Truyền thống đạo Nho có làm cho Việt Nam “nghèo mãi” không?

nho-giao-1

Trong bài viết Nghèo vì thói quen thụ động đăng trên Vietnamnet ngày 20.10.2016, tác giả Minh Phước có viết: Một nguyên nhân nữa khiến cho người Việt ‘nghèo mãi’ là văn hóa cổ truyền thống nước mình gắn liền xuyên suốt với đạo Nho, mà đạo Nho là đặt việc buôn bán làm hàng thứ yếu, không được coi trọng – ‘nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương’”. Trên thực tế, truyền thống đạo Nho có làm cho người dân Việt Nam “nghèo mãi” như tác giả Minh Phước nói hay không? Bài viết xin đi sâu phân tích để làm rõ quan điểm này.

Người giữ đúng tinh thần đạo Nho thường là những người giàu có

Quan sát nền kinh tế của các quốc gia chịu ảnh hưởng tinh thần đạo Nho trong khu vực, có thể khẳng định ngay một điều rằng, Việt Nam là nghèo nhất và đúng là “nghèo mãi”, trong khi các nền kinh tế khác đã hóa rồng hóa hổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan; và gần đây là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.

Chúng ta cũng từng chứng kiến làn sóng di dân người Hoa và người Nhật thời cuối Minh đầu Thanh sang Việt Nam thông thương mậu dịch ở các hải cảng lớn như Thăng Long, Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An, Cù lao Phố, Gia Định, Hà Tiên… Thời điểm đó, họ là những đầu mối giao thương quan trọng trong khu vực, nắm giữ tiềm lực kinh tế lớn có sức chi phối không nhỏ đến thị trường đương thời.

Chúng ta cũng không khó để nhận ra vai trò của các hộ tiểu thương người Hoa tại các đô thị lớn nhỏ khác nhau khắp cả nước. Họ luôn là những người làm ăn giỏi, uy tín và bền bĩ, có đời sống kinh tế tương đối ổn định và khá giả.

Nhiều người dân Việt Nam chịu ảnh hưởng truyền thống đạo đức lễ giáo của gia đình cũng trở thành những người thành đạt, những doanh nhân lớn có sức ảnh hưởng.

Hiện nay, làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài đang ồ ạt chảy vào Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ vùng văn hóa Nho giáo khu vực Châu Á. Họ đầu tư góp phần phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm ở nước ta, đồng thời thu được nhiều lợi nhuận làm giàu thêm cho bản thân, gia đình và đất nước mình.

Có thể khẳng định một điều rằng, nhiều nền kinh tế chịu ảnh hưởng tinh thần đạo Nho đã bứt phá mạnh mẽ trở nên thịnh vượng, nhiều doanh nghiệp giữ đúng tinh thần đạo Nho đã vươn lên làm giàu, những người giữ đạo đức kinh doanh theo tinh thần đạo Nho cũng thường là những người giàu có, khá giả.

Trong khi nhiều kinh tế gia trên thế giới, trong đó có cả Max Weber, ca ngợi sự trỗi dậy của các nền kinh tế châu Á và tác động của truyền thống đạo Nho đối với các doanh nghiệp thành đạt trong khu vực; thì nhiều người chúng ta vẫn quen với một quan niệm khá cũ kĩ là tư tưởng đạo Nho khiến người ta thụ động, kềm hãm sự phát triển kinh tế.

Vấn đề đặt ra là, có phải đạo Nho cản trở sự phát triển kinh tế xã hội hay không? Hay đạo Nho ở Việt Nam tồn tại những vấn đề gì, tác động gì đến cá tính người Việt, khiến chúng ta thụ động, chịu đựng, ít sáng tạo và đổi mới để đạt đến sự phát triển?

Đạo Nho và đạo Nho ở Việt Nam với sự phát triển kinh tế

Đạo Nho ra đời ở Trung Quốc cách nay khoảng 25 thế kỉ, đến đầu công nguyên lan truyền sang các nước trong khu vực theo những con đường khác nhau, tạo nên sự ảnh hưởng khác nhau. Ở mỗi nơi, đạo Nho được dung dưỡng trong các môi trường văn hóa khác biệt, nên cũng phát triển theo những hướng khác biệt, không ai giống ai.

Đạo Nho thời Khổng – Mạnh đề cao tu dưỡng đạo đức con người, rồi vận dụng chúng vào thực tế để cải tạo xã hội, mang lại cuộc sống thái bình thịnh trị. Đến đời Hán, Nho giáo bị thần quyền hóa và chính trị hóa nên dần bị xơ cứng, mang tính áp đặt cao, đòi hỏi con người thần phục. Thời Tùy – Đường, triều đình mở khoa cử tuyển chọn nhân tài ra làm quan, họ quan niệm nhân tài là người thông hiểu kinh điển và tinh thần trị nước đạo Nho, nên qui định “công thương bất đắc nhập sĩ” (người làm lĩnh vực công thương không được ra làm quan) (Thông điển). Đến đời Tống, triều đình mở ra cơ hội làm quan cho các thương nhân kì tài, có năng lực đầu óc hơn người: “Nếu trong giới công thương có người tài giỏi xuất chúng, thì cũng được phép ra làm quan” (Tống hội yếu tập cảo). Nên từ Tống, Nguyên, Minh, thương mại được đề cao, kinh tế có sự phát triển vượt bậc. Sang thời Thanh, khoa cử lại được xem trọng, thương nghiệp lại bị hạn chế.

Có thể thấy, đạo Nho vốn không thuần nhất và luôn thay đổi, tư tưởng kinh tế của đạo Nho cũng được nhà cầm quyền lí giải và áp dụng không giống nhau qua từng thời đại. Mệnh đề “nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương” chắc chắn ra đời dưới chế độ khoa cử phong kiến, khi vai trò của nhà Nho được đề cao, và chắc chắc cũng không phải là một định đề bất biến.

Việt Nam tiếp thu Hán Nho trong suốt ngàn năm Bắc thuộc, kết hợp với đặc trưng văn hóa âm tính, trọng kinh nghiệm, ngại sự biến đổi, nên lâu dài hình thành thói quen thụ động tiếp nhận, phục tùng, ít chủ động tư duy đổi mới, sáng tạo để thay đổi hiện trạng cuộc sống. Ngoài ra, do mô phỏng chế độ khoa cử đời Đường, tiếp thu hạn chế tinh thần cải cách thời Tống, nên khoa cử Việt Nam vẫn quen với quan niệm “trọng sĩ, ức thương” truyền thống. Dù vậy, cũng có những thời đại vua chúa Việt Nam xem trọng thông thương mậu dịch với nước ngoài như thời các chúa Nguyễn, vua Minh Mạng…

Thế nên, nếu quy trách nhiệm cho một vài tác nhân nào đó cản trở sự phát triển thương mại ở Việt Nam trong quá khứ, thì đó là sự mô phỏng máy móc những mặt trái của việc áp dụng tinh thần đạo Nho, đồng thời cũng do sự thiếu vắng ý thức phản tỉnh, quan sát và đổi mới linh hoạt trong nhận thức, tư duy người Việt.

Vận dụng mặt mạnh của Nho giáo để phát triển kinh tế

Chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đạo đức làm người mà đạo Nho mang lại, càng không thể phủ nhận tác động của chúng đến việc hình thành văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp các nước trong khu vực. Những phạm trù đạo đức Nho giáo như nhân, nghĩa, trí, tín, trung, cần, kiệm… được xem là những chuẩn mực đạo đức của người lao động sản xuất nói chung và giới kinh doanh nói riêng.

Nếu các doanh nghiệp trong nước chỉ chú trọng đến lợi ích vật chất trước mắt, chỉ quan tâm đến lợi nhuận thực thu, mà không chú trọng xây dựng phẩm chất người lao động, văn hóa sản xuất và kinh doanh, thì doanh nghiệp khó mà lớn mạnh một cách bền vững.

Nhiều nước Châu Á cũng chịu ảnh hưởng đạo Nho như Việt Nam, nhờ biết chọn lọc học tập những cái hay, cái tiến bộ để áp dụng vào sản xuất kinh doanh, không ngừng tư duy sáng tạo để linh hoạt thay đổi, đáp ứng nhu cầu cuộc sống, đã vươn lên giàu có, thịnh vượng.

Còn Việt Nam, trước tiên cần hiểu rõ truyền thống của mình, khắc phục những hạn chế đã tồn tại, xây dựng đồng bộ đời sống kinh tế vật chất lẫn đạo đức tinh thần trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế thương mại. Điều cần nhất là rèn luyện đầu óc chủ động, linh hoạt, không chấp nhận bất cập, cải cách không ngừng để phát triển.

Thanh Phong

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: