Vài suy nghĩ về việc an táng thủy quân nhà Nguyễn qua trường hợp Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư

DSC_0107

Nguyễn Thanh Phong

1. Dẫn nhập

Có lần đến tham quan Lăng Ba quan Thượng đẳng tại xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, chúng tôi không khỏi bất ngờ về hình dáng kỳ lạ của các ngôi mộ chôn trong vườn nhà Nguyễn Tộc. Ngoài các ngôi mộ khác xung quanh, được biết là của ông Nguyễn Văn Núi và bà Lê Thị Nhạc, thân phụ và thân mẫu của Nguyễn Văn Thư, cùng với mộ một ông thầy Huế là võ sư truyền dạy võ nghệ cho ba anh em, thì phần trung tâm của khu mộ địa là ba ngôi mộ đặc biệt của “Ba quan Thượng đẳng”. Vòng thành của khu lăng mộ cũng không có gì lạ, điểm đặc biệt là đây là ba ngôi “mộ gió”, tương truyền bên trong các ngôi mộ là các hình nhân đắp bằng sáp, được đưa về an táng tại quê nhà theo nghi thức an táng thủy quân nhà Nguyễn. Điều thú vị hơn là các ngôi mộ này không đắp nấm một cách bình thường mà được đắp nổi phù điêu của các loại thủy tộc: mộ Nguyễn Văn Thư nằm giữa đắp hình cá chép (lý ngư), mộ Nguyễn Văn Kinh bên phải (nhìn từ ngoài vào) đắp hình con rùa (kim quy) và mộ Nguyễn Văn Diện đắp hình con mực (mặc ngư). Điều này thật sự cuốn hút sự tò mò của chúng tôi.

Ghi chép về danh nhân Nguyễn Văn Thư, sách Đại Nam nhất thống chí có chép: “Nguyễn Văn Thư, người huyện Kiến Phong, khẳng khái có khí tiết. Lúc đầu chiêu mộ nghĩa dũng, theo Tôn Thất Hội đi đánh giặc, trải làm đến Hậu quân phó tướng, Khâm sai Chưởng cơ, theo đi đánh Thi Nại, bị đại bác của giặc bắn chết, được tặng Chưởng dinh liệt thờ ở miếu Trung hưng công thần”.[1] Ngoài ra, sách Đại Nam liệt truyện cũng có ghi: “Người huyện Kiến Phong trấn Định Tường. Năm Đinh Mùi ra đầu quân, chiêu mộ nghĩa dũng, theo Tiền quân Tôn Thất Hội đi đánh giặc; năm Kỷ Dậu cho chức Tổng nhung cai cơ giữ đạo Kiên Đồn, rồi thăng Chánh trưởng chi chi Tiền hậu quân, đem quân đóng ở Sao Châu phòng giữ phủ Ba Thắc. Năm Canh Tuất, thăng Phó tướng hậu quân, rồi chuyển làm Phó tướng tiền quân khâm sai tổng nhung cai cơ, coi thu thuế nhà nước ở hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc, bị tội phải giáng Cai đội. Mùa hạ năm Giáp Dần đánh giặc ở cửa biển Thi Nại, bị đạn bắn chết, được thờ ở đền Tinh trung trấn Khánh Hòa, sau được truy phục Phó tướng, gia tặng Chưởng doanh”.[2]

Viết về sự hy sinh của Nguyễn Văn Thư, trong tờ sắc truy phong tước hiệu của vua Gia Long cho Nguyễn Văn Thư ngày 20 tháng 9 năm Gia Long thứ 13 (24/10/1814) có chép: Quân giặc kết bè nổi như ong kiến, thủy binh xung lên đối mặt giặc, cung tên muôn trận chưa từng ngơi nghỉ, mà kiếm báu đã chìm nơi biển quế, một trận chiến đá tên oanh liệt, sớm xong nợ nước ơn vua, muôn dặm ba đào chìm lấp, xem cái chết nhẹ tựa hồng mao.”[3]

Trên đây là những ghi chép chính thống hiếm hoi còn sót lại liên quan đến sự hy sinh và việc an táng Nguyễn Văn Thư. Ngoài ra, trên trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia có nói rõ thêm: Tuy thắng trận, nhưng Võ Di Nguy, Nguyễn Văn Thư và hai em (khi ấy Nguyễn Văn Kinh là Chánh ngự quân, Nguyễn Văn Diện là Hậu ngự quân) đều thiệt mạng do trúng đạn đại bác của đối phương. Và trong cảnh hỗn loạn, thi hài của ông Thư, hai em và nhiều tướng sĩ khác, xem như đã được thủy táng tại cửa bể này… Tuy nhiên, mãi đến cuối đông năm Giáp Tuất (1814), một chiếc ghe bầu chở sứ giả của triều đình đến cù lao Giêng để báo hung tin và bàn bạc việc tổ chức lễ “du hồn” (đưa hồn về). Và ba hình nhân bằng sáp được làm từ kinh đô Huế, đều mặc võ phục thủy binh, có kích thước gần bằng người thật, tượng trưng thi hài của ông Thư và hai em, mới được mai táng tại quê nhà theo đúng quân cách.”[4]

Trong Lịch sử tóm tắt phủ thờ do ông Nguyễn Văn Cưu, miêu duệ thứ 9 của Thư Ngọc Hầu cung cấp, có ghi: “Các ông bị chết trong trận thủy chiến tại cửa biển Thị Nại. Theo thông lệ đều được thủy táng. Sau khi được sắc phong, triều đình cho làm lễ du hồn các ông về quê nhà nhưng thân xác được làm bằng sáp. Lăng mộ được xây bên cạnh mộ cha mẹ… Năm Kỷ Dậu (1969), nâng mặt bằng và chỉnh sửa khu lăng mộ Ba quan. Năm Quý Sửu (1973) trùng tu mới hoàn toàn khu lăng mộ”.

Có thể nói, những gì chúng ta biết về Nguyễn Văn Thư còn quá đại khái, sơ lược. Từ những dữ liệu có sẵn, có thể khẳng định phân đoạn hy sinh và an táng, cải táng anh em Nguyễn Văn Thư như sau: Nguyễn Văn Thư giữ chức phó tướng, lãnh đạo một đội thuyền, cùng hai em kéo ra cửa biển Thị Nại đối mặt nghênh chiến với thủy quân Tây Sơn. Trong lúc giao chiến, ba anh em ông bị trúng đạn đại bác (hoặc trúng tên) rồi chìm xuống đầm Thị Nại. Trận chiến kết thúc, quân đội đã tiến hành nghi thức thủy táng anh em ông cùng các tướng sĩ khác tại đây. Năm 1814, vua Gia Long ban sắc truy phong Nguyễn Văn Thư là Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng quân Thượng trụ quốc Khâm sai Chưởng doanh Thư Ngọc Hầu, sau đó cho tổ chức lễ du hồn và mang thi hài tượng trưng về quê nhà an táng.

Bài viết này dựa vào lễ tục an táng của người Việt, cùng với một số khía cạnh của chế độ an táng thủy quân nhà Nguyễn, từ đó tìm ra ý nghĩa của việc an táng, cải táng ba anh em Thư Ngọc Hầu, góp phần làm rõ những giá trị di sản quý giá còn sót lại của địa phương.

2. An táng tử sĩ nhà Nguyễn từ một số quan niệm tống táng của người Việt xưa

Nhà Nguyễn là triều đại có nhiều công lao phát triển kiện toàn hệ thống thủy quân, truyền thống này tiếp nối từ thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Người có vai trò quan trọng nhất trong số đó là hoàng đế Gia Long. Ông không chỉ là nhà hoạch định thủy chiến tài ba, kết hợp phương tiện thủy chiến hiện thời với thiết bị kỹ thuật thủy chiến tây phương để gia tăng khả năng tác chiến, mà thú vị hơn ông còn có lần đích thân chỉ huy chiến hạm ra trận.

Chính vì lẽ đó mà Gia Long rất quan tâm đến lực lượng thủy quân, có nhiều biện pháp khích lệ tinh thần tướng sĩ để ra công thu về giang sơn và giữ yên bờ cõi đất nước. Sau chiến thắng quyết định tại trận thủy chiến được mệnh danh là “trận Xích Bích” của Việt Nam năm 1801 tại đầm Thị Nại, quân Tây Sơn đại bại và liên tiếp dẫn đến nhiều thất bại khác tại chiến trường trên bộ. Nguyễn Ánh dù giành được thắng lợi nhưng ông rất đau lòng vì tổn thất của trận chiến cũng không nhỏ, quân nhà Nguyễn chết gần 4.000 người, trong đó có tướng Võ Di Nguy và ba anh em Thư Ngọc Hầu. Sau đó, một đại lễ thủy táng tập thể đã được lập ra theo nghi thức tống táng thủy quân nhà Nguyễn.

Việc tiến hành lễ táng vừa là cách xoa dịu tâm hồn người đã chết, cầu nguyện cho linh hồn của họ được nhẹ nhàng siêu thăng; vừa là cách thể hiện niềm tiếc thương vô hạn của triều đình đối với các sĩ tử đã ngã xuống; đồng thời cũng là cách để giáo dục lòng trung quân ái quốc, khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ đang tiếp tục chiến đấu.

Các loại nghi thức lễ táng thể hiện quan niệm khác nhau của cư dân từng vùng về sự sống và cái chết. Việc lựa chọn hình thức an táng cũng thể hiện niềm tin khác nhau về sự siêu thoát của linh hồn và đặc trưng địa lý văn hóa riêng của cư dân mỗi vùng. Các tộc người dân sinh sống vùng núi cao tuyết phủ quanh năm tin rằng thiên táng (để xác người ở những nơi cao ráo cho quạ và kênh kênh ăn) sẽ giúp con người dễ siêu thoát hơn; các dân tộc vùng bán sơn địa chọn hình thức mai táng (chôn thi hài người chết dưới lòng đất) sẽ khiến người ra đi nhẹ nhàng thanh thản hơn, không bị hành hạ đau đớn thể xác nữa; các dân tộc thờ lửa thì chọn hình thức hỏa táng (thiêu xác người chết ra tro) vì theo họ đó là cách để dễ đến gần với các đấng thần linh hơn; một số dân tộc sống nghề sông nước biển cả hoặc có sự sùng thượng vai trò của nước thì thủy táng là lựa chọn tối ưu. Đó là cách lý giải nghi thức an táng từ quan niệm nhận thức địa lý phong tục.

Còn đối với trường hợp anh em Nguyễn Văn Thư và các chiến sĩ chết trận thì thủy táng là lựa chọn phù hợp. Bởi lẽ, thứ nhất, xác của họ đã được chìm lấp xuống đầm Thị Nại sau trận chiến, đó là việc đã định không còn lựa chọn nào khác; thứ hai, đối với thủy binh thì hình thức tống táng phù hợp với họ nhất là thủy táng, vì theo quan niệm “sinh tử nhất như” (sống sao thác vậy) của người xưa, họ sống trong môi trường nào thì chết đi đó vẫn là môi trường sinh tồn của họ trong cõi vĩnh hằng, cụ thể ở đây đối với thủy binh là sông nước biển cả, quan niệm này rõ ràng tiếp cận từ góc độ nghề nghiệp; thứ ba, môi trường sông nước biển cả là nơi hiển chương rạng rỡ nhất công lao sự nghiệp của họ đối với đất nước nên thủy táng cũng là một cách vinh danh giá trị sinh tồn của họ.

Không chỉ tiếp nhận quan niệm nhà Phật vốn đã ăn sâu vào truyền thống văn hóa người Việt với những quan niệm nổi bật như: nhân quả báo ứng, luân hồi chuyển thế, linh hồn bất diệt…, mà tư tưởng Nho giáo thông qua con đường ý thức hệ thống trị của người cầm quyền cũng được thể hiện trong việc an táng.

Quan niệm thiên mệnh thần quyền cổ đại cho rằng đấng tối cao cai quản toàn thể tự nhiên vũ trụ và xã hội loài người là Trời (Thiên). Các tôn giáo hình tượng hóa Trời thành nhân vật có hình hài sức vóc là Thượng đế hoặc Ngọc Hoàng Thượng đế, là một “Ông” hay một “Bà” tối cao thiêng liêng cụ thể nào đó. Trời có ý chí, có tình cảm và luôn thi hành mệnh lệnh đối với mọi hoạt động của loài người. Các vị hoàng đế đều tự xưng mình là “Con trời” (Thiên tử), là bậc thánh siêu phàm, do Trời sai xuống thế gian để giúp Trời cai trị muôn dân. Vì vậy, bắt đầu mỗi văn bản hành chính thời phong kiến như chiếu, sắc, nhà vua thường dùng một câu “Đại thiên hành hóa, hoàng thượng nhược viết” (Thay trời thi hành việc giáo hóa, hoàng thượng có lời rằng), ý nói việc ban hành mệnh lệnh này là tiếp nhận sự ủy thác trách nhiệm từ Trời, tất cả phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh thiêng liêng này và không được cãi lại ý Trời. Các nhà Nho về sau đề cao học thuyết này để góp phần củng cố địa vị của người thống trị.

Vì thế cho nên, những người thuận theo mệnh Trời, trung hiếu tiết nghĩa với “Thiên tử” thì xứng đáng đứng vào hàng Thần, sau vua là “con Trời” đứng vào hàng Thánh. Khi đó, hoàng đế có quyền thay Trời phong Thần cho những người có công với nước, các bậc trung trinh tiết liệt đã hy sinh cho dân cho nước. Vì thế mà vào ngày 20 tháng 9 năm Gia Long thứ 13 (24/10/1814), vua Gia Long đã ban sắc truy phong cho Thư Ngọc Hầu, trong đó có đoạn sau: Nay ta xét lại tráng chí người thuở xưa, để vinh danh phong tặng làm Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng quân Thượng trụ quốc Khâm sai Chưởng doanh, thụy là Thư Ngọc Hầu, để dương danh uy dũng nơi tôn miếu, để ca ngợi tiết tháo trung thành suốt 21 năm của ông, làm rạng ngời chánh khí, hộ cho ta ngàn vạn năm nối truyền nghiệp lớn, ông có linh thiêng hãy về đây chứng giám ta ban sắc này”.[5] Trong tờ sắc, nhà vua đã đề cao sự “uy dũng”, “tinh trung”, “tiết tháo”, “chính khí” của ông, xứng đáng là bậc công thần của triều đình. Tờ sắc phong chính là sự công nhận công lao của Thư Ngọc Hầu đối với việc kiến lập triều đại nhà Nguyễn.

Tiếp theo việc ban sắc, nhà vua còn cho tiến hành lễ du hồn và đưa về an táng tại quê nhà. Sau 13 năm gửi thân nơi đầm Thị Nại, cuối cùng linh hồn của anh em Nguyễn Văn Thư, thông qua nghi thức du hồn của các thầy cúng, cũng theo cùng với các hình nhân giả bằng sáp được đưa về an táng trong những ngôi mộ gió (mộ giả) tại đất vườn nhà. Tạm không bàn đến hiệu quả tâm linh vốn rất mơ hồ của nó, chúng ta thấy rằng việc làm này không chỉ thể hiện sự đúng đắn, có lý có tình của điển chế nhà Nguyễn, mà còn thể hiện cao độ triết lý nhân văn hướng về nguồn cội của người Việt đương thời. Bởi lẽ, khi làm việc này, nó không chỉ an ủi cho “linh hồn” người đã mất được “phản bổn phục nguyên” (quay về nguồn cội) mà còn xoa dịu nỗi đau mất mát trong lòng những người đang sống.

3. Ý nghĩa ba nấm mộ trong Lăng Ba Quan Thượng Đẳng

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp trong cuốn Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư có chép như sau: Tiếng ‘lăng’ nhưng thật ra chỉ là nơi có ba ngôi mộ gần sát đất trong khuôn viên nhỏ đơn sơ. Ba ngôi mộ (gọi là ‘hư mộ’, vì an táng hình hài bằng sáp của ‘Ba quan’), từ ngoài nhìn vào, từ trái sang phải, các nấm mộ được đắp hình ‘mặc – lý – quy’. Mặc là con mực, lý là con cá lý (lý ngư) và quy là con rùa. Lý là nấm mộ Nguyễn Văn Thư – Thư Ngọc Hầu. Còn mặc và quy là hai người em cận vệ: con mực phun mực đen bảo vệ và con quy là áo giáp che chở Nguyễn Văn Thư.”[6]

Cũng đề cập đến vấn đề này, trên trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cũng có chép: “Khu mộ chôn các hình nhân tượng trưng: nằm giữa (Thư Ngọc Hầu) được đắp hình cá lý ngư, bên phải (Nguyễn Văn Kinh) được đắp hình con qui (kim qui), bên trái (Nguyễn Văn Diện) đắp hình cá mực (mặc ngư). Khu mộ không bi ký, thần chủ, nhưng thể hiện được một ẩn ngữ tinh tế: “mặc lý qui” tức về nơi yên tĩnh!” [7]

Quan sát tại khu lăng mộ, mọi thứ đều không có gì lạ, ngoại trừ việc đắp phù điêu nổi các loài thủy tộc trên từng nấm mộ. Chắc chắc việc đắp phù điêu này do con cháu về sau, khi trùng tu mộ tổ làm thêm, chứ không phải đã có từ khi vua ra lệnh tiến hành cải táng ở quê nhà. Bởi lẽ các phù điêu này được đắp bằng xi măng còn khá mới nằm trên các ngôi mộ như là nấm mộ. Nếu có từ thời xưa có lẽ chất liệu phải là gỗ hoặc là đá tảng điêu khắc nên.

Tại sao là phù điêu của 3 loài thủy tộc: cá chép (lý ngư), mực (mặc ngư), rùa (kim quy) mà không phải của những loài thủy tộc nào khác? Hai nguồn tư liệu dẫn phía trên cũng ít nhiều giải thích điều đó. Thế nhưng, có lẽ câu trả lời chính xác nhất phải do những người chủ trương đắp phù điêu đương thời giải thích ý tưởng. Ở đây, chúng tôi cũng mạo muội đưa ra những cách giải thích riêng để thấy rằng cách trang trí này có ý nghĩa nhân văn nhất định của nó.

Về mặt từ vựng, ba loài thủy tộc trên có cách viết chữ Hán là 墨 (mặc – con mực), 鯉 (lý – cá chép), 龜 (quy – con rùa). Nếu ghép âm Hán Việt của chúng lại, không bàn đến nghĩa gốc, thì có các cụm từ mang nghĩa sau đây:

– Quy mặc lý: trở về quê hương yên bình.

– Mặc quy lý: mặc nhiên phải về làng quê.

– Lý mặc quy: theo lý tất nhiên phải quay về.

– Mặc lý quy: mặc nhiên phải theo quy luật mà trở về.

Chọn một trong các cách giải thích, chúng ta đều thấy ý nghĩa thú vị. Thế nhưng ý nghĩa của nó không dừng lại ở đó. Cách giải thích của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp cũng là một cách lý giải thú vị. Ở đây, chúng tôi nghĩ rằng việc đắp phù điêu các loài thủy tộc ngoài ý nghĩa trang trí, còn thể hiện các nét ý nghĩa sau đây:

– Niềm tin về “linh hồn bất tử” (linh hồn không mất): thân xác của các ông làm thức ăn cho các loài thủy tộc, thì linh hồn của các ông cũng về với tự nhiên, kí thác ẩn tàng đâu đó trong các loài thủy tộc nơi mà các ông đã ngã xuống. Phù điêu thủy tộc là hiện thân của thân xác và linh hồn các ông.

– Niềm tin về “nhân vật tịnh tồn” (người vật cùng sống chung): các ông trở về với gia đình thủy tộc, thủy tộc là anh em bạn bè che chở cho thân thể các ông, canh giữ cho giấc ngủ ngàn thu của các ông, đồng thời cũng là các linh vật trấn giữ bình yên cho ngôi mộ các ông.

– Niềm tin về “thiên nhân hợp nhất” (thiên nhiên và con người thống nhất): con người tồn tại theo hướng không ngừng hài hòa với tự nhiên, tránh đối đầu với tự nhiên, mối quan hệ hài hòa đó sẽ khiến cho cuộc sống con người bền vững, an ổn hơn. Sự phối hợp giữa tượng người bằng sáp và các loài thủy tộc thể hiện ý niệm về sự hòa hợp đó.

4. Kết luận

Đã từng có thời gian, theo những lập trường nghiên cứu lịch sử nào đó, chúng ta không thừa nhận tính chính danh và vai trò tích cực của triều đình nhà Nguyễn. Từ đó, những danh thần có công với vương triều nhà Nguyễn, đặc biệt có công gây dựng ngai vị cho vua Gia Long, chưa được quan tâm chú ý. Cùng với sự diễn tiến của xã hội, khai mở của nhận thức, chúng ta đã đánh giá lại thỏa đáng hơn công lao của nhà Nguyễn đối với công cuộc xây dựng đất nước. Vậy thì, cũng cần có thái độ đánh giá hợp lý và đúng đắn hơn với các danh thần nhà Nguyễn.

Nguyễn Văn Thư là một trong số không nhiều danh thần địa phương được triều đình nhà Nguyễn đánh giá cao và ban sắc phong. Dù những đóng góp của anh em ông vẫn còn nằm trong những khuôn khổ nhất định, ở những phạm vi nhất định, nhưng những đóng góp của dòng tộc ông trong việc mở mang và xây dựng địa phương rất đáng ghi nhận.

Con cháu Nguyễn Tộc từ sớm đã có ý thức rất cao trong việc lưu giữ bảo tồn truyền thống gia đình, xây dựng nên nhà thờ tộc, nhà thờ sắc và khu lăng mộ vừa có giá trị nhận thức, vừa có giá trị thẩm mĩ cao. Do đó, việc đánh giá thỏa đáng công lao của Nguyễn Văn Thư, mở rộng ra là cả gia tộc ông, cùng với việc quan tâm bảo tồn, phát huy những giá trị văn vật còn lưu giữ lại, góp phần làm rõ bản sắc văn hóa của địa phương, là việc mà giới nghiên cứu sử học và chính quyền địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh.

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học (dịch và chú thích), Đại Nam nhất thống chí (tập 5) – Tỉnh Định Tường, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 135 – 136.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đỗ Mộng Khương (dịch và chú thích), Đại Nam liệt truyện (tập 2) – Chính biên, sơ tập, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2006.

[3] Nguyên văn: 賊勢連屯蜂蟻舟師當正面之衝彎弓未掛於扶桑寶劍遽沉於桂海矢石一場轟烈早酬馬革之心波濤萬頃汪洋輕視鴻毛之命 (tặc thế liên đồn phong nghị, chu đương chánh diện chi xung, loan cung vị quải ư phù tang, bảo kiếm cự trầm ư quế hải, thỉ thạch nhất trường oanh liệt, tảo thù cách chi tâm, ba đào vạn khoảnh uông dương, khinh thị hồng mao chi mệnh).

[4] Địa chỉ: https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A7u, ngày truy cập 30/11/2015.

[5] Nguyên văn: 追思壯志宜錫榮名可加增特進輔國上將軍上柱國欽差掌營書玉侯諡威勇於戲灼燿彝章用表爾二十一載精忠之節濯洋正氣默相予億千萬年洪業之傳緊爾潛馨服茲明命故敕(Truy tráng chí nghi tích, vinh danh khả gia tặng Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân thượng trụ quốc Khâm sai Chưởng doanh Thư Ngọc Hầu thụy, uy dũng ư chước diệu di chương, dụng biểu nhĩ nhị thập nhất tải tinh trung chi tiết, trạc dương chánh khí mặc tương ức thiên vạn niên hồng nghiệp chi truyền, khẩn nhĩ tiềm hinh phục minh mệnh cố sắc).

[6] Nguyễn Hữu Hiệp, Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư, Nhà xuất bản Văn nghệ An Giang, 1993.

[7] Địa chỉ: https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BA%A7u, ngày truy cập 30/11/2015.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: