Không cần thiết phải duy trì khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”

thlhhv-305

Đã qua rồi thời kỳ hô hào bằng khẩu hiệu, chúng ta cần thay đổi cách sống và hành xử văn minh trong thời đại thông tin đa chiều, đòi hỏi nhận thức và hành động thực tâm, thực chất.

Lễ trong truyền thống Nho giáo Trung Hoa

Khái niệm Lễ được tìm thấy sớm nhất trong các sách do Khổng Tử san định còn lưu lại đến nay. Thế nhưng trên thực tế, hành động mang tính lễ nghi gắn liền với tôn giáo tín ngưỡng có thể đã ra đời từ rất xa xưa, thời công xã nguyên thủy. Qua các đời Hạ, Thương, chắc chắn lễ nghi dần được hình thành, nhưng hiện tại không có tư liệu ghi chép cụ thể; đến đời Chu, Lễ được đặt ra một cách hệ thống và đầy đủ để duy trì trật tự trong quan hệ giữa đế vương và chư hầu, đại phu, khanh tướng; đồng thời, lễ nghi tôn giáo cũng được điển chế hóa trong các nghi thức thờ cúng nơi tông miếu.
Khổng Tử, sống trong bối cảnh xã hội Trung Quốc thời Chiến Quốc đầy loạn lạc, các thế lực phong kiến xưng hùng xưng bá, trật tự xã hội đảo lộn, đạo đức nhân luân không được đề cao, đã trăn trở để tìm ra một học thuyết cứu vãn tình thế nguy cấp. Thấy lễ nghi trong triều chính và tông miếu nhà Chu đã góp phần quan trọng vào việc ổn định trật tự xã hội của triều đại này trong suốt 400 năm đầu, Khổng Tử đã tích cực tiếp nhận và xây dựng lại theo quan niệm của mình thành học thuyết chính trị và học thuyết luân lý Nho giáo.
Lễ thời Chu mang nặng tính lễ nghi, nghi thức cao độ, nó phản ánh nhận thức về con người và tự nhiên còn khá đơn sơ của người cổ đại. Đó là thứ lễ mang đậm màu sắc thiên mệnh thần quyền, vạn vật hữu linh, tin tưởng tuyệt đối vào vu thuật thần bí. Theo kiểu, dân đen phải triều bái hoàng đế vì hoàng đế là “thiên tử” (con trời), được trời phái xuống dưới gầm trời này (thiên hạ) để trị vì muôn dân; dân đen cũng phải cung kính các bậc chư hầu, đại phu vì họ là các vị thần được trời sai xuống để phù trợ hoàng đế… Lễ thời này, vì vậy, là thứ lễ mang tính áp đặt cho người dưới quyền, người ta phục tùng một cách tự nhiên và thiếu ý thức.
Đến thời Khổng Tử, lễ dần mất đi màu sắc thần bí, trong khi màu sắc luân lý nhân sinh dần rõ rệt hơn mặc dù Khổng Tử vẫn xem trọng lễ nghi truyền thống. Ông đã xây dựng hệ thống giềng mối đạo đức “tam cương” (vua tôi, cha con, vợ chồng), “ngũ thường” (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), đề cao tu dưỡng đạo đức và hoàn thành trách nhiệm một cách “chính danh”. Công lớn nhất của Khổng Tử là lấy “đức” (theo quan niệm Nho giáo) làm thước đo giá trị của một con người, từ đó chia ra thứ bậc xã hội từ thấp lên cao là tiểu nhân – quân tử – thánh nhân.
Theo lý tưởng của ông, bậc đế vương là người hoàn thiện nhất về đạo đức nhân cách, là người đã sáng rõ cái đức sáng (minh minh đức), yêu thương và quan tâm cải thiện cuộc sống người dân (tân dân), đạt đến tận cùng cái thiện (chỉ ư chí thiện). Muốn được như vậy, bản thân hoàng đế phải học tập và nhận thức sự vật hiện tượng khách quan (cách vật), từ đó có sự hiểu biết rộng lớn (trí tri), luôn giữ sự thành kính (thành ý) và khiến tâm luôn tư duy đúng đắn (chính tâm), hoàn thành việc tu dưỡng bản thân (tu thân), quản lý tốt cuộc sống gia đình (tề gia), khi đó mới đủ sức quản lý đất nước (trị quốc), cuối cùng làm cho thiên hạ thái bình (bình thiên hạ). Chính trị theo quan niệm Nho giáo phải là đức trị. Theo đó, Lễ là cách để duy trì đạo đức.
Có thể thấy, Lễ theo quan niệm Khổng Tử mang ý nghĩa tích cực, thế nhưng rõ ràng nó mang tính lý tưởng hóa. Trên thực tế, trong quá trình chu du thuyết giáo ở các nước, các bậc đế vương dù rất trân trọng Khổng Tử nhưng chẳng ai dám áp dụng tư tưởng của ông đầu tiên, vì trong bối cảnh đối đầu khốc liệt bằng vũ lực thì đề cao đạo đức lễ nghĩa khác nào chấp nhận vong quốc. Tư tưởng Khổng Tử, vì vậy, lưu truyền trong nhóm nhỏ môn đệ của ông và dần truyền rộng trong dân gian.

Lễ trong xã hội Việt Nam ngày nay

Học thuyết Nho giáo của Khổng Tử sang đời Hán được “độc tôn” chọn làm ý thức hệ tư tưởng của đế chế phong kiến. Trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, hệ tư tưởng ấy đã được truyền sang Việt Nam. Chúng ta đã tiếp nhận những tinh hoa tư tưởng Nho giáo, đồng thời cũng tiếp nhận những hạn chế do lối học từ chương không thực chất của Nho giáo mang lại. Từ đời Đường, kinh điển Nho giáo được áp dụng rộng rãi vào khoa cử để tuyển chọn quan lại. Người ta học kinh điển không phải để bồi dưỡng đạo đức nhân cách ra làm quan nữa, mà một bộ phận Nho sinh trong đó, đã học nó với tâm thế mong cầu công danh phú quý, thậm chí không từ mọi thủ đoạn gian lận để được đỗ đạt. Chế độ khoa cử đó cũng được truyền sang Việt Nam kèm theo những hệ lụy tất yếu khó tránh khỏi.
Đến thời cận hiện đại, kinh tế tư bản phát triển, Nho học dần nhạt nhòa, xã hội theo mô hình Nho giáo dần rạn nứt, nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị thách thức. Trong một số trào lưu phục cổ, lễ nghĩa lại được đề cao như là cách để cứu vãn sự đi xuống của đạo đức nhân cách con người trong xã hội. Ngày nay, trong sự tương tác mật thiết với văn hóa – văn minh Âu Mĩ, nội hàm ý nghĩa của Lễ cũng được điều chỉnh cần thiết để vừa có thể phù hợp với đạo đức văn hóa dân tộc, vừa đảm bảo những nghĩa vụ và quyền hạn con người trong nhận thức chung của nhân loại.
Lễ là khái niệm quy định hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội. Theo đó, trong từng mối quan hệ khác nhau, lễ quy định con người phải có hành vi ứng xử khác nhau. Độ dao động trong nhận thức về Lễ phụ thuộc vào phong tục tập quán từng vùng miền, cụ thể hơn là nhận thức của từng người, từng gia đình.
Lễ trong khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” dùng để chỉ đạo đức và nhân cách làm người. Nếu có thể phân định rạch ròi đạo đức phẩm chất và tri thức khoa học, thì Lễ thuộc phạm vi đạo đức phẩm chất, Văn thuộc phạm vi tri thức khoa học. Cũng giống như cặp phạm trù Đức – Tài, Đức luôn được xem là nền tảng vững chắc của một con người, để từ đó con người phát huy tài năng của mình để cống hiến cho xã hội. Câu khẩu hiệu này, vẫn đúng như tinh thần Nho giáo, đề cao đạo đức như là cách duy trì trật tự ổn định của xã hội.
Thế nhưng, mọi nhà nước hiện đại đều phải xây dựng một nền pháp trị làm cơ sở cho các mối quan hệ xã hội. Đạo đức xã hội dựa trên lễ nghĩa được phát huy trên chính nền tảng đó, là kết quả của sự nhận thức khoa học kết hợp với sự thức tỉnh lương tri trong chính bản thân mỗi người. Thế nên, Lễ thời hiện đại mà chúng ta cần xây dựng không phải là thứ lễ phục tùng vô ý thức mà là thứ lễ được hình thành từ ý thức cao độ.

Tại sao phải treo khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”?

Trả lời câu hỏi này, hầu hết mọi người đều bảo rằng là để nhắc nhở thầy cô xem trọng việc dạy người hơn dạy kiến thức, xem trọng uốn nắn đạo đức nhân cách cho học trò hơn truyền thụ kiến thức; về phía học trò, biết giữ gìn lễ độ phép tắc với thầy cô ở nhà trường, biết cách đối xử chuẩn mực với người thân trong gia đình và mọi người ngoài xã hội.
Vậy xin hỏi, chúng ta đã treo khẩu hiệu ấy mấy chục năm qua, thế nhưng đạo đức nhân cách của giáo viên lẫn học sinh chúng ta đã tốt lên hay ngày càng diễn biến đáng lo ngại? Các nước và vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo giống Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore có treo khẩu hiệu đó đâu nhưng đạo đức và nhân cách công dân của họ luôn đáng để chúng ta học tập? Các nước phương Tây có truyền thống tư tưởng lễ nghĩa gì như chúng ta đâu mà trong ứng xử và hành vi luôn văn minh lịch sự? Vậy phải chăng chúng ta đang thiếu một điều gì quan trọng hơn việc treo một khẩu hiệu?
Vì sao chúng ta lại đánh đồng việc treo một khẩu hiệu với việc chắc chắc khẩu hiện đó thành hiện thực? Trong xã hội có rất nhiều khẩu hiệu, nhưng có bao nhiêu khẩu hiệu chúng ta đã thực hiện được? Tại sao lại đánh đồng những người chủ trương không treo khẩu hiệu với người phá bỏ tư duy truyền thống đã trở thành một chân lý? Nhà trường treo khẩu hiệu như thế, nhưng các giáo viên trong trường đã đối xử với đồng nghiệp và với học sinh tử tế chưa? Trường treo khẩu hiệu kêu gọi xem trọng dạy người, nhưng trên thực tế chúng ta có làm đúng như vậy không, hay chỉ cố nhồi nhét kiến thức vào đầu các em?

Không cần thiết phải duy trì khẩu hiệu

Rõ ràng, khẩu hiệu chỉ là hình thức. Một khẩu hiệu sẽ không hơn không kém một mảnh vải có dán chữ, nếu như chúng chỉ được nêu ra mà không thành tâm thực hiện. Người ta nhìn rồi cũng để trôi tuột qua trong vô số những khẩu hiệu khác, nếu không được tác động mạnh mẽ thành nhận thức, từ đó chuyển biến thành thái độ ứng xử và biểu hiện ra ngoài thành hành động. Một nơi không treo khẩu hiệu này, nhưng nếu thực tâm biến tư tưởng này thành hành động giáo dục cụ thể, chắc chắn sẽ tốt hơn một nơi treo quanh năm mà không thay đổi gì trong thực tế giáo dục.
Chắc chắn, những người đồng ý hay không đồng ý với việc treo khẩu hiệu đều thống nhất với nhau rằng, nhà trường ngày nay cần chú trọng dạy người, dạy đạo đức nhân cách cho học sinh bên cạnh dạy kiến thức văn hóa xã hội. Treo hay không lúc này cũng không quan trọng, quan trọng là chúng ta đã nhận thức triết lý này như thế nào, biến nó thành hành động giáo dục thực tiễn ra sao?
Một khẩu hiệu, có thể mang lại tác dụng gì, nếu các thầy cô không phải là những tấm gương đạo đức và nhân cách trước mắt học trò, cha mẹ các em không yêu thương quan tâm con cái, xã hội không quan tâm vun đắp cho những mầm xanh của đất nước? Nói rộng ra, sự hình thành đạo đức nhân cách một con người phải dựa trên phạm vi rộng lớn hơn là bầu không khí văn hóa, đạo đức xã hội, chứ không chỉ dựa vào một khẩu hiệu.
Đã qua rồi thời kỳ hô hào bằng khẩu hiệu, chúng ta cần thay đổi cách sống và hành xử văn minh trong thời đại thông tin đa chiều, đòi hỏi nhận thức và hành động thực tâm, thực chất.

Thanh Phong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: