnh tranh khi tuyển dụng cũng yếu hơn họ.

2.5. Nguyên nhân trên dẫn đến một hệ quả là chúng ta thiếu những cá nhân có bản lĩnh, có khả năng bứt phá, tự tạo ra công việc cho mình bằng chính năng lực và sự năng động của mình. Chúng tôi nói “thiếu” chứ không phải là không có. Trên thực tế, nhiều cựu sinh viên của Khoa sau khi tốt nghiệp ra trường, không tìm được việc làm hoặc không muốn tìm việc làm trong các cơ quan nhà nước, họ đã mở trung tâm ngoại ngữ, trung tâm gia sư, trung tâm luyện thi… và bước đầu ăn nên làm ra, giúp giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người tốt nghiệp chưa có việc làm khác. Rõ ràng, tinh thần sáng nghiệp và bản lĩnh nắm bắt thị trường, đáp ứng nhu cầu cuộc sống đó của các bạn sinh viên cần được khích lệ và phát huy nhiều hơn.

2.6. Các phương tiện truyền thông ngày nay thường hay nhắc đến cụm từ “thừa thầy thiếu thợ” để nói về thực trạng nguồn lao động trong xã hội ta hiện nay. Chúng tôi nghĩ rằng câu nói này chưa đúng, có lẽ cần phải nói lại rằng, xã hội chúng ta đang “thiếu thầy giỏi, thiếu cả thợ giỏi”, còn cái “thừa thầy” mà truyền thông hay nói thực ra chính là “thừa bằng cấp”. Trong khi năng suất lao động nguồn nhân lực ở các nước lân cận đã được nâng lên rất nhiều thì năng suất lao động mà chúng ta đào tạo ra (cụ thể là sinh viên Sư phạm) không biết đã có được bao nhiêu phần cải thiện. Trong khi nguồn nhân lực các nước lân cận vận động cải tiến không ngừng để kéo theo sự thay đổi của cơ chế, của cơ sở vật chất; thì nguồn lao động của chúng ta lại có sức ỳ quá lớn, trông chờ sự thay đổi của cơ sở vật chất thì mình mới thay đổi cho phù hợp với nó. Nghĩa là chất lượng nguồn nhân lực của chúng ta còn quá thụ động và phụ thuộc vào tiềm lực bên ngoài quá nhiều.

2.7. Có ý kiến cho rằng, không nên quá chú trọng đến vấn đề việc làm, cái quan trọng là chúng ta đã đào tạo nên các thế hệ công dân mới có trình độ chuyên môn cao cho xã hội, góp phần nâng cao dân trí cho toàn xã hội. Cái được lớn nhất là dù họ “không thành công cũng thành nhân”. Ý kiến trên cũng có cái lý nhất định của nó nhìn từ góc độ vĩ mô của xã hội. Nhưng cũng phải thấy rằng, có bao nhiêu sinh viên và các bậc phụ huynh, trong hoàn cảnh sống còn nhiều bấp bênh này, cam tâm tình nguyện đánh đổi thật nhiều công sức để đổi lấy cái “thành nhân” thật xa vời đó?

3. Một vài gợi ý cải thiện tình hình:

Vấn đề giải quyết việc làm cho sinh viên tốt nghiệp, như trên đã nói, là vấn đề thuộc tầm vĩ mô của quản lý nhà nước. Trong phạm vi quản lý của Khoa Sư phạm, chúng tôi xin đề xuất một vài giải pháp mang tính tình thế để tạm thời góp phần giải quyết thực trạng này:

3.1. Không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo, nghĩa là nâng cao năng lực lao động của sinh viên ngành Sư phạm. Trước nay, hình như chúng ta quá đề cao đào tạo năng lực chuyên môn mà xem nhẹ việc trang bị các kĩ năng cần thiết cho một người bước vào môi trường lao động tập thể. Đó là các kỹ năng: kỹ năng diễn thuyết trước đám đông, kỹ năng phát hiện bất cập, kỹ năng tư duy độc lập và trình bày ý kiến trái chiều, kỹ năng làm việc độc lập và làm việc tập thể, kỹ năng tư duy và sáng tạo, kỹ năng làm chủ cảm xúc, kỹ năng tư duy tích cực và bao dung sự khác biệt…

Để làm được điều đó, bên cạnh việc tiếp tục đào tạo tốt hơn năng lực chuyên môn, cần quan tâm đến việc thường xuyên tạo môi trường cho việc giao lưu học thuật và ý tưởng. Sự năng động hay không của mỗi người xét cho cùng chính là sự năng động hay không của tư duy. Sinh viên giỏi là sinh viên có tư duy năng động tích cực, mà kiểu tư duy đó chỉ có được trong môi trường giao lưu tiếp xúc không ngừng nghỉ của các luồng tư duy. Cần tạo môi trường để sinh viên thể hiện mình và dần trưởng thành, có suy nghĩ độc lập và phát triển toàn diện kỹ năng, dĩ nhiên không phải bằng những cuộc thi vô thưởng vô phạt mà bằng những diễn đàn, những buổi tranh luận, tọa đàm, đối thoại, báo cáo chuyên đề… lý thú, hấp dẫn. Đừng lo ngại sinh viên mình nhát, dở, nói sai, không biết gì hết… mà chỉ lo ngại sinh viên mình không có cơ để hội để trưởng thành mà thôi.

3.2. Thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu hướng nghiệp, định hướng việc làm giữa sinh viên cũ và mới; giữa quản lý ngành giáo dục, lãnh đạo các cơ sở giáo dục với sinh viên; giữa những người tốt nghiệp đã tìm được việc làm trong các cơ quan, công ty, xí nghiệp với sinh viên đang học tại Khoa. Chẳng hạn, Bộ môn Ngữ văn có thể tổ chức tọa đàm giữa cựu sinh viên đang làm việc ở Đài Phát thanh Truyền hình, Hội Văn học Nghệ thuật, Bảo tàng Tỉnh, Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Thư viện Tỉnh… với sinh viên đang học tập tại Bộ môn để định hướng nghề nghiệp, gợi mở nhiều hướng đi cho tương lai của các bạn; Bộ môn Ngoại ngữ có thể mời cựu sinh viên làm hướng dẫn viên du lịch, dạy tự do ở các trung tâm ngoại ngữ, nhân viên phiên dịch cho các công ty nước ngoài… giao lưu với sinh viên đang học chuyên ngành mình…

Ngoài ra, Khoa và các Bộ môn cũng có thể mời lãnh đạo Sở Giáo dục, cán bộ phụ trách các môn chuyên ngành hoặc cán bộ quản lý nhân sự tọa đàm, đối thoại về vấn đề nhân lực của ngành giáo dục… Những hoạt động như thế này một mặt giúp người học mở mang hiểu biết về cuộc sống, hiện trạng của chuyên ngành mình đang học, vừa kịp thời gợi mở và góp phần định hướng tương lai cho người học.

3.3. Về phía sinh viên, các bạn cần sớm chủ động tìm ra một lối đi tương lai cho mình khi gặp hoàn cảnh khó khăn, cần tạo ra cho mình thật nhiều cơ hội lựa chọn và phương án, để khi không có việc làm như ý muốn, sinh viên có thể chọn bước thi theo một con đường khác. Dĩ nhiên, để có được càng nhiều cơ hội, các bạn sinh viên cần có sự chuẩn bị chu đáo từ sớm, không chỉ năng lực chuyên môn mà còn cần có năng lực ngoại ngữ, tin học… những thứ không thể thiếu trong môi trường lao động hiện đại; để khi những cơ hội có xuất hiện, các bạn biết mạnh dạn chớp lấy làm con đường tiến thân cho mình.

Nguyễn Thanh Phong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: